Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây trồng rừng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây trồng rừng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2018

Kinh nghiệm điều khiển sơri ra hoa

Kinh nghiệm điều khiển sơri ra hoa

Sơri là một trong số ít các loại cây trồng có thể chịu đựng và tồn tại được trong những điều kiện khắc nghiệt của môi trường như khô hạn, ngập úng, nước mặn, đất nghèo dinh dưỡng... Hiệu quả kinh tế khá cao so với một số cây trồng khác.


Cây sơri bắt đầu thu hoạch ổn định vào năm thứ 3, mỗi năm cho thu hoạch khoảng 8 đợt trái. Với mật độ 40 gốc/1.000 m2 năng suất từ 25 kg/cây, bình quân đạt khoảng 1 tấn trái/1.000 m2/năm. Bằng kinh nghiệm của mình, anh Trần Văn Hữu (ở ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thị xã Bến Tre) thực hiện cho sơri ra trái rải vụ tránh thu hoạch rộ cùng lúc rớt giá, tăng thêm lợi nhuận.

Phương pháp anh Hữu thực hiện như sau: Sau khi thu hoạch, tiến hành tỉa cành cho cây thông thoáng và nhận đủ ánh sáng, bón phân cho mỗi gốc 300 g NPK 16-16-8 kết hợp phun phân bón lá F.Bo ướt đều lên tán cây. Sau 10 ngày cây sẽ ra hoa đồng loạt, sau khi hoa nở rộ phun GA­­3, một gói cho bình 8 lít giúp cây đậu trái tốt.

Để cây sơri ra hoa sớm thì vào đầu mùa mưa (khoảng đầu tháng 4) tưới nước ướt đẫm cây, đồng thời dùng chế phẩm bón lá ra hoa C.A.T + F.Bo phun ướt đều tán cây hai lần (5 ngày một lần) cây sẽ ra hoa sớm và đồng loạt hơn vụ chính 15 ngày.

Còn muốn xử lý ra hoa trễ vụ thì khi cây ra hoa rộ vào đầu mùa mưa tiến hành làm cho hoa rụng bằng cách dùng cây chà quơ cho hoa rụng hoặc phun phân Urê, liều lượng 150 g/bình 8 lít. Sau khi hoa rụng xong bón cho cây một đợt phân rồi phun chế phẩm ra hoa C.A.T + F.Bo, phun ướt đều tán cây hai lần (7 ngày một lần) cây sẽ ra hòa đồng loạt và trễ hơn vụ 1; sớm hơn vụ 2 là 15 ngày.

Trên cùng một mảnh vườn, để hạn chế thu hoạch rộ một lần, nhà vườn có thể chia thành ba khu xử lý khác nhau.

Khu 1: Xử lý cho ra hoa đậu trái tự nhiên;

Khu 2: Xử lý ra hoa đậu trái trễ hơn khu thứ nhất 10 ngày;

Khu 3: Xử lý ra hoa đậu trái trễ hơn khu thứ nhất 20 ngày. Với cách phân bố này, nhà vườn sẽ hạn chế thu hoạch trái rộ một đợt.

Kỹ thuật làm sơ ri ra trái

Kỹ thuật làm sơ ri ra trái

Sơ ri một năm cho ra trái 2 vụ. Nhưng với kĩ thuật ngày nay một năm ta có thể cho ra hoa từ 6- 8 lần/ năm, tốt nhất là ta cho ra hoa khoảng 6 lần/ năm để cây có thời gian nghỉ và phục hồi năng lượng.



ĐẶC TÍNH CÂY SƠ RI:

- Ra hoa quanh năm, hoa chùm từ 4 - 8 hoa trên một cánh hoa.
- Sơ ri không kén đất trồng, phù hợp với những vùng đất cát pha hay đất phù sa cổ (đất feborit ). Lưu ý: Nếu trồng vùng đất sét hay đất phù sa, ta nên trồng trên mô cao để dễ xử lí hệ thống thoát nước cho tốt cây khỏi bị ngập úng và dễ xử lí ra hoa. Nhưng trong giai đoạn ra trái cây cũng cần nhiều nước, nếu thiếu nước trái sẽ không bóng và to.
- Ở Việt Nam thủ phủ trồng cây sơ ri nhiều nhất là: huyện Gò Công Đông Tỉnh Tiền Giang. Các vùng khác, vùng nào cũng có thể trồng được.

CHU KÌ

- Sơ ri một năm cho ra trái 2 vụ. Nhưng với kĩ thuật ngày nay một năm ta có thể cho ra hoa từ 6- 8 lần/ năm, tốt nhất là ta cho ra hoa khoảng 6 lần/ năm để cây có thời gian nghỉ và phục hồi năng lượng.
- Từ ngày ra hoa đến ngày thu hoạch trái chín, thời gian là 21 ngày (khoảng 3 tuần).
- Thời gian thu hoạch kéo dài từ 7 - 10 ngày mới hết trái trên cây (thời gian này có thể ít hoặc nhiều hơn, tùy thuộc vào một phần kĩ thuật xử lí đậu trái nhiều hay ít)

PHÂN BÓN:


- Giai đoạn 1: Cây phát triển, lượng phân N-P-K cân đối (có thể giảm K)
- Giai đoạn 2: Cây chuẩn bị làm trái, cân đối lượng phân N-P-K ( bằng nhau)
- Giai đoạn 3: Làm trái, tăng cường thêm K, vì giai đoạn này là giai đoạn quan trọng nhất đối với cây sơ ri. Nếu cây thừa đạm (N) thì cây sẽ tốt quá, cây sẽ phát triển lá không ra hoa và trái nhiều được. Vì vậy, ta nên tăng cường thêm hàm lượng K cao hơn thì cây sẽ ra hoa và đậu trái chất lượng hơn, trái sẽ ngọt hơn.

