Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2018

Bón phân cho dâu tây

Bón phân cho dâu tây

Cây dâu tây đòi hỏi dinh dưỡng nay đủ và cân đối. Ngoài NPK, cần quan tâm đến nhóm trung lượng, vi lượng vì nó quyết định quan trọng đến chất lượng và khả năng kháng bệnh của cây dâu.


Thâm canh cây dâu đòi hỏi phải bón phân đầy đủ phân hữu cơ để bảo đảm lượng mùn trong đất cao (8% - 10%).

Phân hữu cơ sử dụng cho cây dâu cần phải ủ nóng và xử lý thuốc nấm bệnh và đạt yêu cầu hoai mục trước khi sử dụng để tránh lây lan nguồn sâu bệnh và cỏ dại.

Bón phân đạm cho cây dâu cần chú ý đến màu sắc của lá thời kỳ, tốc độ sinh trưởng phát dục để điều chỉnh liều lượng tăng hay giảm thích hợp.

Phân lân ảnh hưởng đến khả năng ra hoa, đậu trái, phát triển hệ rễ và ra ngó (mạ) của cây dâu.

Phân Kali quyết định về năng suất, trọng lượng độ cứng, chất lượng trái. Khả năng kháng bệnh của cây dâu và tăng cường quang hợp trong điều kiện thiếu ánh sáng trong vụ hè thu, nhất là canh tác trong nhà nilông (cây dâu yêu cầu ánh sáng dồi dào).

Canxi, Bo, Magiê ảnh hưởng quang trọng đến chất lượng trái. Canxi còn tạo điều kiện cho sự hấp thụ dinh dưỡng được điều hòa vả hạn che một số bệnh sinh lý trên trái.

Bo ảnh hưởng đến khả năng phân hóa mầm hoa, đậu hoa, chất lượng và kể cả độ cứng của trái.

Lượng phân đề nghị bón cho cây dâu 1.000 m2 (bình quân) trong năm thứ nhất (kiến thiết cơ bản và định hình).

• Bón vôi 2 đợt/năm:

- Đợt 1: Bón lót 100 kg.

- Đợt 2: 06 tháng sau khi trồng bón bổ sung 50 kg.

• Lượng phân định kỳ bón năm thứ nhất là 10 lần/năm, nếu 02 tháng bón 01 lần thì sử dụng lượng gấp đôi. Nếu sử dụng phân đơn thì mỗi đợt bón phân định kỳ có thể bón 10 kg ure, 08 kg kali sunphat và 06 kg supper lân, thay phân hỗn hợp. Sử dụng Acid Boric và MgSO4 phun xịt định kỳ qua lá.

• Chu kỳ kinh doanh của cây dâu thu hoạch trái kéo dài đến 02 năm hay hơn. Nếu dâu tây trên 01 năm tuổi chức năng sinh lý của rễ kém ảnh hưởng đến hấp thụ dưỡng liệu, do đó nên bổ sung phân qua lá. Đa dạng: đa vi lượng, đa trung lượng định kỳ 10 - 15 ngày xịt 01 lần.

• Bón phân cho dâu theo nguyên tắc bón ít nhưng bón nhiều lần trong năm. Lượng phân theo khuyến cáo như trên đối với bón định kỳ có thể tăng hay giảm tùy thuộc vào sức sinh trưởng, phát dục, giai đoạn bội thu, chu kỳ ra trái của cây dâu.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh trà

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh trà

Cây thanh trà dễ trồng, ít nhiễm sâu bệnh hại, chịu hạn rất tốt, các giống thanh trà thương mại có nguồn gốc ở Thái Lan, Mỹ hầu hết đều có dạng quả dài, mùi vị thơm ngon, thịt trái có nhiều chất bổ dưỡng, màu sắc và mẫu mã trái đẹp nên rất hấp dẫn người tiêu dùng.


Cây Thanh Trà có tên khoa học Bouea gandaria Blume hay Bouea macrophylla Griff., thuộc họ Anacardiaceae, bộ Sapindales tên tiếng anh Marian plum, Gandaria, Marian mango hay Plum mango, là cây ăn trái nhiệt đới có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam Á. Ở Thái Lan, trái Thanh Trà được người tiêu dùng rất ưa chuộng, diện tích trồng Thanh Trà ở Thái tăng nhanh từ năm 1998. Năm 2001, chính phủ Thái bắt đầu xúc tiến quảng bá xuất khẩu loại trái cây này. Hiện nay, thanh trà Thái được xuất khẩu sang nhiều nước ở châu âu và được bày bán hầu hết trong các siêu thị ở Anh Quốc.

Cây thanh trà dễ trồng, ít nhiễm sâu bệnh hại, chịu hạn rất tốt, các giống thanh trà thương mại có nguồn gốc ở Thái Lan, Mỹ hầu hết đều có dạng quả dài, mùi vị thơm ngon, thịt trái có nhiều chất bổ dưỡng, màu sắc và mẫu mã trái đẹp nên rất hấp dẫn người tiêu dùng. Ở nước ta mùa thu hoạch trái thanh trà sớm hơn so với nhiều loại trái cây khác nên trái dễ bán được giá cao.

Thanh Trà ra hoa 2 đợt cách nhau khoảng 1 tháng, thời gian thu hoạch quả kéo dài từ giữa tháng 12 đến tháng 2 âm lịch. Theo tác giả (Chairuangyod, 1996) thanh trà là loại trái cây có nhiều tìm năng trong tương lai và là một trong những loại trái cây mang lại nguồn thu nhập cao nhất cho nhà vườn ở Thái.

KỸ THUẬT TRỒNG


- Đất trồng: Cây thanh trà thích nghi rộng nên có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như: đất đỏ bazan, đất thịt, thịt pha cát, đất phù sa Đồng Bằng Sông Cửu Long,…

- Khoảng cách trồng: Khoảng cách trồng thích hợp trên đất có độ phì thấp là: 7m x 7m (200 cây/ha), 8m x 8m (156 cây/ha) Đối với nền đất có độ phì cao trồng với khoảng cách thưa hơn 9m x 9m (123 cây/ha).

- Chuẩn bị hố trồng: Hố trồng đào 50 cm x 50 cm x 50 cm, khi đào hố nên để riêng lớp đất trên mặt ra một bên và đất ở lớp phía dưới ra một bên, bón lót mỗi hố 10-12 kg phân chuồng đã ủ hoai, 150-250 g Super lân, trộn đều với lớp đất mặt xung quanh, trộn thêm với 50 g Basudin 10H và 0,5 kg vôi để phòng trừ mối kiến và nâng cao độ pH đất. Ngoài vật liệu bón lót trên không nên dùng phân hữu cơ chưa hoai hay tro bếp bón lót dễ gây thối rễ và làm mặn đất.

- Trồng cây

Dùng tay móc một lỗ nhỏ giữa hố trồng sâu hơn chiều cao túi đựng thanh trà khoảng 2-3 cm, kích thước to hơn bầu cây đôi chút, để túi cây trên mặt đất, dùng dao sắc rạch một đường xung quanh túi nilon, cách đáy 2-3 cm, bóc lấy đáy túi ra. Xem xét bộ rễ, cắt bỏ tất cả các phần rễ cái, rễ con ăn ra khỏi bầu đất, sau đó đặt vào hố trồng, lấp đất và rút bọc nilon ra. Dùng tay lấp và ém chặc lớp đất xung quanh để cố định gốc cây con không bị gió lay, chú ý đặt cây vào hố trồng sao cho sau khi trồng cổ rể ngang bằng với nền đất xung quanh, không trồng âm hay lấp phần thân cây. Sau khi trồng cần làm bồn đường kính khoảng 1 m để nước tưới không chảy ra ngoài.

Trồng xong lấy cọc cắm, buộc thân cây vào cọc tránh gió lay gốc, nên buộc lỏng bằng dây nilon. Nếu trồng vào mùa mưa thanh trà không cần che mát như sầu riêng hay măng cụt.

CHĂM SÓC

- Tưới nước: Tưới nước ngay sau khi trồng, trồng vào đầu hay giữa mùa mưa sẽ đỡ công tưới. Nếu trồng trong mùa khô phải tưới nước ít nhất 1 tháng đầu, nên tưới bằng vòi phun với lượng nước tưới vừa đủ.

- Cắt tỉa cành: Thanh Trà là loại cây đa thân, cây tự phân nhánh rất đều do đó việc cắt tỉa cành, tạo tán trong thời kỳ kiến thiết bơ bản đơn giản hơn so với các cây khác. Định kỳ 2-3 tháng dùng kéo tỉa bỏ bớt các cành mọc rậm rạp, tạo cho cây có bộ tán cân đối. Khi cây đã cho trái sau mùa thu hoạch, cắt tỉa bớt các nơi có mật độ cành mọc dày, tạo cho tán cây thông thoáng cây sẽ cho năng suất cao ở vụ kế tiếp.

- Bón phân: Hàng năm vào đầu mùa mưa bón mỗi gốc 15-25 kg phân chuồng hoai/gốc, mục đích bổ sung thêm các chất dinh dưỡng vi lượng, độ mùn, tăng độ phì và tăng khả năng giữ của đất trong mùa khô. Bón bằng cách rãi đều lên mặc đất xung quanh mặc bồn.

Phân hóa học:

Năm thứ 1: Sau khi trồng 20 ngày bón phân NPK(15-15-15) hay NPK(16-16-8) 100-150g/gốc, bón bằng cách rải đều trên mặc đất xung quanh tán, tạo điều kiện cho rễ cây trồng hấp thu dinh dưỡng hiệu quả nhất, sau khi bón dùng cào cỏ cào nhẹ lớp đất mặc để phân dễ thấm sâu, sau đó phủ lên một lớp đất mỏng. Có thể pha loãng phân với nước tưới hiệu quả sẽ cao hơn. Sau đó định kỳ 3-4 tháng bón 1 lần, mỗi lần 100 - 200g/gốc kết hợp phun thêm phân bón lá để bổ sung thêm dinh dưỡng cho cây.

Năm thứ 2: dùng phân NPK trên bón liều lượng 0,5-1 kg, chia làm 2 lần bón (đầu và cuối mùa mưa).

Năm thứ 3 và thứ 4: cây bắt đầu cho trái bón mỗi gốc 1,5-3 kg chia làm 3 lần bón: lần 1 sau thu hoạch, lần 2 trước ra hoa, ở lần bón phân 2 có thể trộn thêm 0,5 kg phân lân nung chảy nhằm bổ sung thêm lân, canxi, megiê và một số nguyên tố trung vi lượng khác cho cây, lần 3 bón sau khi trái đậu 1 tháng. Khi cây cho trái ổn định mỗi năm bón 3-4 kg NPK, cộng thêm mỗi gốc 0,5-1 kg phân kali (K2SO4), phân kali sulphat bón trước thu hoạch khoảng 20 ngày bằng cách rãi đầu khắp mặt bồn sau đó tưới nước 2-3 lần để phân thấm sâu sẽ làm tăng đáng kể độ ngọt và màu màu sắt thịt quả.

Thu hoạch quả:

Cây thanh trà ghép cho trái sau 3-4 năm trồng, cây ≥ 7 năm tuổi cho năng suất 120-200 kg/cây. Trái thanh trà khi chín có thể neo trên cây 12-15 ngày. Dùng dụng cụ thang, kéo cắt trái và túi lưới để thu hoạch quả, hạn chế trèo lên cây vì dễ làm giãn, gãy cành sẽ ảnh hưởng đến năng suất vụ sau. Khi cắt trái nên chừa 1-3 lá ở cuốn trái, trái sẽ tươi lâu và dễ bán. Sau khi hái nên phân loại những trái có cùng kích thước và độ chín. Sau khi phân loại, trái được cho vào thùng xốp, mỗi thùng 20-25 kg để chuyển đến các khách hàng và đại lý tiêu thụ.
Kính Chúc Quí Khách, Bà Con Làm Vườn Thành Công

Thanh trà giải nhiệt

Thanh trà giải nhiệt

TT - Nắng như xối lửa. Vậy mà khi nhìn thấy hai bên đường lủng lẳng những chùm trái vàng cam, ai cũng nghe lòng mình dịu mát.


Điều kỳ diệu đó diễn ra tại dốc cầu Cần Thơ (bờ Bình Minh), trên quốc lộ 54 từ Bình Minh đến Trà Ôn (cùng tỉnh Vĩnh Long), nhiều nhất là đoạn qua địa phận Đông Thành, Bình Minh.

Từ kiểng thành thương phẩm

Hình như nó bắt mọi người dừng xe lại, mua một vài ký đem về nhà giải nhiệt. Đó là loại trái cây tròn nhỏ cỡ ngón chân cái, vỏ màu vàng cam, mỏng cơm, hột lớn, giống xoài nên người ta gọi xoài hột. Muốn thưởng thức nó phải mút, còn gọi xoài mút. Nhưng mút không ngon. Muốn ngon, vò mềm, chấm muối ớt để vị mặn của muối, vị cay của ớt trung hòa vị chua của trái thành mùi vị tổng hợp dễ nuốt.