XỬ LÍ RA HOA:

- Cách 1: Nếu lần đầu tiên xử lí, ngưng nước ( cắt nước) một thời gian nhất định. Rồi ta tưới lại, phần này nhằm làm cho cây rụng bớt lá ( ức chế sinh trưởng) cây sẽ ra hoa nhiều hơn.
- Cách 2: Xịt KNO3 (nitrat kali) tỉ lệ kích thích ra hoa 250 gam/ bình 8 lit nước. Xịt từ 2- 3 lần, mỗi lần cách nhau 1 tuần.
Áp dụng 2 cách trên, cách nào cũng được, vì cây sơ ri chỉ xử lí ra hoa một vài lần đối với cây trồng ở dưới đất thì cây sẽ quen theo chu kì mà tự động ra hoa theo một thời gian nhất định (cây sơ ri bonsai trong chậu thì ta chăm sóc tốt, chỉ xử lí ra hoa khi nào cần thiết ).
Cách xử lí ra hoa này là kinh nghiệm của riêng tôi, chứ không phải theo bài bản hay sách vở gì cả. Trước kia tôi cũng áp dụng theo công thức sách vở nhưng tỉ lệ thành công không cao.
CHÚ Ý: Đây là giai đoạn quan trọng nhất nha!

THUỐC LÀM ĐẬU TRÁI

1/ Khi hoa vừa chớm nở, cánh hoa sẽ có màu hồng phấn hoặc hơi đỏ. Lúc này ta bắt đầu xịt lần 1
2/ Vì sơ ri ra hoa chùm từ 4 - 8 hoa/ cuống nên không bao giờ hoa nở đồng loạt cả. Cách một ngày sau ta xử lí xịt lần 2 và cũng lặp lại như thế lần 3 là OK.
3/ Khi ta thấy những cánh hoa lúc nở có màu hồng hoặc đỏ - giờ đã chuyển sang cánh hoa có màu trắng ngà là lúc ấy tỉ lệ đậu trái của cây sơ ri đã thành công (các bạn lưu ý rằng : bởi vì một cuống hoa có rất nhiều hoa nên hoa sẽ rụng bớt đi một phần hoa đực. Các bạn yên tâm đừng lo gì cả, một chùm hoa khi đậu trái còn lại 4-5 trái bẻ cũng mỏi tay rồi)

BÍ KÍP NÈ: CÔNG THỨC PHA THUỐC

- B1 (các bạn mua B1 nông dược loại nào cũng được, loại đậm đặc hoặc loại đã pha chế rồi GROW MORE)
- 2,4 DD: Thuốc khai hoang dạng nước (tỉ lệ pha: 1/1000) không nhất thiết phải nhiều đâu, chỉ cần có hơi thuốc 1 lượng nhỏ nhất định thì tỉ lệ đậu hoa đã thành công. Nên nhớ rằng: 2,4 DD là thuốc khai hoang nhưng hoạt chất chính là chất kích thích tăng trưởng tế bào, nếu các bạn dùng nhiều quá liều lượng thì trái sơ ri của các bạn sẽ bị dị dạng và chứa rất nhiều độc tố gây hại cho chúng ta.
CÁCH PHA THUỐC XỊT:
- Hai loại thuốc trên hòa chung lại với nhau theo tỉ lệ như sau: 100 ml B1 + 50 ml 2,4 DD ( nhiều quá để dành xịt, không sau cả)
- Mỗi lần xịt: 5 ml/ bình 8 lit.
- Khi trái đậu lớn bằng ngón tay út, khoảng 10 ngày sau nên xịt thêm thuốc dưỡng trái loại nào cũng được để trái to và bóng đẹp hơn.
Kinh tế lắm nha một 100 cây sơ ri chấp 200 cây nhản đó

Kỹ thuật trồng cây sơ ri

Kỹ thuật trồng cây sơ ri

Chọn cành sát mặt đất, vỏ chuyển màu nâu, bẻ gập ngước cho gãy phần lõi nhưng vẫn còn dính lại phần vỏ. Nhúng vết gãy vào dung dịch 2,4 D nồng độ 40-60 phần triệu và bó đất vào bọc nilon lại sau 1-5 tháng, cắt ra cho vô bầu đợi đem trồng mới.

1.Chọn đất và chuẩn bị đất
Sơri chủ yếu được trồng ở vùng Gò Công, trên đất cát giồng xa biển, đã đào ao lên nền vườn. Tiến hành cày hoặc cuốc lật 1-2 lần, sau đó phóng tuyến đào hố với khoảng cách 5 x 5m. Hố có kích thước 30 x 30cm + 5-7 kg phân hữu cơ 150g super lân.