Đó là chuyện ngày xưa, khi xoài mút mới xuất hiện tại vùng quê này vào những năm 1950. Khi theo học chữ Nho với ông Cả Rạch Vồn (Cái Vồn, Bình Minh), ông Huỳnh Văn Sung thấy nhà thầy có cây đại thụ cho những trái màu vàng đẹp mắt bèn xin hột về trồng làm... kiểng. Cây cho trái chiến, khách thương hồ ngang qua thấy “ngộ”, hỏi ăn thử, bị vị chua lạ miệng giải ngay cơn khát mùa nóng nực hớp hồn, họ ra giá mua về đất Sài thành phổ biến, kinh doanh. Từ đó, nhà ông Huỳnh Văn Sung (ấp Đông Hưng 2, xã Đông Thành) được coi là “thủy tổ” của loại trái cây này. Đến nay, con ông là ông Huỳnh Văn Vẹn (Sáu Vẹn) còn bảy cây tổ, gốc cả ôm, năng suất 1,5 tấn/mùa. Và loại trái này nhanh chóng được nhân rộng khắp địa phương với tên gọi thanh trà.

Mùi vị độc đáo

Thanh trà cho trái ba đợt: tháng 9 âm lịch, lá già, trổ bông, xuống nhụy. Trái ra đợt đầu từ rằm tháng giêng âm lịch. Sau đó, thanh trà cho thu hoạch liên tiếp hai đợt nữa. Xưa kia thanh trà chỉ có một loại trái chua. Bây giờ nông dân biết tưới phân lạnh (urê) để thanh trà cho trái lớn, và bón phân kali để trái có vị chua ít ngọt nhiều hoặc ngọt hoàn toàn. Thanh trà là cây siêu lợi nhuận, phân ít, chăm sóc ít, thu hoạch cao. Để thanh trà ra trễ vụ, bán giá cao, người ta cầm nước, xịt đọt là có trái theo ý muốn.

Trái thanh trà xanh giúp nồi canh chua cá có mùi vị độc đáo, hạ nhiệt tức thì trong ngày oi nóng. Cũng ngon và giải khát như vậy, người ta đặt trái chín vàng trong lòng tay, vò mềm, chấm muối ớt, ăn sẽ thấy vị ngọt điểm xuyết chút chua, hòa chút mặn của muối và vị ớt cay nồng, tạo cảm giác lâng lâng. Nhưng vào mùa viêm nhiệt, thưởng thức ly nước đá thanh trà mới là tuyệt chiêu làm dịu cái nắng nổ đom đóm mắt. Cho thanh trà vào ly, dằn mấy hột muối, đường, chút nước lạnh, giằm đều rồi cho nước đá đập nhuyễn vào. Bấy giờ dùng muỗng quậy tan đá là đã có thức uống mát lạnh thoang thoảng thơm hương đất trời hoang dã.

Mùa thanh trà chỉ trong ba tháng, nên từ vài năm nay người Đông Bình đã nghĩ đến việc “giữ” thanh trà dùng trong những tháng còn lại của năm bằng cách làm mứt. Thanh trà gọt vỏ, chà bỏ hột, cứ 1kg cơm thì sên 1kg đường cát, để nguội, cho vô keo, khi dùng múc ra pha nước lạnh và nước đá hoặc phết bánh mì ăn sáng cũng tuyệt cú mèo.

Uống nước thanh trà làm cơ thể mát dịu

Cây thanh trà thuộc họ xoài, có nguồn gốc từ Malaysia và Tây Java. Loại mọc hoang cho trái có vị chua, qua bàn tay chăm sóc của con người có thêm vị ngọt và chua ngọt. Thanh trà là trái cây đặc sản vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhiều nhất là ở miệt Vĩnh Long, trái có vỏ bóng màu vàng cam tươi rói, ăn có vị chua ngọt, mùi thơm thanh thanh như xoài. Khác với thanh trà xứ Huế, cây thuộc họ bưởi, được trồng khắp nơi ở đất cố đô như vùng Thủy Biều, Kim Long.

Trái thanh trà còn xanh có thể dùng để nấu canh chua, trộn gỏi, hoặc đem kho chung với cá. Trái chín ăn theo kiểu ăn xoài, nhưng độc đáo nhất vẫn là làm nước giải khát. Những ngày hè oi bức, uống một ly nước thanh trà sẽ làm cho cơ thể mát dịu.

Thanh trà chứa nhiều beta carotene và các chất có hoạt tính chống oxy hóa có tác dụng ngăn chặn bệnh ung thư và một số bệnh khác. Phần lớn trái thanh trà chứa acid ascorbic (vitamin C), vitamin B, các acid amin, enzyme, bioflavonoids, giàu khoáng chất như crôm, kali, magiê...

Thanh trà là loại trái cây bổ dưỡng và có khả năng phòng bệnh. Dùng phù hợp với nhiều người, ở mọi lứa tuổi, nhất là người bị bệnh nan y và người có thể trạng suy nhược.

8 lý do ta nên ăn lê

8 lý do ta nên ăn lê

Lê rất tốt cho hệ miễn dịch của bạn, có chứa các chất chống oxy hóa. Ăn lê thường xuyên giúp bạn bớt ốm vặt.


Quả lê vị ngọt, có nhiều màu sắc khác nhau bao gồm màu đỏ, nâu, xanh lá cây và màu vàng. Quả lê có hình dạng như cái chuông: hẹp ở phía trên và rộng ở phía dưới. Lê được bán trong hầu hết các mùa, nhiều nhất là giữa tháng 6 và tháng 2. Lê chứa rất nhiều chất xơ và vitamin, vì vậy bạn nên ăn thường xuyên. Ngoài ra, các khoáng chất như kali, phốt pho các đồng trong trái cây này cũng tốt cho sức khỏe. Lê chứa một lượng nhỏ chất sắt.
1. Hạ sốt

Đây là một trong những lợi ích sức khỏe của quả lê. Nếu đang bị sốt, bạn ăn hoặc uống nước ép quả lê sẽ hạ sốt nhanh chóng.

2. Tốt cho đường ruột

Lê cung cấp chất xơ cho cơ thể. Lê rất tốt cho sức khỏe của ruột kết.

3. Ngăn ngừa ung thư

Trái lê rất giàu đồng và vitamin C, có thể ngăn chặn mối nguy từ các gốc tự do.

4. Tăng năng lượng

Nước ép quả lê có thể cung cấp năng lượng tức thời bởi chứa nhiều glucose.

5. Ngăn ngừa táo bón

Lê hoạt động như một thuốc nhuận tràng nhẹ. Nếu ăn lê thường xuyên, bạn sẽ đi tiêu thường xuyên và thuận lợi hơn rất nhiều.

6. Giảm viêm

Nếu bị đau do viêm, bạn nên uống nước ép quả lê. Lê có đặc tính kháng viêm hiệu quả.

7. Phòng ngừa cao huyết áp

Glutathione – một chất chống oxy hóa trong quả lê có tác dụng ngăn ngừa đột quỵ cũng như cao huyết áp.

8. Ngăn ngừa loãng xương

Lê rất giàu khoáng chất boron. Khoáng chất này giúp cơ thể bạn chuyển hóa canxi. Đó là cách gián tiếp ngăn chặn chứng loãng xương.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

Kỹ thuật trồng cây mâm xôi

Kỹ thuật trồng cây mâm xôi

Cây mâm xôi trồng được quanh năm, tuy nhiên, thời điểm gieo trồng tốt nhất là cuối mùa thu đến đầu mùa xuân. Chúng sẽ phát triển tốt nhất nếu được trồng ở những khu vực nhiều ánh sáng và được bảo vệ bằng hàng rào và lưới. Cây giống cần được chọn cẩn thận trước khi trồng, vì chúng rất dễ bị bệnh.


1. Giống và chủng loại:

Mâm xôi là một loại cây lai tạo từ một số giống cây với các cây khác trong chi Mâm xôi thuộc họ Rosaceae. Chúng có rất nhiều tác dụng nên được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia, trong đó có Úc. Cây mâm xôi cũng được lai để tạo ra những loại cây khác như: boysenberry, hildaberry, tayberry, tummelberry, Veitch berry và youngberry. Mâm xôi có 2 loại chính: Mâm xôi đỏ và mâm xôi đen. Chúng ta dễ dàng phân biệt chúng bằng màu sắc.

Quả mâm xôi đỏ thường có màu đỏ tươi khi đã chín. Chúng có vị ngọt vừa phải, tính bình, có tác dụng bổ can thận, giữ tinh khí, làm cường dương, mạnh sức. Lá có vị se, có tác dụng hoạt huyết, thanh nhiệt, tán ứ, tiêu viêm.

2. Xuất xứ và mùa vụ:

• Xuất xứ:  Úc
• Mùa vụ: Quả mâm xôi có quanh năm.

3. Công tác ươm trồng và cách chăm sóc:

Cây mâm xôi trồng được quanh năm, tuy nhiên, thời điểm gieo trồng tốt nhất là cuối mùa thu đến đầu mùa xuân. Chúng sẽ phát triển tốt nhất nếu được trồng ở những khu vực nhiều ánh sáng và được bảo vệ bằng hàng rào và lưới. Cây giống cần được chọn cẩn thận trước khi trồng, vì chúng rất dễ bị bệnh.

Trong năm đầu tiên, cây mâm xôi phát triển rất nhanh và thường cao từ 3 - 6 m (có thể đến 9 m). Cây mâm xôi đen thuộc giống cây bụi, chúng có sức sống mạnh mẽ, thích hợp nhất với đất có độ chua nhẹ, chịu được đất nghèo và thường được trồng trên những lô đất trống. Ngoài ra, chúng sẽ phát triển tốt hơn nếu được bón phân hữu cơ đầy đủ và nhổ sạch cỏ dại giữa các cây.

Thời tiết có ảnh hưởng rất lớn đến việc thụ phấn của cây. Ngay cả một thay đổi nhỏ, như một ngày mưa hoặc một ngày quá nóng có thể làm giảm số lần ong bay đến thụ phấn cho hoa, do đó làm giảm chất lượng của quả.

Những bông hoa xuất hiện vào cuối mùa xuân và đầu mùa hè. Mỗi bông hoa thường có năm cánh màu hồng hoặc màu trắng với đường kính khoảng 2 - 3 cm.

Cây mâm xôi dễ bị tấn công bởi virut và 1 số loại côn trùng gây hại như rầy, ruồi giấm… Đáng nói nhất là ruồi giấm.  Chúng thường làm mục nát hoặc lên men trái cây, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá trì thương mại của loại quả này. Tuy nhiên, cây Mâm xôi vẫn phát triển rất phổ biến vì hạt của chúng được các loại chim rải khắp nơi.

4. Lưu ý bảo quản và sử dụng:

- Mâm xôi được thu hoạch khi chín trên cây, là loại trái cây rất nhạy cảm, nhất là về nhiệt độ.Trong quá trình vận chuyển, các quả mâm xôi chèn lên nhau nên có thể bị dập ngoài vỏ.  Tuy nhiên,  Mâm xôi Úc vẫn giữ được hương vị vốn có của nó.

- Cần chọn quả thịt chắc, đầy đặn và sậm màu, không rửa mà xếp lên một cái đĩa có lót giấy thấm, bọc nilông lại và cho vào tủ lạnh.

- Không ngâm quả mâm xôi lâu trong nước, không để ở nhiệt độ phòng hoặc trong ánh sáng mặt trời trực tiếp quá lâu vì điều này sẽ làm quả nhanh chuyển màu và nhanh hỏng.

Những trái non

- Cách bảo quản tốt nhất: rửa sạch sau đó lau khô bằng giấy thấm, xếp vào túi nilông và cho vào ngăn đá ở nhiệt độ khoảng 0 - 4 độ C để giữ quả tươi ngon lâu hơn. Thêm một ít nước cốt chanh vào quả sẽ giúp quả giữ được màu sắc ban đầu. Các hoạt chất anthocyanin và sắc tố vẫn còn trong quả tươi và đông lạnh nhưng sẽ không còn trong quá trình chế biến.

- Quả mâm xôi thường được dùng để ăn tươi, hoặc trộn chung với salad trái cây, sữa tươi, yogurt, mật ong cho các bữa ăn sáng, làm bánh mứt, làm kem, trang trí các loại bánh, xốt dầu dấm. Chỉ rửa 1 lượng Mâm xôi vừa đủ trước khi ăn hoặc trước khi chế biến món ăn.

- Chúng cũng rất ngon nếu được xay thành bột mịn từ quả khô (ngậm cho tan rồi uống với nước), làm mứt đông từ trái phúc bồn tử (khi ăn phết lên bánh mì với bơ đào nhân, hạnh nhân hoặc bơ đậu phộng thành món sandwich truyền thống) và ngâm rượu…

* Chú ý: Quả mâm xôi chứa chất oxalat, ăn nhiều sẽ có nguy cơ oxalat kết tinh thành sỏi. Những người có sỏi ở thận, bàng quang hoặc túi mật tránh không nên dùng loại trái này. Oxalat còn hạn chế hấp thu canxi, tuy nhiên điều này không đáng kể đối với người có bộ máy tiêu hoá tốt.