2. Chọn giống và phương pháp nhân giống


Chọn cây 3-7 tuổi khỏe để làm giống.

a. Chiết cành:

Chọn cành sát mặt đất, vỏ chuyển màu nâu, bẻ gập ngước cho gãy phần lõi nhưng vẫn còn dính lại phần vỏ. Nhúng vết gãy vào dung dịch 2,4 D nồng độ 40-60 phần triệu và bó đất vào bọc nilon lại sau 1-5 tháng, cắt ra cho vô bầu đợi đem trồng mới.

b. Giâm cành:

Cắt các cành mới hoá nâu thành đoạn 20-25cm; nhúng vào dung dịch 2,4D nồng độ 40-60 phần triệu trong 15-20 phút. Sau đó đem giâm ở vườn giâm, khoàng cách giâm 12 x 12cm (70 cành/m2). Tưới nước giữ ẩm mỗi ngày.

Sau 1-5 tháng bứng cây cho vào bầu đem trồng.

3. Trồng và chăm sóc:

a. Thời vụ:

Tốt nhất nên trồng vào tháng 5-6. chậm nhất là qua tháng 7. sau khi trồng, dựng cây nọc để buộc cây sơri vào cho cây đứng thẳng.

Nếu có nguồn nước tưới trong mùa nắng, có thể trồng vào cuối tháng 10 đến hết tháng 11.

b. Làm cỏ, bón phân, xới xáo:

Trong thời gian cây chưa giao tán, cần làm cỏ định kỳ hoặc trồng xen rau màu để hạn chế cỏ.

Bón phân theo công thức sau: (g/cây)
 
Tuổi Urê Super Lân Kali Clorua
0 100 75 25
1 650 400 170
2 850 500 220
3 1000 650 250
4 1400 800 350
5 1800 900 450
6-7 2000 1200 500
8 trở đi 2200 1400 550



4. Phương pháp bón phân


- Cây chưa có trái

+ Bón Super lân 1 lần vào và dầu mùa mưa.

+ Bón thúc Urê và Kali chia làm 3 lần.

- Cây đã có trái:

+ Bón super lân 2 lần vào đầu và giữa mùa mưa.

+ Bón thúc Urê và Kali chia làm 5 lần theo 5 đợt hoa.

Mỗi đợt, Urê và Kali chia làm 2 kỳ: kỳ đầy lúc cây vừa đậu trái, kỳ sau ngay sau lúc thu hoạch rộ.

Kết hợp phân bón với xới xáo dưới gốc cây.

5. Tăng tỷ lệ đậu trái

Pha 2,4D (thuốc trừ cỏ lúa) nồng độ 40-50 phần triệu, cách pha:

+ Pha một muỗng canh đầy 2,4D trong một lít nước.

+ Pha một muỗng canh dung dịch trên trong 1 bình 8 lít nước. Phun ướt đều cây lúc cay trỗ hoa rộ.

6. Tưới vào mùa khô:


Nếu không tưới vào mùa khô, cây sẽ không ra hoa đậu trái.

Nếu có tưới, có thể thu hoạch trong mùa khô 1-4 vụ tùy vào khả năng.

Tuy nhiên, càng cho cây nghỉ, không ra hoa đậu trái 1,5-2 tháng/năm để dưỡng sức cây.

7. Điều chỉnh ra hoa trái đợt rộ:


Có 2 biện pháp:

a. Bơm nước (không bị nhiễm phèn, mặn) tưới dẫm cây vào tháng 4, trước khi có mưa đầu mùa 10-15 ngày, cây sẽ ra hoa không trùng đợt rộ.

b. Khi cây ra hoa đầu mùa mưa, hủy bỏ đợt hoa này bằng cách:

- Dùng chà quơ cho rụng hoa.

- Phun Urê nồng độ 2/100.

- Không phun 2,4D.

Sau đó, bón thúc 1 đợt phân, cây sẽ ra hoa đợt tiếp theo không trùng với đợt rộ.

8. Tỉa cành – tạo tán


+ Cây cao 0,3m: bấm đọt, chừa 3-4 cành tược khỏe mạnh.

+ Cây cao 0,8m: bấm đọt, chừa 4-6 cành tược trên mỗi cành tược cấp 1.

+ Khi cây cao 2-2,2m: luôn phát đọt không cho cây cao thêm.

Cây quá già, uốn cành xuống để dễ thu hoạch.

9. Phòng trừ sâu bệnh


- Rếp sáp, rệp muội: Khi phát hiện phun Methyl Parathion, Sherzol, Bi 58, Azodrin, diazinon,… nồng dộ 1/600-1/800. phun khi thu hoạch xong cây không còn trái.

- Sâu đục thân: Phòng bằng cách tạo tán cho vườn râm, chặt cành sau tiêu hủy, phun Bi 58.
Trung tâm thông tin tư liệu

Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2018

Kỹ thuật trồng táo mèo năng suất cao

Kỹ thuật trồng táo mèo năng suất cao

Táo mèo được trồng ở vùng núi phía bắc, gần đây táo mèo được biết đến với công dụng tuyệt vời chữa được nhiều bệnh. Hơn nữa táo mèo có thể làm được si rô nên được mua về và sử dụng nhiều.

Táo mèo có vị chua, hơi chát, ít vị ngọt. Được trồng ở Sơn La, Hà Giang hay Mù Cang Chải. Loại táo này vỏ ngoài hơi sần, ráp, vỏ rất xanh.