Chọn mua và sử dụng quả mâm xôi

Chọn mua và sử dụng quả mâm xôi

Phúc bồn tử chứa chất oxalat, ăn nhiều sẽ có nguy cơ oxalat kết tinh thành sỏi. Những người có sỏi ở thận, bàng quang hoặc túi mật tránh không nên dùng loại trái này. Oxalat còn hạn chế hấp thu canxi, tuy nhiên điều này không đáng kể đối với người có bộ máy tiêu hoá tốt.

Hướng dẫn chọn mua quả mâm xôi (phúc bồn tử)


1. Chọn mua trái tươi ngon Khi mua cần chọn trái thịt chắc, đầy đặc và sậm màu, không rửa mà xếp lên một cái dĩa có lót giấy thấm, bao nilông lại và cho vào tủ lạnh có thể giữ được vài ngày.

2 Không được ngâm lâu trong nước Đừng ngâm lâu trong nước, đừng để ở nhiệt độ phòng và cũng đừng phơi ngoài ánh sáng dễ làm hư hỏng và biến màu trái.

3 Bảo quản bằng đông lạnh Có thể bảo quản cả năm trong ngăn đá bằng cách rửa sạch sau đó lau khô bằng giấy thấm, xếp vào bao nilông và cho vào ngăn đá. Có thể thêm một ít nước cốt chanh vào trái sẽ giúp trái giữ được màu sắc ban đầu. Các hoạt chất anthocyanin và sắc tố vẫn tồn tại trong trái tươi và đông lạnh nhưng sẽ không còn trong quá trình chế biến hoặc đóng hộp.

Cách dùng quả mâm xôi

1. Ăn tươi 100g mỗi ngày, hoặc trộn chung với sữa tươi, yogurt, mật ong cho các bữa ăn sáng, làm bánh mứt, làm kem, trang trí các loại bánh, xốt dầu giấm.

2 Dạng bột Dạng bột xay mịn từ trái khô, ngày ba lần, mỗi lần một muỗng nhỏ, ngậm trong miệng cho tan rồi uống nước.

3 Dạng mứt Nhiều nước làm mứt đông từ trái phúc bồn tử, khi ăn phết lên bánh mì với bơ đào nhân, hạnh nhân hoặc bơ đậu phộng thành món sandwich truyền thống mà dân Bắc Mỹ gọi là PB&J (Peanut Butter and Jelly sandwich).

4 Ngâm rượu Ngâm rượu, uống mỗi ngày 20 – 30ml, hai lần trong ngày.

Quả mâm xôi - phúc bồn tử

Quả mâm xôi - phúc bồn tử

Quả mâm xôi còn gọi là phúc bồn tử (raspberry), được ghi nhận trong sách dược thảo ở Anh từ năm 1548, sau đó được trồng phổ biến ở châu Âu và Bắc Mỹ từ thế kỷ 19. Ở nước ta,quả mâm xôi được trồng nhiều ở các địa phương có khí hậu lạnh và đang được bán trong các chợ, siêu thị.


Công dụng của quả mâm xôi (phúc bồn tử) Phúc bồn tử chứa một chất rất có ích cho sức khoẻ là axít ellagic (một dạng tannin), được xem là chất dinh dưỡng có nguồn gốc thực vật (phyto-nutrients) chống ôxy hoá hiệu quả nhất. Nó giúp bảo vệ màng tế bào và các cấu trúc cơ thể bằng cách trung hoà các gốc tự do. Ngoài ra phúc bồn tử còn chứa nhiều hợp chất flavonoid như kaempferol, quercetin, anthocyanin. Phúc bồn tử có hàm lượng cao vitamin C (53,7%), mangan (41%), Mg, Cu, Zn, K, acid folic, omega-3, vitamin K, vitamin E, chất xơ (31%).

1. Rất tốt cho bệnh nhân tiểu đường: Có thể nói phúc bồn tử được xếp hàng thượng phẩm trong biểu đồ đánh giá thực phẩm, nhiều lợi ích hơn dâu tây, việt quất (blueberry), nho đen (black grape), anh đào (cherry)… vì ngoài các vitamin, khoáng tố, nó còn là nguồn chất xơ giúp ổn định đường huyết nên rất tốt cho bệnh nhân tiểu đường.

2. Chống lão hoá, ung thư, tiểu đường, kháng khuẩn: Ellagitannin trong phúc bồn tử được chứng minh có tác dụng chống lão hoá 50% mạnh hơn dâu tây, gấp ba lần trái kiwi, gấp mười lần cà chua. Với tác dụng hiệp lực của vitamin C và anthocyanin, khả năng chống ôxy hoá và ngăn ngừa ung thư của phúc bồn tử được gia tăng gấp đôi, loại trừ được các gốc tự do làm thay đổi cấu trúc ADN của tế bào. Vitamin C và flavonoid còn góp phần kháng viêm và kháng khuẩn mạnh, và tác dụng này không bị giảm đi khi sử dụng phúc bồn tử đã được đông lạnh.

3. Bảo vệ thị lực: Theo các số liệu được công bố trong Archives of Ophthalmology thì 36% người lớn sau 50 tuổi thường bị chứng thoái hoá điểm vàng mà nguyên nhân chính là ăn không đủ lượng trái cây cần thiết mỗi ngày. Nghiên cứu đánh giá trên 110.000 phụ nữ và nam giới cho thấy một nhóm cần phải ăn ba khẩu phần gồm rau củ và trái cây mỗi ngày mới đủ chất bảo vệ thị lực, và một nhóm chỉ cần ăn một muỗng bột phúc bồn tử thì đã đầy đủ các carotenoid, vitamin A, C, E và các khoáng tố vi lượng như Cu, Zn, là những thành phần giúp loại trừ các gốc tự do gây hại cho võng mạc.

4. Chống rối loạn cương dương, chữa liệt dương: Các nhà nghiên cứu ở Mỹ chứng minh rằng phúc bồn tử giúp cải thiện vi tuần hoàn ở dương vật, giúp thần kinh hưng phấn làm dương vật mềm yếu sẽ cương trở lại. Y học cổ truyền cũng sử dụng thảo dược này để làm thuốc bổ can minh mục, ích thận trợ dương, bổ huyết, chữa liệt dương di tinh, xuất tinh sớm, mắt mờ, phụ nữ kinh nguyệt không đều, thận suy, tiểu tiện nhiều.

5. Giúp đẹp da, đen tóc: Vitamin E, carotenoid và các chất flavonoid trong phúc bồn tử có tác dụng giải dị ứng, tiêu viêm, thải độc, bảo vệ da chống lại các tia cực tím làm giảm các vết thâm nám trên da, giúp da đàn hồi, tăng cường tuần hoàn ở các mao mạch ngoại vi, thúc đẩy sự tái tạo các tế bào collagen mới giúp da sáng đẹp. Các hoạt chất này còn ngăn cản sự rụng tóc, chậm bạc tóc.

6. Cải thiện tuần hoàn não, chống rối loạn tiền mãn kinh: Nghiên cứu của một số nhà khoa học Mỹ còn cho thấy chất chống ôxy hoá trong phúc bồn tử có tác dụng phòng ngừa các gốc tự do gây tổn hại đến não, đồng thời tăng lưu lượng máu và ôxy đến não, từ đó nâng cao khả năng phán đoán, tăng trí nhớ, sức sáng tạo. Đối với phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh hoặc rối loạn tiền mãn kinh, nó giúp giảm stress, giảm các cơn bốc hoả và chính những chất sinh học này đóng vai trò hormon thay thế góp phần điều hoà lượng estrogen bị thiếu hụt trong giai đoạn này.

Kỹ thuật trồng gấc

Kỹ thuật trồng gấc

Giống gấc cho năng suất quả cao, nhiều hạt đã được trình diễn là giống gấc Diễn, quả to, chín có màu đỏ tươi, ngoài ra có một số giống khác có màu vàng, quả nhỏ.


Gấc là một loại cây bán hoang dại, cây leo và chu kỳ gieo trồng đến thu hoạch là 9 tháng đến 1 năm. Khi giá trị của cây gấc chưa được chú ý, nó chỉ được xem như một thứ gia vị, dân gian sử dụng chủ yếu vào dịp lễ tết, giỗ chạp với các món truyền thống là xôi gấc, một số dùng chế biến bánh keo như bánh cáy. Giá trị gấc vì thế rất thấp và cho nhau hàng chục quả là chuyện bình thường. Hiện nay gấc đã được sử dụng trong công nghiệp dược phẩm, chiết xuất dầu gấc với thành phần vitamin A và E... Cây gấc bắt đầu có vị thế đặc biệt và trở thành cây xoá nghèo.

Một kg gấc có giá thu mua 2 – 2,5 ngàn đồng trả cho người trồng, một gốc gấc cho thu hoạch 15- 20 quả, trong điều kiện trồng vo, nếu trồng có chăm sóc, định hướng một gốc cho thu hàng tạ quả, sau thu quả, cắt dây để lại gốc, đến vụ gấc lại bắn mầ, nên cây mới, cây vụ sau khoẻ hơn và cho năng suất cao hơn vụ trước.

Gấc là một loại cây trồng có sức chống chịu tuyệt vời, chưa thấy sâu bệnh hại, chim chuột ít phá, thân lá gấc có mùi hôi nên cây trâu bò ít phá.

Giống gấc cho năng suất quả cao, nhiều hạt đã được trình diễn là giống gấc Diễn, quả to, chín có màu đỏ tươi, ngoài ra có một số giống khác có màu vàng, quả nhỏ.

Gấc không kén đất và chỉ cần một khoảng đất nhỏ đã có thể trồng được một gốc, một gốc có tuổi thọ 15 – 20 năm, đầu tư rất thấp, nhưng hiệu quả cao. Một số vùng trồng gấc xen vải, trồng tận dụng, hoặc trồng ở ruộng cao, bạc màu, làm cọc tre, chăng dây thép cho dây gấc leo, thu nhập cao gấp 2 –3 lần trồng lúa.

Gấc trồng từ dây là chủ yếu, nếu trồng từ hạt hạt phải được đồ chín.

Cách trồng từ dây: chọn giống gấc tốt, loại gấc nếp quả đỏ tươi khi chín, trọng lượng quả đạt 1 – 1,5 kg, hàm lượng tinh dầu khá cao và được các cơ sở thu mua chế biến dầu gấc ưa thích. Lấy một doạn dây dài khoảng 40 – 50cm , có thể cuộn lại như kiểu trồng sắn dây, hoặc tận dụng có thể trồng giâm như cây khoai lang, đào hố, bón lót phân chuồng, phân rác mục, đặt dây, lấp đất để hở 2 –3 đốt, tưới ẩm và dậy để bảo vệ, khi nào mầm gấc bắn lên, gấc bò thì mắc dàn cho gấc leo> Một gốc gấc chăm sóc tốt và cân đối cần diện tích leo dàn khoảng 5 – 6m2, tận dụng bờ rào, mái các công trình phụ cũng có thể trồng được gấc.

Khi gấc leo giàn bón cho mỗi hốc 1 – 1,5kg NPK, để đẩy nhanh quá trình bám giàn, không nên để quả gấc tốt dây, vì dây tốt quả sẽ ra ít.

Nhìn chung trồng gấc đơn giảm, đầu tư thấp trồng một lần thu nhiều năm, hiệu quả rất cao nhất là đối với đất tận dụng, sản phẩm hiện được tiêu thụ tốt dùng cho chế

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2018

Kỹ thuật bao trái cây trồng bằng giấy

Kỹ thuật bao trái cây trồng bằng giấy

Bao trái cũng làm giảm quả rụng do bị sâu bệnh gây, giảm số lần phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, tăng năng suất cây trồng.


Thực hiện kĩ thuật bao trái khi trồng cây ăn trái giúp trái cây cũng không bị côn trùng, sâu (sâu đục cuống, bọ xít, ruồi đục quả, bệnh thán thư, đốm nâu…) cắn, chích và làm vỏ trái cây màu sắc đậm, nhạt đẹp theo ý muốn, không có các vết rám do sâu bệnh hoặc bị sém nắng, không làm thay đổi chất lượng trái. Bao trái cũng làm giảm quả rụng do bị sâu bệnh gây, giảm số lần phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, tăng năng suất cây trồng.

1. Nguyên tắc

- Nên bao trái sau 30-40 ngày sau đậu trái đối với chôm chôm, cam quýt. Sau 45 ngày sau đậu trái đối với nhãn, xoài, sầu riêng.

- Trước khi bao trái cắt tỉa những dé hoa còn sót không đậu quả, cắt bỏ các cành tăm, lá vô hiệu và những quả nhỏ đối với các giống trái chùm và phun thuốc trừ sâu bệnh 1 lượt để diệt hết trứng, sâu non và nấm bệnh có sẵn trên mặt trái.

- Dùng bao to bao nguyên chùm: chuối, nho, nhãn, vải, chôm chôm, cam quýt, xoài chùm…

- Dùng bao nhỏ có kích thước phù hợp bao từng trái: xoài cát Hoà Lộc, bưởi, lê, ổi…

- Dùng giấy có màu khác nhau để bao trái sẽ thu được những trái chín có màu đậm nhạt khác nhau.