Tác dụng của táo mèo: Tác dụng của táo mèo là điều trị các chứng rối loạn tiêu hóa do ăn nhiều thịt, dầu mỡ, trẻ em uống sữa không tiêu. Quả táo mèo có tác dụng giúp giảm cân, ăn uống ngon miệng, hạ mỡ máu, kháng khuẩn, bảo vệ gan, hạ lipid máu rõ rệt và giảm xơ vữa động mạch. Quả táo mèo có tác dụng giúp giảm cân, ăn uống ngon miệng, hạ mỡ máu, kháng khuẩn, bảo vệ gan, hạ lipid máu rõ rệt và giảm xơ vữa động mạch. Điển hình nhất là rượu táo mèo giúp tiêu hóa tốt với những ai ăn quá nhiều dầu mỡ và thịt động vật gây cảm giác chán ăn, ăn không ngon miệng.

Kỹ thuật trồng táo mèo:

Đất trồng: Cây phát triển mạnh nơi đất ẩm, tốt còn có tính chất đất rừng, thoát nước thích hợp trên đất feralit phát triển trên các đất khác nhau, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét nhẹ độ sâu tầng đất >50cm độ pH từ 5,5 -7.

Trồng cây: Tiến hành cấy cây con vào bầu khi trời dâm mát hoặc mưa nhẹ, tránh những ngày năng nóng. trước khi cấy cây cần tưới đất ướt đều trên luống gieo: cứ 1m2 tưới 4-6 lít nước, cây cấy sau khi nhổ phải để trong bát nước tránh khô dễ. Dùng que nhọn chọc một lỗ sâu 1-2cm ở giữa bầu, đặt cổ dễ ngang mặt bầu và dùng que ép chặt đất với rễ mầm. Sau khi cấy xong cần tưới và tạo dàn che cho cây, mức che khoảng 50-70% mặt luống.

Tưới nước: Thường xuyên tưới nước giữ ẩm đất, tuỳ tình hình thời tiết mà mà điều tiết chế độ tưới cho phù hợp. trong hai tuần đầu tưới một lần vào buổi sáng sớm và vào buổi chiều. Trước khi xuất cây vườn 15-20 ngày tuyệt đối không bón thúc và tưới nước hãm cây.

Bón phân: Từ tháng thứ 2 trở đi phải tiển hành kiểm tra khi dễ cọc phát triển ra ngoài đáy bầu, cần phải tiến hành đảo bầu và dùng kéo cắt phần dễ mọc qua đáy bầu. kết hợp phân loại cây tốt.

Tỉa cành: Có tình trạng cạnh tranh không gian dinh dưỡng chúng ta tiến hanh tỉa thưa từ 2-3 lần, tỉa những cây có chất lượng kém, bị sâu bệnh, cong queo, cụt ngon. cường độ tỉa thưa mỗi lần từ 10-15%.

Phòng và trị bệnh: Táo mèo thường bị hai bệnh thối dễ và thiếu dinh dưỡng khoáng. Với những bệnh này bạn thường xuyên kiểm tra và phun thuốc đúng thời điểm tránh cây bị chết.

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2018

Kỹ thuật trồng cây óc chó

Kỹ thuật trồng cây óc chó

Gần đây quả óc chó được mọi người khá ưa chuộng, bởi lợi ích của chúng. Quả óc chó được mọi người săn lùng ở nước ngoài, vì thế nó được nhập khẩu nhiều. Nhưng ít ai biết rằng ở Việt Nam cũng trồng được cây óc chó


Trái óc chó hay còn gọi là trái hồ đào, đông y gọi là nhục đậu khấu được coi là vị thần của các loại cây trái.  Quả óc chó to, rất cứng có vỏ ngoài màu lục và nạc, dễ hóa đen khi chà xát, có 2 van bao lấy hạt với 2 lá mầm to, chia thùy và nhăn nheo như nết của óc động vật. Óc chó có hai loại chính. Loại thứ nhất thường ra vào mùa thu, loại quả này có màu nâu vàng trơn, vỏ rất cứng và dày hình thuôn. Loại thứ hai còn gọi là óc chó tuyết, ra vào mùa đông, loại này có màu nâu vàng chấm đen, hình dáng tròn bẹp một phía. Lá của cây óc chó có thể hái quanh năm, còn quả thu hái vào tháng 9, tháng 10 đập vỏ ngoài để lấy nhân bên trong.

Óc chó chữa bệnh gì?: Nhân hạt óc chó có vị ngọt, tính ấm; có tác dụng làm mạnh sức, béo người, đen tóc, trơn da. Ở Trung Quốc, nó được xem như có tác dụng ôn bổ phế thận, định suyễn nhuận tràng. Người ta cho là nhân hạt rất bổ dưỡng vì có nhiều protid, có thể chống tràng nhạc, nhuận tràng, trị ỉa chảy, trị giun, dẫn lưu hệ da và bạch huyết. Ngoài ra, nhân óc chó còn được dùng để dùng chữa thận hư đau lưng, hư hàn ho suyễn, đại tiện khó khăn, đau chân tay.