- Nếu bao bằng túi nilon màu trắng trong, màu sắc tự nhiên của quả không thay đổi giống như khi không bao trái.

- Bên trong nilong có thể lót giấy báo để bao trái làm cho trái khi chín sẽ có vỏ màu sáng.

2. Kỹ thuật bao trái

- Lồng bao bên ngoài trái hoặc chùm trái theo chiều từ dưới lên, buộc miệng túi phía trên bằng dây mềm. Đầu dưới túi để hở tự nhiên (túi thủng 2 đầu) hoặc đục lỗ (nếu dùng túi hở 1 đầu) để thoát nước, tản nhiệt.

- Một số loại bao chuyên dụng được sản xuất có sẵn dây cột miệng túi.

Đối với ổi

- Dùng bao nylon có kích thước 15 x 20 cm, đục mỗi bao 10-15 lỗ nhỏ, trong đó có một số lỗ ở đáy bao để thoát nước đọng khi mưa hoặc tưới. Khi ổi ra trái được 15-20 ngày (trái cỡ 2 cm), phun xịt một đợt thuốc trừ sâu, chờ 3-5 ngày sau thì bao trái.

Đối với bưởi

- Khi thu hoạch bưởi thường có trọng lượng từ 0,7-4kg.

- Khi quả bưởi lớn tới kích cỡ 2-3cm, dùng túi nilon có đường kính 20-40cm, dài 30-60cm để bao trái.

- Dùng giấy sẫm màu lót bên trong bao nilon thì khi chín, bưởi sẽ cho trái màu vàng nhạt rất đẹp.

Đối với xoài

- Nếu trái thu hoạch có trọng lượng 200-300g thì dùng túi kích cỡ 10-15cm x 20-30cm

- Nếu trái thu hoạch có trọng lượng 0,5-1,5kg thì dùng túi kích cỡ 15-20cm x 50-60cm

- Khi quả xoài đạt kích cỡ 2cm, dùng túi nilonđể bao trái.

- Có thể dùng giấy craft (loại giấy bao xi măng) lót thêm lớp giấy đen ở phía trong để bao loại xoài vỏ vàng.

- Dùng giấy trắng bao các giống xoài có vỏ màu đỏ khi chín.

Bao buồng chuối

- Khi các hoa chuối vừa nở hết, cắt phần hoa không có khả năng đậu quả sau, để vài ngày cho khô nhựa.

- Tùy số nải có trong buồng chuối, mỗi nải chuối cần khoảng 20cm chiều dài túi, dùng túi nilon dài 1,8-2,5m để bao trái.

Phân bón cơ bản sử dụng cho cây ăn trái

Phân bón cơ bản sử dụng cho cây ăn trái

Phân bón cho cây ăn trái được sử dụng tuỳ theo đất, giống và tình trạng dinh dưỡng của cây ăn trái mà quyết định lượng phân bón thích hợp, cần bón phân đầy đủ đạm, lân, kali; bổ sung thêm phân hữu cơ và vi lượng để cây đạt năng suất cao

Năm tuổi
Loại phân
Ure (g/cây/năm) Super lân (g/cây/năm) Kali (g/cây/năm)
1 – 3 100 – 300 300 – 600 100
4 – 6 400 – 500 900 – 1200 200
7 – 9 600 – 800 1500 – 1800 300
Tròn 10 900 – 1600 200 – 2400 400
Phân bón thường sử dụng cho cây ăn trái

- Phân bón cho cây 1 – 2 năm tuổi:

+ Phân đạm: Nên pha phân vào nước để tưới, 2 – 3 tháng tưới 1 lần

+ Phân lân và kali: Bón một lần vào cuối mùa mưa.

+ Trong giai đoạn này nên phun phân bón lá Yogen để giúp cây nhanh phát triển và tạo tán tốt ở giai đoạn đầu, phun 1 trong các loại sau: Yogen 30-10-10, Yogen 21-21-21, Yogen 15-30-15 để giúp cây phát triển mạnh bộ rễ phun siêu lân hoặc Yogen 10-50-10

- Phân bón cho cây trưởng thành:

Chia làm 4 lần bón/năm

+ Lần 1: Trước khi cây ra hoa: bón 1/3 Urê, phun Yogen siêu lânhoặc Yogen 10-50-10 giúp cây ra hoa sớm và đồng loạt.

+ Lần 2: Sau khi đậu trái 6 – 8 tuần: bón 1/3 Urê + 1/2 Kali, phun siêu Kali hoặc 6-30-30 giúp cây cho năng suất và chất lượng cao.

+ Lần 3: Trước khi cho thu hoạch trái 1 – 2 tháng: bón 1/2 Kali còn lại

+ Lần 4: Sau khi thu hoạch trái bón toàn bộ lân và 1/3 Urê.

Phân bón phải được bón đúng cách

Dựa theo tán cây để bón, cuốc rãnh sâu 5 – 10cm; rộng 10 – 20cm, cách gốc 0,5 – 1m (tuỳ tán cây); cho phân vào, lấp đất lại và tưới nước.

Khi cây giao tán nên dùng cuốc xới nhẹ lớp đất xung quanh gốc theo hình chiếu của tán, cách gốc khoảng 50cm. Tưới đẫm liếp trước, sau đó rải  phân bón thẳng lên mặt liếp.

Hàng năm còn cần bón thêm phân lân hữu cơ (hiệu Con én đỏ) của XN Yogen Mitsui Vina cho cây nhằm vừa cung cấp dinh dưỡng cho cây, vừa giúp đất tơi xốp, giúp bộ rễ cây phát triển tốt. Nếu bón phân chuồng nên bón phân hoai mục để giảm ô nhiễm môi trường và hạn chế được nấm bệnh (có trong phân chưa hoai).

Để cung cấp thêm vi lượng cho cây nên bón phân qua lá Yogen hiệu Con én đỏ vào giai đoạn cây ra lá non và khi trái bắt đầu phát triển nhanh, mỗI lần phun cách nhau 10 – 15 ngày, phun 4 – 5 lần/vụ.

Xử lý ra hoa:

Dùng biện pháp xiết nước để kích thích ra hoa cây có múi. Cách làm như sau:

- Sau khi thu hoạch tiến hành cắt tỉa cành sâu bệnh, cành vô hiệu (không có khả năng cho trái) và bón phân bồi dưỡng để cây phục hồi sau mùa cho trái, kết hợp phun phân Yogen.

- Rút khô nước trong mương vườn và ngưng nước để tạo “sốc” cho cây.

- Thời gian xiết nước kéo dài khoảng 3 tuần đến khi thấy lá hơi héo thì cho nước vào mương cách mặt đất 20 – 30 cm trong 12 giờ, sau đó rút bớt nước ra còn cách mặt liếp 50 – 60cm để không làm rễ cây bị thiệt hại gây mất sức cho cây.

- Tưới nước sớm, bón phân đầy đủ thúc cây sớm ra đọt và nụ hoa. Phun phân Yogen Siêu kali kết hợp vớI Atonik, thời gian xiết nước sẽ rút ngắn hơn.

Cách bón phân hiệu quả cho cây ăn trái

Cách bón phân hiệu quả cho cây ăn trái

Để cây ăn trái đạt năng suất cao, có chất lượng ngon thì phân bón là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên, tình hình sử dụng phân bón của nông dân rất khác nhau. Trong thực tế sản xuất, nhiều nông dân thường bón phân chưa hợp lý.



Nông dân có thói quen bón nhiều phân đạm, không chú ý nhiều đến phân lân và phân kali. Việc bón phân không hợp lý (nhất là bón nhiều phân đạm) có thể làm cho cây khó ra hoa, đậu trái. Nếu bón nhiều đạm trong giai đoạn nuôi trái có thể làm cho trái to, năng suất tăng nhưng chất lượng trái sẽ giảm, hiệu quả sản xuất không cao.

Cây ăn trái cần nhiều loại dinh dưỡng để sinh trưởng và cho năng suất, chất lượng nhưng trong đó, đạm, lân, kali là 3 yếu tố mà cây trồng cần nhiều nhất và ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất, chất lượng trái cây.

- Phân đạm:

Phân đạm giúp cây sinh trưởng, phát triển, đâm chồi, đâm đọt…. Nếu thiếu phân đạm, cây sẽ chậm đâm đọt, còi cọc, làm giảm năng suất đáng kể, nhưng bón thừa phân đạm, sẽ làm cho cây có nhiều cành lá sum suê, dễ bị sâu bệnh tấn công… làm giảm chất lượng, tăng tỷ lệ hao hụt, thất thoát.

- Phân lân:

Lân cần thiết trong việc giúp cây đâm rễ, đâm chồi,…. Nếu thiếu lân, cây sẽ còi cọc, ít đâm đọt, khó ra hoa, đậu trái…

- Phân kali:

Tăng cường vận chuyển dinh dưỡng, tăng tính chống chịu của cây đối với điều kiện bất lợi, giúp chồi mau thuần thục, dễ ra hoa, kali giúp tăng phẩm chất trái cây…

Ngoài ra, các yếu tố trung lượng, vi lượng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng chất lượng trái cây. Trung, vi lượng thường có mặt khá đầy đủ trong các loại phân bón lá. Bên cạnh đó, phân hữu cơ cũng đóng vai trò rất quan trọng, giúp cung cấp một phần dinh dưỡng cho cây, nhưng cơ bản nhất là làm cho đất tơi xốp, giữ ẩm cho đất, giảm thất thoát phân bón…

Để sử dụng phân bón đạt hiệu quả, có nhiều điều cần phải lưu ý như điều kiện đất đai, giai đoạn sinh trưởng, tình trạng sinh trưởng của cây, giống trồng…. Trong đó, quan trọng nhất là chủng loại, liều lượng phân bón theo từng giai đoạn sinh trưởng để đáp ứng tốt nhất yêu cầu của cây và cách bón thích hợp để cây sử dụng được nhiều nhất, ít bị thất thoát.

1. Về loại phân bón:

Liên quan chặt chẽ với giai đoạn sinh trưởng của cây.

- Đối với cây còn nhỏ, chưa cho trái:

Cây cần nhiều phân lân và phân đạm để thúc đẩy cây đâm rễ, đâm chồi. Do đó, cần tập trung bón nhiều phân đạm và lân cho cây. Phân lân nên bón lót, bón vào đầu hoặc cuối mùa mưa; đối với phân đạm và phân ka li nên chia nhiều lần bón hoặc tưới, khi đọt lá đã già.

- Giai đoạn cây đã cho trái:

Nên chia làm 4 lần bón chính: Sau thu hoạch, trước khi xử lý ra hoa, giai đoạn nuôi trái và trước khi thu hoạch.

+ Sau thu hoạch:

Là giai đoạn cây cần nhiều đạm và lân để ra rễ, đâm chồi. Cung cấp đủ đạm và lân sẽ giúp cây cho nhiều tược, tược mập mạnh….

+ Trước khi xử lý ra hoa:

 Cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, giúp cây thật sung tốt để cho cây phát hoa dài, khoẻ mạnh, dễ ra hoa, đậu trái. Giai đoạn này cần bón nhiều phân lân và kali, giảm phân đạm. Nếu bón thừa đạm sẽ làm cho cây ra tược, khó ra hoa.

+ Giai đoạn cây nuôi trái:

Cây cần nhiều đạm để giúp trái phát triển, đồng thời cần kali để tăng cường vận chuyển dinh dưỡng về nuôi trái, giúp đảm bảo năng suất, chất lượng trái.

+ Trước khi thu hoạch:

Khoảng 1-2 tháng trước khi thu hoạch (tuỳ theo giống/loại cây), không bón đạm mà bổ sung kali để giúp tăng chất lượng, màu sắc của trái cây, giúp trái ngon, đẹp và an toàn cho người sử dụng. Có thể phun phân kali qua lá.

2. Cách bón:

Hiệu quả sử dụng phân bón rất khác nhau phụ thuộc vào cách bón, kết cấu đất. Nếu đất để chặt hoặc bón không đúng cách sẽ làm cho phân dễ bị rửa trôi, bốc hơi… Do đó, cần làm cho đất tơi xốp bằng cách bón phân hữu cơ cho vườn cây ăn trái. Phân hữu cơ sẽ giúp đất tơi xốp, giữ nước, giữ phân, hạn chế thất thoát phân bón…

Về cách bón:

+ Cần lưu ý bón theo tán cây, cách gốc từ 1-1,5 m vì rễ cây ở phần gần gốc không còn hấp thu dinh dưỡng tốt, mà phần rễ tơ ở bên ngoài mới hút dinh dưỡng tốt nhất.

+ Nên xới xáo mặt đất trước khi bón hoặc đào hốc, đào rãnh để vùi phân vì phân bón rất dễ bị mất đi do bị rửa trôi hay bốc hơi, nhất là phân đạm.

+ Sau khi bón phân xong, cần tưới đủ nước để phân tan và cung cấp cho cây. Nếu bón phân mà không cung cấp đủ nước sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng phân bón.

Ngoài ra, có thể bổ sung phân bón qua lá 2-3 lần trong giai đoạn nuôi trái, thúc đẩy quá trình phát triển trái và tăng chất lượng màu sắc của trái. Tuy nhiên, nếu trời âm u, mưa nhiều, bệnh phát triển… thì nên hạn chế sử dụng phân bón lá.