Ngoài ra, từ xa xưa, ở các nước phương Tây, hạt óc chó dùng trị các loại bệnh như tràng nhạc, bệnh ngoài da, lao phổi, đái dầm, ký sinh đường ruột. Lá tươi dùng làm thuốc đặc hiệu chữa bệnh thuộc tạng lao, tràng nhạc, các bệnh về da như tróc lở, ghẻ ngứa, phát ban da. Nó cũng có tính giảm áp lực và giảm Glucose – huyết nhẹ.

Ở Việt Nam, cây óc chó được trồng chủ yếu ở một số vùng biên giới như Sa Pa (Lào Cai), Phó Bảng, Đồng Văn (Hà Giang), Cao Bằng… Cây óc chó là loại cây sống lâu năm, có thể cao tới 30m, vỏ nhẵn và có màu tro. Lá cây óc chó dài tới 40cm, kép lông sẻ, thường có từ 7 đến 9 lá chét, không cuống, hình trứng thuôn hoặc tròn dẹt một phía, khi vò ra có mùi hăng đặt biệt. Hoa đơn tính, màu lục nhạt; hoa đực xếp thành đuôi sóc thõng xuống; hoa cái xếp 2 đến 5 cái ở cuối các nhánh.

Kỹ thuật trồng cây óc chó:

Đây là một loại cây kén đất, khí hậu nên rất khó trồng, ở Việt Nam chỉ trồng được một số nơi, bạn cần chú ý trước khi trồng:

Điều kiện đất: Óc chó phát triển tốt nhất về đất đai màu mỡ và thẩm thấu, độ pH trung tính – pH 7.

Hố trồng óc chó: hố trồng sâu khoảng 10 cm so với chiều dài của rễ cây.

Thời gian trồng:  tốt nhất được trồng vào mùa thu hoặc với khí hậu Việt Nam bạn có thể làm trong mùa xuân.

Óc chó là cây được mọi người ưa chuộng bởi giá trị dinh dưỡng của hạt, nếu nhân rộng mô hình trồng óc chó sẽ thu được hiệu quả kinh tế cao.

Bí quyết trồng cây dẻ Trùng Khánh hạt to

Bí quyết trồng cây dẻ Trùng Khánh hạt to

Cây dẻ Trùng Khánh, Cao Bằng hay còn gọi là dẻ ván: thích hợp với đất đồi, sư­ờn đồi, s­ườn núi, đất nư­ơng rẫy cũ…, chỉ cần có tầng dày, tơi xốp, thoát nư­ớc tốt. Đất có độ pH từ hơi chua đến trung tính

Hạt dẻ được mệnh danh là trái cây bổ thận, khỏe xương, ăn có vị bùi và được mọi người ưa thích. Ngoài ra hạt dẻ còn được làm thuốc chữa bệnh. Ngày nay theo nghiên cứu hạt dẻ Trùng Khánh vừa to, giàu dinh dưỡng được nhiều người tin dùng. Bài viết dưới đây sẽ mách bạn bí quyết trồng hạt dẻ Trùng Khánh sao cho có năng suất cao.

Công dụng của hạt dẻ:
Hạt dẻ còn gọi là sơn hạch đào là hạt của cây dẻ có tên khoa học là Castanea Mollissima, thuộc họ sồi dẻ. Thành phần chủ yếu của hạt dẻ gồm có tinh bột, protein, lipit, các vitamin B1, B2, C, PP và các khoáng chất Ca, P, Fe…Hạt dẻ còn gọi là sơn hạch đào là hạt của cây dẻ có tên khoa học là Castanea Mollissima, thuộc họ sồi dẻ. Thành phần chủ yếu của hạt dẻ gồm có tinh bột, protein, lipit, các vitamin B1, B2, C, PP và các khoáng chất Ca, P, Fe…

Hạt dẻ được trồng ở đâu?

Hạt dẻ được trồng nhiều ở miền núi phía bắc Việt Nam do chúng thích hợp với điều kiện không khí lạnh Tuy nhiên hạt dẻ ngon nhật được cho là hạt dẻ Trùng Khánh được trồng ở Cao Bằng. Hạt dẻ Trùng Khánh khác biệt với các loại hạt dẻ khác, như: Hạt dẻ Trung Quốc, hạt dẻ Lạng Sơn, hạt dẻ Quảng Uyên…, bởi các tính chất và chất lượng đặc thù của nó. Về hình thái : hạt dẻ Trùng Khánh to đều gấp 5-6 lần hạt dẻ rừng, có hình dáng hơi tròn kích thước ba chiều gần bằng nhau, vỏ hạt màu nâu sẫm, rất bóng, trên vỏ có lớp lông tơ màu trắng nhạt, vỏ lụa mỏng, dễ bóc, nhân hạt có màu vàng tơ, vị bùi, thơm ngậy.

Kỹ thuật trồng cây dẻ:

Trồng cây dẻ trước tiên cầu có điều kiện về khí hậu:

Cây dẻ Trùng Khánh, Cao Bằng hay còn gọi là dẻ ván: thích hợp với  đất đồi, sư­ờn đồi, s­ườn núi, đất nư­ơng rẫy cũ…, chỉ cần có tầng dày, tơi xốp, thoát nư­ớc tốt. Đất có độ pH từ hơi chua đến trung tính (pH 5,5-7,0). Đất kiềm, đất chứa muối trên 0,2% thì cây sinh trưởng không tốt.