3. Lượng phân bón:

Cần gia giảm liều lượng phân bón tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng cây, từng vườn. Lượng phân bón tăng dần từng năm theo độ lớn của cây. Giai đoạn cây đã cho trái, năm trước được mùa thì năm sau phải bón nhiều hơn năm thất mùa; trong cùng một vườn, những cây cằn cỗi cần được bón nhiều hơn cây sung tốt; Cây mang nhiều trái thì cần bón nhiều hơn cây ít trái… Nói chung, trước khi bón phân cần “Trông trời, trông đất, trông cây”… thì mới giảm được thất thoát, nâng cao được hiệu quả sử dụng phân bón, đồng thời còn giúp đảm bảo chất lượng trái khi thu hoạch và an toàn cho người tiêu dùng.

Lợi ích từ trái Sơ ri

Lợi ích từ trái Sơ ri

Sơ ri là loại trái cây mùa hè có thể nói là loại quả giàu đường nhất trong những thứ trái cây màu đỏ, cứ 100g sơri sẽ cung cấp cho chúng ta khoảng 68 calo và khoảng 15mg vitamin C và A.


Sơ ri là loại trái cây mùa hè có thể nói là loại quả giàu đường nhất trong những thứ trái cây màu đỏ, cứ 100g sơri sẽ cung cấp cho chúng ta khoảng 68 calo và khoảng 15mg vitamin C và A. Ngoài ra, do trái Sơ ri rất giàu chất kẽm nên có tác dụng lợi tiểu, đồng thời chất xơ trong thứ quả này kích thích hoạt động của các cơ quan nội tạng.

Trái Sơ ri được coi là giàu đường nhất trong số những trái cây màu đỏ vì trung bình mỗi trái sơri có tới 15% thành phần là đường gluxít. 81% thành phần cấu tạo trái Sơ ri là nước có chứa các chất khoáng hòa tan và vitamin. Có thể tìm thấy trong trái Sơ ri rất nhiều loại chất khoáng (500mg/100g), canxi (17mg/100g), kẽm (250mg/100g), sắt, đồng…

Do có hàm lượng nước và kẽm cao, Sơ ri rất có tác dụng lợi tiểu. Ngoài ra, do lượng chất khoáng phong phú, sơri tham gia tích cực vào việc làm cân bằng hoạt động của cơ quan nội tạng. Quá trình chuyển hóa của sơri khi vào cơ thể làm giải phóng kẽm, làm trung hòa chế độ dinh dưỡng hiện nay đôi khi có quá nhiều axít.

Chỉ cần bạn ăn khoảng 125g trái Sơ ri là bạn đã cung cấp cho cơ thể 20% đến 30% lượng vitamin C và 25% lượng vitamin A được khuyên dùng nên bổ sung hàng ngày, hay carôten (đây là loại vitamin cần thiết để duy trì tình trạng tốt cho da, chống lại quá trình lão hóa tể bào và còn có thể là tác nhân chống lại ung thư). Cuối cùng, cũng với 125g trái Sơ ri là bạn đã tiếp nhận cho cơ thể khoảng 15% lượng vitamin B9 và axít pholic (axít ngăn ngừa chứng thiếu máu) khuyên dùng hàng ngày.

Thứ Tư, 18 tháng 4, 2018

Quả chà là và sức khỏe

Quả chà là và sức khỏe

Chà là rất giàu vitamin và khoáng chất. Theo các chuyên gia, ăn một quả chà là mỗi ngày là cần thiết cho một chế độ ăn uống cân bằng và lành mạnh.


1. Ăn chà là giúp ngăn cản cơ thể hấp thu cholesterol xấu

Chà là còn giàu chất xơ, giúp ngăn cản cơ thể hấp thu cholesterol xấu LDL từ chế độ ăn uống thường ngày. Loại quả này còn được xem là “thuốc” nhuận tràng hiệu quả. Đây còn là nguồn phong phú vitamin A, có đặc tính chống ô xy hóa cao và là chất không thể thiếu để cải thiện thị lực. Vitamin A cũng cần thiết cho việc duy trì làn da khỏe mạnh. Ăn các loại hoa quả giàu vitamin A còn có tác dụng ngừa ung thư phổi và ung thư khoang miệng.

2. Chà là chứa nhiều khoáng chất

Những nhà nghiên cứu tại Luân Đôn đã chỉ ra rằng quả chà là có chứa rất nhiều các loại khoáng chất, ít nhất là 15 loại với hàm lượng cao Kali, Selen, Ma-giê…

Kali là khoáng chất quan trọng giúp cơ thể chống lại bệnh cao huyết áp – một trong số những nguyên nhân chính dẫn tới bệnh tim. Một chén chà là chứa khoảng 964mg Kali, chiếm khoảng 28% nhu cầu Kali cần thiết hàng ngày. Khi lượng Kali trong cơ thể tăng lên, chúng sẽ giúp bài tiết Natri, từ đó làm giảm huyết áp. Ngoài ra, quả chà là còn chứa nhiều Se-len – loại khoáng chất được biết tới với vai trò chất giúp phòng chống ung thư và xây dựng hệ miễn dịch cơ thể.

Chà là chứa hàm lượng chất sắt tương đối cao so với nhiều loại trái cây khác. Một nửa chén chà là chứa 1mg sắt. Nếu trong gia đình có người đang gặp phải tình trạng thiếu hụt sắt, việc bổ sung loại quả này vào chế độ dinh dưỡng hàng ngày sẽ giúp cải thiện vấn đề này.

3. Là chất chống oxi hóa

Theo báo cáo của một tạp chí nước ngoài, chà là là loại quả chứa nhiều Caroten – một loại chất chống oxi hóa tuyệt vời. Caroten được coi là hợp chất giúp sản xuất Vitamin A cho cơ thể, xây dựng hệ thống miễn dịch và bảo vệ tế bào khỏi bị hư hại.

Những chất chống ô xy hóa có nhiều trong quả chà là có khả năng giúp bảo vệ tế bào và các cấu trúc khác trong cơ thể khỏi bị tổn hại từ các phân tử gốc tự do. Chưa kể, chà là còn là nguồn phong phú chất sắt, nên có thể giúp chống chứng thiếu máu.

4. Chất xơ

Theo kết quả của các nhà nghiên cứu tại Luân đôn, ngoài việc cung cấp cho cơ thể lượng Vitamin và khoáng chất quan trọng, quả chà là còn chứa lượng chất xơ cao. Cơ thể cần chất xơ để giúp loại bỏ những độc tố ra ngoài, giảm nguy cơ rối loạn tiêu hóa, giảm nguy cơ ung thư ruột kết. Ngoài ra, chất xơ còn giúp kiểm soát cân nặng, lượng đường trong máu và cholesterol.

5. Chà là chứa nhiều vitamin

Chà là chứa các loại Vitamin nhóm B như B6, Niaxin, Vitamin B2, Folate, Protein và ít chất béo. Một chén quả chà là có chứa 12% vitamin B6, 9% Niaxin, 6%vitamin B2, 7% Folate, 7% protein và ít hơn 1% chất béo, có thể đáp ứng một phần nhu cầu cần thiết của cơ thể hàng ngày.

Quả chà là không chỉ mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe mà còn chứa lượng calo cao. Một chén quả chà là chứa tới 400 calo. Nếu bữa ăn hàng ngày có quả này, bạn chỉ cần ăn thêm hai hoặc ba món ăn nhẹ khác. Bên cạnh đó, chà là còn chứa nhiều đường, nhưng là loại đường tự nhiên mang lại hương vị ngọt ngào. Chúng còn được coi là loại “kẹo tự nhiên”, rất tốt cho sức khỏe.

6. Những món ăn từ quả chà là


Cũng giống như nhiều loại quả khác, quả chà là khô có hương vị khá thơm ngon. Tuy nhiên chúng chứa nhiều calo hơn khi còn tươi, có tác dụng ngăn ngừa chứng táo bón, mệt mỏi, thiếu máu…

Sử dụng chà là như một món ăn nhẹ hay ăn kèm món tráng miệng sẽ giúp cân bằng năng lượng hàng ngày.

Những bài thuốc vị thuốc từ quả dâu tằm

Những bài thuốc vị thuốc từ quả dâu tằm

Quả dâu ta còn gọi là quả dâu tằm khi chín màu đỏ đậm hoặc tím đen. Quả dâu tằm giàu chất dinh dưỡng, ăn mềm, chua ngọt, nhiều nước, có thể ăn tươi, ngâm rượu, làm nước giải khát, làm mứt, làm vị thuốc… đều tốt, được mọi người ưa chuộng.


Cây dâu cho lá nuôi tằm ra hoa kết quả vào tháng 2, 3. Đến mùa thu thì quả ít và nhỏ hơn. Giống dâu vườn lưu niên cho quả nhiều, to, ngọt và chất lượng tốt hơn. Trồng dâu lấy quả phải chọn giống dâu ít lá, lá nhỏ và mỏng. Quả dâu tằm càng chín (tím đen) càng thơm ngọt, bớt chua chát, nhiều chất bổ dưỡng. Trong quả dâu có 84,71% nước,  9,19% đường và axit 80% (có axit malic, axit sucinic),  protit 0,36%, tanin, vitamin C, caroten.

Theo Đông y, quả dâu tằm chín phơi hay sấy khô (gọi là tang thầm) có công hiệu bổ âm huyết, sinh tân dịch, nhuận táo. Dùng cho các trường hợp can thận âm hư, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, điếc tai, bệnh đái tháo đường, tiểu khó, táo bón, râu tóc bạc sớm, đau sưng khớp, đau lưng mỏi gối, hồi hộp mất ngủ, lao hạch, đau mỏi khớp.

Một số bài thuốc thường dùng từ quả dâu tằm

Bài 1: Tóc khô gãy, rụng, chóng bạc: Quả dâu 1kg, rượu 0,5 lít, dâu rửa sạch, để ráo nước cho vào bình đổ rượu ngâm 3 ngày. Uống ngày 2 lần vào 2 bữa cơm. Mỗi lần 20ml.

Bài 2: Chữa nhức mỏi cơ xương khớp, đau lưng gối, táo bón, kém ăn: Quả dâu chín 40g, gạo tẻ 100g, đường phèn vừa đủ. Gạo tẻ vo sạch cho vào ninh thành cháo cùng với dâu. Ăn buổi sáng (lúc chưa ăn gì, bụng đói) rất tốt đối với người già, yếu, ốm dậy.

Bài 3: Giúp ngủ ngon: Quả dâu tươi 60g, rửa sạch cho vào ấm đổ 500ml sắc uống ngày 2 lần/ngày vào chiều tối. Nếu mất ngủ lâu ngày thì dùng bài thuốc:  Quả dâu 15g, thục địa 15g, bạch thược 15g. Tất cả các vị thuốc cho vào ấm đổ 700ml nước, sắc còn 200ml chia 2 lần uống trong ngày. 15 ngày 1 liệu trình.

Bài 4: Chữa hậu sản sau sinh: Quả dâu khô, long nhãn, đảng sâm, mỗi vị lượng bằng nhau 30g sau đó nghiền nát. Uống mỗi lần 3g với nước đun sôi để nguội, ngày 3 lần.

Bài 5: Chữa chứng tiền mãn kinh với biểu hiện hồi hộp, tim đập nhanh: Quả dâu 30g, ngân nhĩ 20g, ô mai 3g. Sắc với 700ml nước còn 150ml nước thuốc, chia 2 lần uống trong ngày, 15 ngày một liệu trình.

Bài 6: Ăn không tiêu, trướng bụng óc ách: Quả dâu 10g, bạch truật 6g. Tất cả cho vào ấm đổ 550ml nước, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 5 ngày.

Bài 7: Hoạt huyết, dưỡng huyết thông kinh: Quả dâu 15g, hồng hoa 3g, kê huyết đằng 12g, rượu trắng 1 thìa con (15ml). Cho tất cả vào nồi đổ ngập thuốc đun nhỏ lửa còn 250ml, bỏ bã.  Chia 2 lần uống trong ngày, dùng trước kỳ kinh 15 ngày, 7 ngày 1 liệu trình.

Bài 8: Chữa mồ hôi trộm ở trẻ nhỏ: Quả dâu, ngũ vị tử mỗi vị 10g, cho 500ml nước đun nhỏ lửa còn 200ml nước, ngày uống 2 lần. Dùng liền 10 ngày.

Bài 9: Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Quả dâu 30g, thiên hoa phấn 20g, sinh địa 15g. Tất cả  cho vào ấm đổ 500ml nước sắc còn 150ml, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng liền 7 ngày.

Lưu ý: Cần chọn quả chín có màu tím sẫm, không bị dập nát, hư hỏng. Những người có cơ địa tính hàn và mắc các bệnh sôi bụng, tiêu chảy không dùng.

Cây nhàu và kỹ thuật trồng cây nhàu

Cây nhàu và kỹ thuật trồng cây nhàu

Quả Nhàu ăn với muối dễ tiêu, nhuận tràng, là thuốc điều kinh, trị băng huyết, bạch đới, ho cảm, hen, thũng, đau gân, đái đường. Nướng chín ăn để chữa lỵ.