Chọn giống: Vì dẻ ván lấy quả là chủ yếu, là cây có nhiều chủng khác nhau nên cần hết sức chú ý khâu chọn giống. Trư­ớc tiên nên chọn những cây khỏe mạnh, sai quả đã đư­ợc trồng và thích nghi với khí hậu Trùng Khánh, Cao Bằng để lấy giống. Hạt chín vào tháng 9-10. Khi chín vỏ quả có màu xám, màu vàng xám, vỏ có thể có khía nứt để lộ hạt ra ngoài, vỏ hạt có màu nâu. Hạt lấy xong có thể gieo ngay hoặc cất trữ để đến mùa xuân đem gieo. Nếu gieo ngay tỷ lệ nảy mầm không cao.

Trồng dẻ:


Hạt cất ẩm, một lớp hạt một lớp cát ẩm, hàng tuần kiểm tra, đảo hạt, loại bỏ hạt thối và phun nư­ớc giữ ẩm.

Đất vư­ờn ươm cần cày kỹ, bón lót bằng phân chuồng hoai 30kg/10m2.

Hạt dẻ to nên có thể gieo theo hàng. Luống làm cao 30cm, trên luống làm rạch rồi gieo hạt. Rạch cách nhau 25-30cm, gieo hạt nọ cách hạt kia 15-20cm, hạt gieo đ­ược lấp đất sâu 2-3cm.

Hố trồng:
Hố đào 40x40x40cm.

Bón phân:  cần bón phân lót mỗi hố 40kg phân chuồng. Dẻ ván nên trồng thư­a, mật độ 400-500 cây/ha. Khi cây còn nhỏ, giữa các hàng dẻ có thể trồng khoai, đỗ, lạc, lúa. Về sau có thể trồng gừng. Những năm đầu cần xới xáo, vun gốc. Khi đã thành rừng rồi thì hàng năm cũng cần bón phân để xúc tiến cây sai hoa kết quả. Ngoài bón phân chuồng còn có thể dùng phân xanh, cỏ rác vùi vào gốc cây để làm cho đất tơi xốp, thoát n­ước nh­ưng giữ ẩm, có lợi cho cây sinh trư­ởng phát triển.

Lưu ý: Để tăng sản, ngoài khâu chọn giống còn cần nghiên cứu chế độ bón phân, tư­ới nư­ớc, tỉa cành, tạo tán v.v… chế độ quản lý, chăm sóc hợp lý.

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2018

Kỹ thuật trồng trám trắng

Kỹ thuật trồng trám trắng

Trám trắng là cây bản địa, đa mục đích, đ­ược nhân dân ta ­a chuộng. Là cây gỗ lớn. Trám trắng có thể cao 25 đến 30m, đ­ường kính ngang ngực 70-80cm, thân tròn thẳng, tán lá gọn và xanh quanh năm


1. Kỹ thuật hạt giống cây con.

Giống.

- Giống phải thu hái từ những cây đã có 2 mùa quả trở lên (9-10 tuổi), cây mẹ sinh trư­ởng tốt, phát triển cân đối, không bị sâu bệnh, cong queo.

- Quả trám trắng chín vào tháng 9-10. Khi thấy quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng mơ, ăn có vị chua ngọt, nhân hạt màu trắng mới thu hái. Không thu hái non ảnh hư­ởng đến chất lư­ợng cây con.

- Sau khi thu hái về, cần loại bỏ những quả kém phẩm chất, sau đó vun thành đống ủ trong 2-3 ngày. Ngâm quả vào n­ước nóng khoảng 60°C (2 sôi 3 lạnh) trong thùng có nắp đậy kín, sau 2-3 giờ vớt ra và tách lấy hạt, có thể đem gieo ngay hoặc bảo quản ẩm.

- Hạt chế biến xong cần bảo quản trong cát ẩm từ 5-8% hoặc bảo quản trong tủ lạnh có nhiệt độ ổn định 5°C.

V­ườn ­ươm: V­ườn ­ươm nên gần nơi trồng rừng và thuận tiện cho việc vận chuyển cây con. Mặt v­ườn cần bằng phẳng, thoát n­ước, rọi nắng và gần nguồn nư­ớc. V­ườn phải đặt xa nguồn bệnh và tách rời khu canh tác nông nghiệp.

Tạo bầu:

- Vỏ bầu đ­ược làm bằng PE màu trắng đục hay đen, bảo đảm độ bền để khi đóng bầu và vận chuyển không bị rách. Kích thư­ớc bầu 9x14cm, không đáy đục lỗ xung quanh để ­ươm cây 6-7 tháng và 12x18 cm có đáy như­ng cắt góc đục lỗ xung quanh cho cây ­ươm trong v­ườn 15-16 tháng.

- Thành phần ruột bầu gồm đất tầng A dư­ới tán rừng 90%, phân chuồng hoai 9% và Supe lân Lâm Thao 1%. Ba thành phần đ­ược trộn đều nhau.

- Bầu đư­ợc đóng đầy, chặt sau đó xếp thành luống rộng 0,8-1m, dài 5-10m, mặt bầu bằng phẳng. Các luống bầu đặt cách nhau 50-60cm để thuận tiện việc đi lại chăm sóc cây con. Xung quanh luống bầu lấp đất cao bằng 2/3 bầu, rải đất bột vào khe hở giữa các bầu.

Gieo ­ươm:

- Xử lý hạt: Ngâm hạt vào n­ước lã từ 10-12 giờ sau đó tiến hành ủ hạt. Chọn nền xi măng hoặc nền đất cứng ngoài trời, đổ 1 lớp hạt cát xuống d­ưới dày 5cm, tiếp đó rải 1-2 lớp hạt ở giữa sau đó đổ cát và san đều để cát lấp kín hết khe hở giữa các hạt trám, trên cùng rải 1 lớp cát dày 3-5cm và t­ới đẫm n­ước, dùng rơm rạ phủ lên trên để giữ ẩm. Sau 20 ngày hạt bắt đầu nảy mầm.

- Thời vụ gieo ­ươm thích hợp nhất là tháng 10-11 ngày sau khi thu hái và chế biến xong.

- Khi hạt đã nảy mầm áp dụng 1 trong 2 cách cấy cây như­ sau: để cho cây mọc khỏi mặt luống, khi lá đã xòa hết và màu lá đã chuyển từ vàng sang xanh thì nhổ lên đem cấy vào bầu, hoặc chọn những hạt đã nứt nanh đem cấy vào bầu, lấp kín đất dày 1cm và t­ưới nư­ớc cho đủ ẩm ngay sau khi cấy xong.

Chăm sóc cây:

- Giai đoạn cây con ở v­ườn ­ươm cần có dàn che bóng, mức độ che giảm dần theo tháng tuổi, 20 ngày đầu che bóng 100% sau đó giảm 50%, khi cây mầm đã có 1-2 lá thật (khoảng 40 ngày) thì giảm xuống 25%. Giỡ bỏ dàn tr­ước lúc trồng khoảng 1-1,5 tháng.

- Th­ường xuyên phải t­ưới nư­ớc đủ và định kỳ 20 ngày 1 lần làm cỏ phá váng cho cây con.

- Định kỳ bón thúc 1 tháng 1 lần bằng phân NPK tỷ lệ 2%, t­ới 3 lít/1m2, phải t­ưới rửa lá ngay sau khi t­ưới phân. Tuyệt đối không dùng đạm urê để tư­ới thúc cho cây.

- Thư­ờng xuyên quan sát để đề phòng nấm bệnh và sâu hại cây con. Nếu bị lở cổ rễ thì dùng Benlat nồng độ 0,03-0,05% phun đều lên luống và ngừng tư­ới nư­ớc. Nếu bị sâu ăn lá thì bắt bằng thủ công hoặc dùng thuốc Malathion nồng độ 0,1% phun 1 lít n­ước/5m2.

- Trong quá trình chăm sóc cây con ở vư­ờn ư­ơm cần tiến hành đảo bầu 2 lần, lầ 1 sau khi cấy 2 tháng và lần 2 tr­ớc lúc trồng 1-1,5 tháng.

Trồng rừng:

Vùng trồng: Trám có thể trồng được cả 3 miền Bắc, Trung Nam nơi có tính chất đất rừng, độ dày tầng đất trên 0,5m, thoát nư­ớc và nơi ít bị khô hạn.

Ph­ương thức trồng.

- Trám trắng có thể trồng hỗn giao với các loài cây bản địa khác và có sử dụng cây họ đậu che bóng 3-4 năm đầu. Kỹ thuật xử lý thực bì trong phư­ơng thức này là phát trắng lớp thực bì cũ, dọn sạch trên mặt đất sau đó thiết kế đào hố trồng rừng. Giữa 2 hàng cây chính gieo hoặc trồng 1 hàng cây phù trợ. Mật độ trồng là 1200-1600 cây/ha, trong đó trám trắng 50%.

- Trồng kết hợp với cây nông nghiệp trong 2-3 năm đầu.

- Trồng theo rạch ở những nơi thực bì là cây bụi, cây tái sinh có chiều cao bình quân d­ới 3m. Kỹ thuật xử lý thực bì là mở các rạch rộng 2m, trên rạch phát trắng, thiết kế trồng 1 hàng cây ở giữa. Mật độ 550-600 cây/ha.

Thời vụ trồng.

- Tùy theo từng vùng sinh thái khác nhau nh­ng trám trắng có thể trồng đ­ược cả 3 vụ xuân hè từ tháng 2 - tháng 4 và hè thu từ tháng 5 - tháng 8.

Hố trồng:

Kích thư­ớc: 40x40x40cm, hố phải cuốc tr­ước khi trồng 1-1,5 tháng, lấp hố sau khi cuốc 15 ngày. Hố lấp phải đầy, ở giữa cao hơn hỗ 3-5cm.

2. Trồng cây:

Trồng bằng cây có bầu đ­ược ­ươm tại vư­ờn có tuổi từ 7-9 tháng hoặc 15-16 tháng. Tiêu chuẩn cây con loại 7-9 tháng có chiều cao 40-60cm, đ­ường kính cổ rễ lớn hơn 0,45cm, loại cây 15-16 tháng có chiều cao bình quân 70-100cm và đ­ường kính cổ rễ lớn hơn 0,7cm, cây sinh tr­ưởng bình thư­ờng không sâu bệnh hoặc cụt ngọn.

3. Chăm sóc và bảo vệ rừng non:

Sau khi trồng cần chăm sóc tiếp 4 năm liền.