Họ: Cà phê (Rubiaceae)

Tên khác: Cây Ngao, Nhàu núi, Nhàu lớn, Nhàu rừng, Giầu.

Mô tả:

Cây cao chừng 6-8m, thân nhẵn. Cây có nhiều cành to, lá mọc đối, hình bầu dục, nhọn ở đầu, dài 12-30cm, rộng 6-15cm, bóng loáng, dạng màng.

Hoa trắng, hợp thành đầu, đường kính 2-4cm.

Quả hình trứng, xù xì, dài khoảng 5-6cm. Khi quả non có màu xanh nhạt, chín có màu trắng hoặc hồng, mùi nồng và cay. Thịt quả có một lớp cơm mềm ăn được, chính giữa có một nhân cứng. Nhân dài 6-7mm, rộng 4-5mm, có hai ngăn chứa một hạt nhỏ mềm.

Phân bố và đặc điểm sinh học:

Phân bố: Đây là loài thuộc vùng nhiệt đới thuộc Châu Á và châu Úc, ngoài ra còn phân bố ở Trung Quốc và Ấn Độ.

Mùa hoa nở từ tháng 1-2, quả chín tháng 7-8.ở nước ta cây thường mọc hoang ở những nơi ẩm thấp, góc vườn, dọc sông suối. Cây tái sinh dễ dàng bằng cách ươm hạt.

Bộ phận dùng:

Rễ thu hái vào mùa đông. Lá vào mùa xuân. Quả vào mùa hạ. Rễ phơi khô. Lá và quả dùng tươi.

Thành phần hóa học:

Trong thành phần của vỏ và rễ cây Nhàu có chứa Glucocid, anthraquimonic gọi là modrin, kết tinh thành tinh thể hình kim, màu vàng cam, tan trong nước sôi và các chất kiềm, ít tan trong nước lạnh và không tan trong ete. Ngoài ra còn có 1-metoxyrubiazin, mordrin và 1-Oxy-2,3-Dimetoxy anthraquinon. Lá cũng có modrin. Năm 1982, tác giả Đàm Trung Bảo ( Đại Học Dược Hà Nội) cho biết trong cây Nhàu còn có nhiều Selenium.

Công dụng:

Quả Nhàu ăn với muối dễ tiêu, nhuận tràng, là thuốc điều kinh, trị băng huyết, bạch đới, ho cảm, hen, thũng, đau gân, đái đường. Nướng chín ăn để chữa lỵ. Rễ Nhàu ngoài công dụng để nhuộm đỏ quần áo vải lụa, người Việt Nam còn đào về, thái nhỏ, sao vàng ngâm rượu uống chữa nhức mỏi, đau lưng (dùng quả Nhàu non, thái mỏng, sao khô thay rễ). Lá Nhàu giã nát đắp chữa mụn nhọt, mau lên da non. Sắc uống chữa đi lỵ, chữa sốt và làm thuốc bổ, lá Nhàu còn dùng nấu canh lươn ăn bổ. Vỏ cây Nhàu dùng để nấu nước cho phụ nữ sau khi sinh uống bổ máu.

Một số bài thuốc từ cây Nhàu:

- Chữa huyết áp cao: rễ Nhàu 30-40g, sắc uống thay nước chè, sau hai tuần là có kết quả, sau đó giảm bớt liều, uống liên tục trong 2-3 tháng.

- Chữa nhức mỏi tay chân, đau lưng: quả Nhàu non thái mỏng sao khô, 300g ngâm trong 2 lít rượu 30-40 độ sau hai tuần, uống ngày hai lần, lần một ly con 30-40ml.

- Chữa lỵ, tiêu chảy, cảm sốt: lá Nhàu tươi 3-6 lá, rửa sạch nấu với 500ml đun đến khi nước còn 200ml chia hai lần uống trong ngày. Uống liên tục trong 2-5 ngày.

Cách trồng và chăm sóc:

* Tạo và chăm sóc cây con:

- Nguồn giống: Thu hái quả lúc bắt đầu chín, hong trong râm, nơi khô ráo, thoáng mát, xát vỏ, loại tạp vật rồi đem gieo ngay.

- Cây Nhàu con được gieo từ hạt. Hạt được xử lý bằng nước nóng (3 sôi 2 lạnh) và nước lạnh với thời gian 15-30 phút, sau đó gieo trong cát ẩm. Sau hơn 1 tháng hạt nảy mầm rộ thì bứng cây cấy vào bầu.

- Tạo bầu: Cỡ bầu: Rộng 6-8cm, cao 12-15cm; thành phần ruột bầu: 90% đất sạch dưới tán rừng +10% phân chuồng hoai. Bầu được xếp vào luống có chiều rộng từ 1-1,2m.

- Kỹ thuật giâm cây con: Dùng que nhọn chọc lỗ sâu 3-5cm, cắm rễ cây con vào lỗ, ép chặt đất vào gốc cây. Để nâng cao khả năng thành công của hom giâm, cần cắm giàn che bóng 25%.

- Chăm sóc cây con: Tưới đủ nước cho cây, nếu thời tiết nắng nóng cần tưới nước hằng ngày vào buổi sáng sớm hoặc chiều tối. Làm cỏ phá váng định kỳ 1 lần/tháng để tránh sự cạnh tranh dinh dưỡng của cỏ dại và tạo cho đất tơi xốp, thoáng khí. Bón thúc bằng phân chuồng hoai 1 lần/tháng. Khi cây con có chiều cao khoảng 20-30cm, phát triển cân đối thì có thể đem trồng.

* Kỹ thuật trồng:

- Điều kiện trồng: Cây thích nghi ở những nơi ẩm thấp, đất trồng Feralit phát triển trên các loại đá mẹ: Grannit, Gnai, phiến thạch sét, phiến thạch mica, sa phiến thạch… Đất còn tương đối tốt, tỷ lệ mùn tầng mặt 2-3%, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, tầng đất dày trên 60cm, tơi xốp, khả năng thấm nước và thoát nước tốt.

Có thể trồng dưới tán rừng ẩm, độ tàn che 0,4- 0,7. Chọn địa hình thuận lợi cho cây trồng phân tán hay trong các mô hình nông lâm kết hợp ở những nơi đất giàu mùn và đủ ẩm.

- Tiêu chuẩn cây con đem trồng: cao 20-30cm, cây phát triển cân đối, không sâu bệnh.

- Thời vụ trồng: vụ xuân khi có mưa phùn hoặc đầu mùa mưa.

- Làm đất theo hố, quy cách hố: 40x40x40cm, khoảng cách giữa hàng với hàng là 3mm, giữa hố với hố là 3m. Hố bố trí so le giữa các hàng theo hình nang sấu. Khi cuốc hố tách riêng phần đất tốt, đất xấu. Lấp hố bằng đất tốt khi cuốc lên và đất xung quanh cùng với cỏ rác, thảm khô mục lấp phần đáy hố. Vun đất theo hình mai rùa. Thời gian cuốc hố phải hoàn thành trước lúc trồng rừng 1 tháng.

- Bón phân: Mỗi hố bón lót 3-5kg phân chuồng và 50g lân.

- Kỹ thuật trồng: Trồng bằng cây con có bầu. Trồng cây vào những ngày có mưa nhỏ hoặc râm mát. Rạch vỏ bầu, bới 1 lỗ giữa hố sâu bằng chiều cao của bầu cây trồng. Đặt cây sao cho cổ rễ ngang mặt hố, rồi vun đất xung quanh gốc cây, tránh dẫm vào bầu làm vỡ bầu. Chú ý phải tạo độ che bóng cho cây trong giai đoạn mới trồng.

Kỹ thuật gieo ươm và gây trồng cây nhàu

Kỹ thuật gieo ươm và gây trồng cây nhàu

Hạt giống cây nhàu có sức nảy mầm yếu nên sơ chế xong cần khẩn trương xử lý và gieo ươm ngay, không nên bảo quản lâu.


I. Kỹ thuật gieo ươm cây Nhàu

1. Chọn cây mẹ lấy giống

a) Lấy hạt giống: Cây đã qua tuyển chọn, độ tuổi trung niên, cây đã ra quả, hình thái thân và tán lá đẹp, cân đối, sinh trưởng trên mức trung bình, sai quả, hạt tốt. Không lấy giống trên những cây già, cây sinh trưởng yếu kém, cong queo, sâu bệnh, bị chèn ép, lệch tán, cụt ngọn. Ví dụ: Thảo quả, Nhàu,…

b) Lấy hom giống: Cây đã được tuyển chọn, trẻ hóa, tác động để tạo nhiều chồi/cành làm vật liệu giâm hom. Các loài thiếu hạt giống, cây dễ giâm hom.

2. Thu hái giống

Thu hạt giống: khi quả hạt có dấu hiệu chín hình thái hay chính sinh lý (vỏ, quả/hạt đổi màu sắc, hạt chắc cứng, phôi và mầm hạt phát triển đầy đủ…), một số quả/hạt bắt đầu phát tán (khoảng 10 – 15 %).

Thu hom giống:

+ Hom cành: nên chọn những cành bánh tẻ, chưa hóa gỗ hoàn toàn; mỗi hom giâm có ít nhất 2 chồi nách lá. Lấy hom vào thời tiết râm mát, bảo quản trong môi trường ẩm, thời gian bảo quản càng ngắn càng tốt, tối đa không nên quá 24h.

+ Hom thân: nên chọn những thân không quá non, không quá già, hình thái đẹp, không cụt ngọn, lá phát triển bình thường.

+ Hom rễ, hom củ: Chọn những củ không bị sâu bệnh, không tổn thương cơ giới, có khả năng cho ra mầm…

3. Sơ chế hạt giống

- Quả khô: Đánh đống ủ 2-3 ngày cho chín đều. Phơi dưới nắng nhẹ 2-3 ngày, thu lấy hạt tách ra ở 2-3 nắng đầu. Hạt có dầu không phơi dưới nắng to trên nền xi măng, hạt có cánh nhỏ làm sạch trước khi phơi.

- Quả thịt: Đánh đống ủ 2-3 ngày cho chín đều. Sau khi ủ có thể ngâm nước một vài ngày sau đó chà xát, đãi lấy hạt tốt rồi hong phơi cho khô ráo.

- Quả hạch: Đánh đống ủ 5-7 ngày hoặc lâu hơn cho chín đều. Om trong nước nóng khoảng 60 – 65° (3 sôi + 2 lạnh) trong thời gian 30-40 phút rồi dùng dao tách đôi phần thịt quả ra khỏi hạt khá dễ dàng.

4. Bảo quản hạt giống

- Bảo quản khô thông thường (khô mát): cho hạt vào túi nilong, chum, vại, bình, lọ. Rải một lớp tro, vôi bột lên trên, gắn kín. Đặt nơi khô ráo, thoáng mát. Thời gian bảo quản thường dưới 1 năm.

- Bảo quản khô-lạnh: Cho hạt vào túi nilong, dán kín. Đặt trong kho lạnh hay tủ lạnh. Duy trì nhiệt độ từ 0-5°C.

- Bảo quản ấm - lạnh: Cho hạt vào thùng sắt, gỗ, bao tải, túi nilong. Đặt trong kho lạnh hoặc tủ lạnh và duy trì nhiệt độ từ 5 – 10°C. Tạo điều kiện thông thoáng nhưng tránh làm khô hạt hay giảm hàm lượng nước trong hạt.

- Bảo quản ẩm tạm thời (ẩm - mát): Trộn hạt với cát ẩm theo tỷ lệ 1 hạt/2-3 cát tính theo thể tích. Đánh thành luống cao 15-20cm rồi phủ lên trên một lớp cát ẩm. Để nơi ẩm mát, thông thoáng, xáo trộn định kỳ, loại bỏ những hạt mốc, thối. Khi cát khô sàng riêng hạt, làm ẩm cát rồi lại trồn đều, đánh lống bảo quản tiếp. Độ ẩm cát thích hợp là 20 – 25% (cát nắm không rịn nước, tự rã từ từ sau khi buông tay). Thời gian bảo quản không quá 4 tháng, thông thường trên dưới 1 tháng.

- Không nên bảo quản:
Hạt giống mất sức nảy mầm, sơ chế xong cần khẩn trương xử lý và gieo ươm ngay, không nên bảo quản lâu.

5. Xử lý hạt giống

- Chỉ cần ngâm nước lã: Hạt võ rất mỏng, dễ thấm nước, chỉ ngâm nước thường 20 – 25°C trong 1-2 giờ hoặc lâu hơn rồi đem ủ.

- Ngâm nước ấm 35 – 40°C (2 sôi + 3 lạnh) trong 6-8 giờ: Cho các loại hạt có dầu, vỏ mỏng rồi đem ủ.

- Ngâm nước nóng già 70 - 80°C (3 sôi + 2 lạnh) trong đó 4-5 giờ: cho các loại hạt lớn, vỏ dày, cứng rồi đem ủ.

- Ngâm nước sôi (95 - 100°C) trong 0,5-1 phút, sau đó ngâm vào nước ấm trong 8-10 giờ cho trương nở rồi đem ủ.

- Xử lý đặc biệt: Chặn một phần, khía hay mài hạt đối với hạt dạng hạch, vỏ cứng, có lớp áo keo khó thấm nước; đốt qua lửa; dùng axit rồi mang ngâm nước ấm hay nóng và đem ủ.

- Khử trùng hạt giống: Ngâm hạt trong dung dịch thuốc tím 0,1 % trong 1-3 giờ, rửa lại hạt bằng nước sạch rồi đem xử lý nhiệt độ như trên. Có thể dùng Benlat, Formon, hay PCNB… nhưng phải theo chỉ dẫn.

6. Gieo hạt

- Gieo tạo cây mầm để cấy: Gieo hạt đã xử lý lên luống cát (hay luống đất + phân hoai) để tạo cây mầm đủ tiêu chuẩn rồi đem cấy vào bầu hay luống đất ( tạo cây rễ trần). Thường áp dụng cho các loài cây có hạt nhỏ, hạt giống khan hiếm, đắt.

- Gieo thẳng vào bầu: Đem hạt đã nứt nanh gieo vào bầu ở các luống ươm, số lượng từ 1-3 hạt/bầu tùy theo đặc điểm và tình trạng hạt giống. Áp dụng cho loại hạt lớn, nảy mầm nhanh, nứt nanh đồng loạt.

- Đặc biệt: Có thể gieo thẳng hạt đã xử lý vào hố trống mà không qua khâu gieo ươm.

- Chăm sóc luống gieo:

Che tủ: Tủ mặt luống bằng rơm rạ đã khử trùng.

Bảo vệ: Chống kiến, chuột, gia cầm hại hạt và mầm.

Tưới nước giữ ẩm thường xuyên.

Làm cỏ phá váng, tỉa dặm cây và phòng trừ sâu bệnh theo định kỳ

7. Tạo cây con

- Cây con có bầu kích thước lớn ( Đường kính 10 -12 cm, cao 15- 20cm): Áp dụng cho cây con trên /dưới 2 năm tuổi.

- Cây con có bầu kích thước trung bình (Đường kính 8- 10 cm, cao 12-15 cm): Áp dụng cho cây con trên 1 năm tuổi sinh trưởng chậm hay dưới 1 năm tuổi sinh trưởng nhanh.

- Cây con có bầu kích thước nhỏ ( Đường kính 4-5 cm cao, 6-8 cm): Nhưng thường chỉ dùng cho Keo, Bạch Đàn.

- Có thể tạo cây rễ trần để trồng: Cây trồng dễ sống, sinh trưởng nhanh, có thể trồng bằng thân cụt (Stump).

- Có thể trồng bằng hom thân/cành cắm trực tiếp vào hố: Loài cây rất dễ ra rễ từ hom thân và cành.

8. Hỗn hợp ruột bầu (vỏ bằng túi Polyetylen)

- Đối với cây mọc nhanh: 94% đất tầng mặt +5% phân chuồng hoai + 1% supe lân. (Có thể gia tăng thêm 5% phân chuồng hoai và giảm bớt lượng đất tương ứng).

- Đối với cây mọc chậm: 89% đất tầng mặt + 10% phân chuồng hoai + 1% supe lân. (Có thể tăng thêm 5% phân chuồng hoai và 1% lân và giảm bớt lượng đất tương ứng).

9. Cấy cây vào bầu

- Bứng cây mầm: Khi cây đủ tiêu chuẩn ( Dựa vào kích thước và số là, tùy theo loài) và đã chuẩn bị xong bầu cần bứng từng cây để cấy. Tưới đẫm nước luống gieo, dùng bay nhỏ để bứng từng cây hay cụm cây, rũ nhẹ đất cát và đem ngâm rễ trong khay nước cho ngập phần rễ mầm. Bứng cây vừa đủ để cấy hết trong buổi, không để cây mầm sang buổi sau.

- Kỹ thuật cấy: Dùng que nhọn tạo một lỗ giữa bầu đủ sâu và rộng theo kích thước của bộ rễ. Đặt phần rễ cây ngay ngắn vào giữa lỗ sao cho cổ rễ hơi thấp hơi miệng hố rồi nhấc nhẹ lên cho rễ khỏi bị quằn. Một tay vẫn giữ cây, tay kia dùng que cắm sâu vào bên ngoài hố rồi bẩy nhẹ vào trong để ép đất vào rễ và gốc cây. Có thể dùng thêm các đầu ngón tay để ấn nhẹ đất quanh gốc và xóa lấp vết hố mới tạo ra.
Chú ý: chọn thời tiết cấy râm mát và tạo độ ẩm cao cho bầu trước khi cấy. Cần che bóng và tưới nước đủ ẩm thường xuyên sau khi cấy.

10. Kỹ thuật chăm sóc

- Che nắng: Ngay sau khi cấy xong, dùng vật liệu che tủ đã được chuẩn bị để che cho cây, tạo bóng râm che chắn được khoảng 70-75% ánh nắng cho tới khi cây phục hồi. Sau đó tùy loài cây và giai đoạn phát triển, thay dần tấm che có độ che bóng giảm xuống; thường là giảm xuống 50% rồi 30% và dỡ giàn che, mở sáng hoàn toàn để huấn luyện cây 1-2 tháng trước khi đi trồng.

Đối với những cây ưa sáng ngay từ khi nhỏ (Thông Ngựa, Trám, Sưa, Xoan…) có thể dùng ràng ràng (tế, guột/vọt) để cắm trực tiếp lên luống thay thế cho giàn che.

Để chắn mưa có thể làm giàn che mài nghiêng nhằm kết hợp phủ vải nhựa khi cần thiết. Ngoài ra cần chú ý cả việc che chắn gió hại cho cây con trong mùa mưa bão hoặc gió Tây Nam khô nóng.

Tưới nước:

* Lượng nước và số lần tưới: Một tháng đầu sau khi cấy, tưới mỗi ngày 1 lần, lượng nước tưới 2-3 lít/m2. Từ tháng thứ 2 sau khi cấy nước khi xuất vườn 1-2 tháng, tưới 1-2 ngày/ lần, 4-5 lít/m2. Thời tiết khô nóng nên tăng thêm số lần và lượng nước tưới.

* Cách tưới: Luống nền mềm tưới phun bằng thùng nước có hoa sen hay thiết bị tưới phun mưa. Luống nền cứng hay bề ươm cây tưới thấm bằng cách dẫn hay đổ hoặc tháo nước ngập 1/3 thành bầu, sau 8 giờ tháo hết nước thừa còn lại.

- Làm cỏ xới đất: Tùy theo tình hình cỏ dại và đất đai mà từ 10-15 ngày hoặc 20-30 ngày (thường là từ 2-3 tuần) làm cỏ 1 lần, kết hợp xới đất phá váng bề mặt và cấy dặm những cây bị chết. Dùng tay nhỏ cả gốc cỏ lúc còn non rễ chưa phát triển và dùng bay hay que nhọn xới nhẹ đất mặt kết hợp xén đào hết gốc cỏ già, thân ngầm cỏ, nhặt sạch đưa ra khỏi luống. Kết hợp nhổ bỏ những cây bị sâu, bệnh để đốt, tỉa bớt và tận dụng cây ở chỗ dày dặm vào chỗ thưa hay không có cây.

- Bón phân:

Bón thúc vào lúc cây có biểu hiện thiếu dinh dưỡng: Áp dụng cho cây gieo ươm trên luống, trong bầu đặt nền mềm và nền cứng cho cả đất luống hay ruột bầu đã được bón đủ từ đầu.

Loại phân thường dùng là N, P, K hoặc NPK hỗn hợp.

Phương pháp bón thúc bằng cách hòa phân trong nước để tưới hoặc phun.

Liều lượng thường dùng: 0,5kg phân NPK hòa trong 370 lít nước, tưới 2-3 lít cho 1m2 mặt luống.

Cách bón: Dùng thùng có hoa sen tưới vào lúc râm mát; Sau khi tưới phân, rửa lá bằng cách tưới lại 2 lít nước lã cho 1m2 mặt luống; thường bón 2 -3 lần, cách nhau ít nhất là 1 tuần.

- Đào bầu và xen rễ:

* Đối với cây con có bầu: Kết hợp đồng thời giữa đảo bầu và xen rễ nhằm phân loại cây theo các nhóm sinh trưởng và chất lượng, điều tiết cự ly cây, kết hợp vệ sinh luống ươm và kích thích cây ra thêm nhiều rễ con, hạn chế rễ cọc phát triển, đồng thời hãm cây ở giai đoạn cuối.

* Đối với cây rễ trần: Thời gian xén rễ thích hợp khi cây được 2-3 tháng tuổi; cây 1 năm tuổi cần xén ít nhất 2 lần và lần cuối cùng là trước khi xuất vườn 1 tháng.

- Hãm cây: Ngừng tưới nước hoặc giảm dần số lượng và lượng nước tưới cho cây trước khi xuất vườn 1 tháng. Ngừng tưới hay chỉ tưới phân P, K, không tưới phân N trong 1 tháng cuối. Ngừng che nắng hoặc dỡ bớt giàn che 1-2 tháng trước khi đem trồng.

11. Tiêu chuẩn cây con xuất vườn.

Cây con xuất vườn cần đạt các tiêu chuẩn sau:

(1)- Tuổi cây được nuôi dưỡng ở vườn đúng quy định theo từng loài cây và mục đích trồng;
(2)- Kích cỡ chiều cao, đường kính cổ rễ cân đối theo đúng quy định;
(3)- Sinh lực tốt, phát triển cân đối, khỏe mạnh, không sâu bệnh và cụt ngọn, nhất là đối với cây lá kim, cây nảy chồi kém. Cây xuất vườn không ở giai đoạn thay lá và đang ra lá non;
(4)- Bộ rễ không bị tổn thương, phát triển nhiều rễ phụ, không bị xây xát, ngập nát, long rễ, vỡ bầu, khô ngọn.

II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc


1. Chọn lập địa trồng

Kiểu 1: Có thực vật thân gỗ che phủ, đất còn tính chất đất rừng, tầng đất sâu ẩm. Loài cây có thể trồng: Thích hợp với hầu hết các loại cây dược liệu, đặc biệt là các loại cây có khả năng chịu bóng tuổi nhỏ.

Kiểu 2: Có cây bụi, gỗ nhỏ che phủ, đất còn mang tính chất đất rừng, tầng đất trung bình, hơi khô. Loài cây thích hợp: Những cây thuốc nam có thân bò, cần phải có cây khác để bám.

Kiểu 3: Đất có cây bụi thấp, hoặc đất trảng cỏ, tầng đất dày trung bình, hơi khô, nghèo mùn. Đây là hiện trường trồng cây dược liệu trên diện rộng, có thể phát triển mô hình vườn hộ, vườn gia đình.

2. Chọn phương thức trồng

Tùy yêu cầu và tình hình cụ thể để lựa chọn một trong các phương thức: Thuần loại, hỗn giao, nông lâm kết hợp (NLKH), trồng dưới tán, hay trồng dưới tán rừng tự nhiên, dưới tán rừng trồng.

3. Chọn mật độ trồng

- Mật độ thấp: Dưới 1.000 cây/ha; Đây là một độ trồng chủ yếu của cây dược liệu quý hiếm, nguồn giống khó khăn và cho thu hoạch lâu năm (Nhàu,…).

- Mật độ trung bình: 1.000 – 2.500 cây/ha; Áp dụng cho cây dược liệu thân, lá (Chóc máu,…).

- Mật độ cao: Trên 2.500 cây/ha (thậm chí trên 5.000 cây/ha như loài Củ Dòm, Sa nhân); Áp dụng cho cây dược liệu lấy củ, rễ, thường mọc thành cụm, khóm.

4. Xử lý thực bì và làm đất

- Xử lý thực bì và đào hố cục bộ:
Áp dụng cho hầu hết các trường hợp trồng cây dược liệu. Hố đào kích thước 30x30x30cm (bầu trung bình) hay 40x40x40cm (bầu lớn).

- Xử lý thực bì toàn diện và cây đất: Chỉ áp dụng cho một số trường hợp trồng cây dược liệu trên quy mô nhỏ như vườn hộ. vườn gia đình.

5. Bón lót

- Bón đầy đủ: Phân chuồng hoai (hoặc Phân hữu cơ sinh học), NPK; nên áp dụng cho tất cả các loài cây khi điều kiện cho phép. Lượng phân bón thông thường: 2-5kg phân chuồng hoai (hoặc 0,5kg phân hữu cơ sinh học) + 30-50g NPK (hoặc 15g Supe lân).

6. Thời vụ trồng

- Miền Bắc: Có thể trồng 2 vụ chính - vụ Xuân tháng 2-4, vụ Thu tháng 7-9.

- Miền Trung: Vụ Thu Đông (tháng 9 đến tháng 12); vùng núi và nơi có lập địa thích hợp có thể trồng thêm vụ Xuân (từ tháng 1-3).

- Miền Nam: Trồng vào đầu mùa mưa (tháng 6 đến tháng 10).

7. Kỹ thuật trồng cây

- Trồng cây con có bầu:
Trộn đều phân và đất trong hố; đặt bầu cây ở vị trí trung tâm sao cho mặt trên bầu ngang bằng tay hơi cao hơn so với mặt đất mép hố: Rạch và xé bỏ vỏ bầu. Đặt cây thật ngay ngắn rồi dùng tay gạt và lén đất chặt ít nhất là ½ phần dưới bầu, dùng cuốc cào vun đất và dùng chân dẫm đất xung quanh gần sát với thành bầu, tiếp tục sửa thế cây và vun đất cao hơn mặt bầu độ 2-3cm. Nếu có điều kiện có thể tưới nước ngay sau khi trồng, nếu thời tiết khô hạn hay nắng nóng đột xuất trong thời vụ trồng cần tiếp tục tưới nước thời gian đầu cho tới khi thời tiết thuận lợi.

- Trồng cây con rễ trần: Chọn thời tiết trồng cây phù hợp (râm mát, mưa nhỏ, đất đủ ẩm) mới đem cây ra trồng. Cắt bỏ bớt lá và cành bên và rễ cọc nếu dài. Trộn đất và phân trong hố, moi một lỗ phù hợp với kích thước của bộ rễ và có phần sâu hơn. Đặt cây ngay ngắn vào lỗ, một tay giữ cây, tay kia gạt đất và lèn nhẹ cho đến khi đất lấp đầy miệng hố, dùng tay kéo nhẹ cây lên một chút cho rễ duỗi thẳng và cổ rễ hơi thấp hơn mép hố, đồng thời dùng chân dẫm chặt đất sát xung quanh gốc cây, vun đất vừa đủ so với mặt đất. Dùng rơm ra, cỏ khô hay lá cây che phủ quanh gốc cây rồi tưới đẫm cho cây vừa trồng. Có thể cắm thêm rào bảo vệ và chống gió lay.

8. Chăm sóc cây trồng

- Năm thứ 1: Chăm sóc 2-3 lần. Nội dung chăm sóc: Trồng dặm lại những cây bị chết, phát dọn thực bì cạnh tranh, làm cỏ, xới đất quanh gốc 40-45cm, vun gốc, sửa thế cây, bón thúc, phòng chống gia súc và sâu bệnh gây hại.

- Năm thứ 2: Chăm sóc 3-4 lần. Nội dung chăm sóc: Phát dọn thực bì, làm cỏ, xăm xới đất quanh gốc 50-70cm, vun gốc, sửa thế cây, tạo tán, bón thúc, diệt trừ sâu hại.

- Năm thứ 3: Chăm sóc 3- 4 lần. Nội dung chăm sóc: Phát dọn thực bì cạnh tranh, làm cỏ, xới đất quanh gốc 70-100cm, vun gốc, diệt trừ sâu hại.

- Các năm tiếp theo: Tiếp tục chăm sóc, nhất là sau khi thu hoạch.

9. Bảo vệ cây trồng

- Phòng chống gia súc: Cần quản lý việc chăn thả ở giai đoạn cây còn non.

- Phòng chống sâu bệnh: Cây dược liệu trong tự nhiên rất ít khi bị dịch sâu bệnh gây hại. Một số loài cây khi trồng có thể xuất hiện dịch bệnh, do vậy cần có biện pháp điều tra phát hiện và tổ chức phòng trừ theo khả năng cho phép.

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2018

Cây nhàu trị phong thấp, nhức mỏi

Cây nhàu trị phong thấp, nhức mỏi

Đông y cho rằng, rễ nhàu có tác dụng nhuận trường, lợi niệu, làm êm dịu thần kinh, hạ huyết áp.


Cũng như nhiều loại cây cỏ khác, tùy theo địa phương mà nhàu cũng có nhiều tên gọi khác nhau như nhàu núi, nhàu rừng, nhàu lớn…, tên khoa học Morinda citrifolia L, thuộc họ cà phê (Rubiaceae).

Cây nhàu mọc hoang ở những nơi ẩm thấp như ở góc vườn, bờ rào, bờ ao, dọc theo sông suối hay trồng làm thuốc ở những vùng nhiệt đới châu Á hoặc châu Đại dương, thường thấy nhiều tại các nước như Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam.

Bộ phận thu hoạch để làm thuốc là lá, vỏ cây, rễ và quả nhàu. Trong đó rễ nhàu là được sử dụng nhiều hơn cả. Rễ nhàu được rửa sạch, thái lát mỏng và phơi hay sấy khô để làm thuốc; các bộ phận khác của cây được dùng tươi là chủ yếu. Dược liệu được thu hoạch quanh năm nhưng lá nhàu sử dụng tốt nhất vào mùa xuân, còn quả vào mùa hạ.

Đông y cho rằng, rễ nhàu có tác dụng nhuận trường, lợi niệu, làm êm dịu thần kinh, hạ huyết áp, nên thường sử dụng rễ nhàu để trị cao huyết áp, nhức mỏi tay chân do phong thấp, đau lưng.

Quả nhàu có công năng nhuận trường, lợi tiểu, kích thích tiêu hóa, trừ thấp nhiệt, điều kinh. Do vậy thường sử dụng quả nhàu để trợ tiêu hóa, chống táo bón, điều hòa kinh nguyệt, chữa bạch đới, băng huyết, hỗ trợ trị chứng tiểu đường, cao huyết áp…

Liều lượng: Với quả nhàu tươi dùng ngoài không kể liều. Nếu dùng quả khô hoặc chế phẩm trà túi lọc pha như trà uống bình thường.

Còn với người bình thường khỏe mạnh, trẻ tuổi mỗi ngày chỉ cần uống 30ml. Đối với người cao tuổi uống 60ml/ngày vào các buổi sáng và chiều…Để tham khảo và áp dụng trị liệu một số chứng bệnh từ cây nhàu, dưới đây xin chỉ giới thiệu những phương tiêu biểu.

* Trị chứng stress, trầm cảm (kể cả chấn thương): Lấy quả nhàu ép lấy nước cốt uống. Uống vào lúc đói, từng ngụm nhỏ giữ trong lưỡi và cuống họng.

* Dưỡng tóc, da đầu: Dùng nước ép của quả nhàu thoa lên da đầu.

* Chữa nấm da, bầm tím (kể cả vùng da xương bị đau): Lấy quả nhàu tươi chà lên da bị nấm hay bầm tím nhiều lần trong ngày. Riêng để giảm đau vùng da xương có thể ngâm một lượng quả nhàu tươi giã nhuyễn cùng nước ép quả nhàu và chút nước ấm vào bông gạc tạo thành miếng đắp lên vùng da xương đau nhức, ngày thay 1 lần.

* Dùng cho huyết áp cao (kể cả đau lưng, nhức mỏi chân tay): Rễ nhàu 20 – 40g sắc lấy nước uống hoặc nấu thành cao lỏng tỉ lệ 1: 3; cũng có thể sao vàng rồi ngâm rượu uống ngày 2 lần, mỗi lần 1 chén chừng 30ml.

* Trị phong thấp, nhức mỏi:
Làm món quả nhàu ngâm với đường. Quả nhàu 1kg, đường trắng 300g, cho quả nhàu đã rửa sạch vào lọ thủy tinh, ủ thật chín rồi trộn đều với đường đậy nắp kín để trong 3 tuần (21 ngày), mang ra tán nhuyễn lọc lấy nước cốt, bảo quản cẩn thận (cho tủ lạnh nếu có) dùng dần. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 thìa canh (30ml), vào trước bữa ăn cơm hằng ngày.

Hay quả nhàu non hoặc rễ nhàu 600g, thái lát mỏng phơi hoặc sấy khô, cho vào 1 lít rượu cao độ (40 – 45 độ) sau 3 tuần là dùng được. Ngày uống 1 – 2 lần trước bữa ăn, mỗi lần uống khoảng 30 – 50ml.

* Kích thích tiêu hóa, co sản phụ: Lấy vỏ cây nhàu 8 – 12g, sắc uống ngày 1 thang.

* Làm êm dịu thần kinh, hạ sốt (dùng cho cả chảy máu cam): Lá nhàu tươi 20 – 30g, sắc lấy nước uống ngày 2 lần. Hoặc nấu canh ăn cũng hiệu nghiệm.

Công dụng chữa bệnh từ trái chùm ruột

Công dụng chữa bệnh từ trái chùm ruột

Mặc dù không được nhiều người chú ý bởi không hấp dẫn vị giác, nhưng trái chùm ruột là trái cây có thể khống chế rất tốt một số bệnh thông thường như bệnh gan, phổi…


Theo các chuyên gia y tế, quả chùm ruột chứa 0,73 – 0,90% protide, 0,6 – 0,76% lipide, 5,89 – 7,29% glucide, lượng vitamin C đạt tới 40mg % và nhiều dưỡng chất khác có tác dụng rất tốt trong việc lọc máu, kích thích sự thèm ăn, trị viêm phế quản, rối loạn tiêu hóa, viêm tiết niệu và tiêu chảy.

Không chỉ vậy, một số kết quả nghiên cứu gần đây đã chứng minh hiệu quả trị bệnh của chùm ruột như sau:

1. Trị bệnh gan

Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of Chinese Integrative Medicine (Trung Quốc) cho biết, chất chống ôxy hóa dồi dào trong quả chùm ruột có tác động tích cực đến quá trình điều trị bệnh gan.

2. Trị xơ nang phổi


Một công bố khác được xuất bản trong tạp chí Molecular Pharmacology (Mỹ) cho thấy, tinh chất từ nước ép chùm ruột cũng hỗ trợ đắc lực trong việc điều trị bệnh xơ nang phổi.

3. Điều trị chứng huyết áp cao

Không chỉ thế, một bài báo đăng trên tạp chí European Journal of Pharmacology (châu Âu) khẳng định, chiết xuất từ lá chùm ruột cũng có tác dụng hạ huyết áp rất mạnh.

4. Chống viêm, giảm đau

Trong khi đó, kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Asian Pacific Journal of Tropical Biomedicine (châu Á) chỉ ra rằng, chiết xuất từ lá chùm ruột còn có khả năng chống viêm, giảm đau và chống ôxy hóa mạnh mẽ.

5. Trị tiêu chảy

Ngoài ra, theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature and Science cho rằng, các dưỡng chất trong lá chùm ruột cũng có thể ức chế và tiêu diệt vi khuẩn E.coli (gây tiêu chảy) và khuẩn tụ cầu rất tốt.

6. Đẹp da

Trái chùm ruột chứa nhiều vitamin C và chất chống oxy hóa mạnh nên rất tốt cho làn da. Da bạn sẽ tươi sáng, mịn màng hơn khi uống 1 ly nước ép chùm ruột mỗi ngày.

Bạn có thể dùng chùm ruột dưới dạng nguyên trái, ngâm nước đường, ép lấy nước, làm mứt, giã nát lá chùm ruột uống. Với những công dụng đặc biệt này, bạn nên “kết” món ăn vặt giá rẻ lại rất bổ dưỡng, có lợi cho sức khỏe này.

Lưu ý: Tuy trái và lá chùm ruột rất tốt cho sức khỏe, còn vỏ và rể lại chứa nhiều độc tố, gây hại cho sức khỏe.

Ca cao có thể giúp cải thiện chứng suy giảm trí nhớ

Ca cao có thể giúp cải thiện chứng suy giảm trí nhớ

Các chuyên gia tại Trung tâm Y khoa Đại học Columbia - Mỹ mới đây cho biết, thành phần có hoạt tính sinh học flavanol trong trái ca cao có thể giúp cải thiện đáng kể chứng suy giảm trí nhớ do tuổi tác.

Trong nghiên cứu được công bố trên tạp chí Khoa học thần kinh tự nhiên, các chuyên gia chia 37 tình nguyện viên khỏe mạnh độ tuổi 50-69 thành hai nhóm, một nhóm dùng thức uống chứa flavanol hàm lượng cao 900mg/ngày, nhóm còn lại dùng flavanol hàm lượng thấp, chỉ 10mg/ngày.

Các chuyên gia cũng chụp ảnh não, đo lưu lượng máu tại bộ phận chính của vùng chân hải mã gọi là vùng nếp nhăn hình răng cưa, khu vực phụ trách hình thành ký ức và thường sa sút theo tuổi tác.

Sau khi đối chiếu kết quả kiểm tra trí nhớ trước và sau cuộc thử nghiệm kéo dài 3 tháng, nhóm nghiên cứu nhận thấy nhóm được uống flavanol hàm lượng cao có mức độ cải thiện trí nhớ và lượng máu lưu thông đến vùng nếp nhăn hình răng cưa tốt hơn hẳn nhóm đối chứng. Thậm chí, “những người có trí nhớ ở độ tuổi 60 lúc bắt đầu nghiên cứu đã phục hồi năng lực ghi nhớ tương đương người ở độ tuổi 30-40 sau 3 tháng thử nghiệm” – Giáo sư thần kinh học Scott Small cho biết.

Được biết, ngoài ca cao chứa hàm lượng cao flavanol, hợp chất này còn hiện diện trong quả nho, việt quất, một số loại rau củ và trà nhưng với hàm lượng thấp hơn.