- Năm thứ nhất, thứ hai và thứ ba mỗi năm chăm sóc 3 lần: 2 lần phát và xới quanh gốc, 1 lần phát quang cỏ dại và cây bụi chèn ép cây trồng, kết hợp điều chỉnh cây phù trợ không cho cây phù trợ che bóng ngọn Trám trắng.

- Năm thứ tư­: chăm sóc 2 lần gồm 1 lần phát, xới quanh gốc và 1 lần phát quang.

- Trong ph­ương thức nông lâm kết hợp việc chăm sóc chủ yếu là kết hợp lúc chăm sóc cây nông nghiệp.

Bảo vệ và phòng trừ sâu bệnh:

- Rừng trồng cần đ­ược bảo vệ nghiêm ngặt không chăn thả trâu, bò, dê trong khu vực rừng trồng.

- Khi phát hiện có sâu bệnh cần báo với cơ quan chuyên môn để có biện pháp phòng trừ kịp thời.

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2018

Vị thuốc từ quả trám

Vị thuốc từ quả trám

Quả trám là một loại quả dùng làm thực phẩm và có tác dụng chữa bệnh tốt. Theo y học cổ truyền, quả trám có vị chua, ngọt, chát, tính ấm, vào kinh phế, có tác dụng thanh nhiệt, sinh tân chỉ khát, giải độc, lợi hầu họng, không độc.

Trám có nhiều loài khác nhau: trám trắng, trám đen, trám hồng. Quả trám còn gọi thanh quả hay cảm lãm (fructus canarii), được thu hái khi chín; có thể dùng tươi hoặc đem muối, sau đó phơi khô, hoặc sấy khô để chế các món ăn, có lợi cho hầu họng.

Thành phần hóa học, quả trám chứa protid, chất béo, hydrat cacbon, beta- caroten, acid oleannolic, một số khoáng chất: Ca, K, P, Fe, Mg, Mn, Zn, Cu… và vitamin C. Hạt quả trám chứa các acid béo.

1. Quả trám giải độc

1. 1 Giã rượu: 12 quả trám, 1,5g phèn chua, trước tiên dùng nước lạnh rửa sạch trám, lấy dao khía trên mỗi quả bốn năm đường rồi nhét phèn vào những vết khía ấy, nhai nhỏ nuốt dần để giã rượu. Hoặc trám tươi 10 quả sắc lấy nước uống có tác dụng giải rượu.

1.2 Nôn mửa khi có thai: Trám 12g, vỏ quýt 9g, dùng lửa to hấp cách thủy cho chín rồi uống, mỗi ngày 1 lần, dùng để chữa chứng nôn mửa khi có thai.

1.3 Chữa kiết lỵ: Trám 100g đem sắc với 200ml nước cô còn 100ml thì lọc bỏ bã lấy nước, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần khoảng 25 – 30ml, có công dụng chữa bệnh kiết lỵ.

1.4 Giải độc cá nóc: Trám tươi 50g, rửa sạch bỏ hạt sao chín, sắc uống, có công dụng giải độc cá nóc.

1.5 Hóc xương: Trám 5 quả sắc lấy nước uống hoặc ngậm quả trám, nuốt lấy nước, chữa hóc xương

1.6 Động kinh: Trám tươi 480g, uất kim 24g, phèn chua 24g. Trước tiên, đập nát trám rồi cho nước vào sắc kỹ, lấy bỏ hạt rồi lại cho uất kim vào sắc cùng, cuối cùng cho phèn chua sắc tiếp, cô còn chừng 500ml là được, uống mỗi ngày 20ml vào buổi sáng sớm với nước ấm, có tác dụng chữa bệnh động kinh.

1.7 Viêm da: Trám tươi 1.000g sắc với 1.000ml nước bằng lửa nhỏ, sau đó lọc bỏ bã lấy nước ngâm để chữa các bệnh lý ngoài da có viêm loét, viêm phần phụ…

2. Một số bài thuốc vị thuốc  trị bệnh từ quả trám

2.1 Trị đau họng, sưng amidan, ho, miệng khô, khát nước:

Quả trám rửa sạch, bỏ hạt, nấu với nước, nấu 2 – 3 lần, mỗi lần đun sôi 1 giờ, để lắng, gạn bỏ cặn, lọc qua vải xô, cô thành cao 2:1, thêm đường đủ ngọt, ngày uống 2-3 lần trước bữa ăn, mỗi lần 5-10ml. Có thể uống nhiều ngày liền cho đến khi hết các triệu chứng.

2.2 Trị lỵ:

Quả trám tươi khoảng 90g, để nguyên hạt sắc với nước (2 – 3 lần), gộp dịch chiết, cô lại lấy cao, theo tỷ lệ 1:1, chia 3 lần uống trong ngày trước bữa ăn. Khi uống cần kiêng ăn các thứ tanh: cua, cá, lòng trắng trứng… Có thể uống nhiều ngày cho tới khi hết các triệu chứng.

2.3 Trị đau nhức xương khớp:

Vỏ trám hồng, cạo bỏ lớp bần bên ngoài, thái nhỏ, sắc nước uống, ngày 10 – 12g, chia 3 lần sau bữa ăn. Có thể thay vỏ bằng lá trám.

2.4 Trị đau răng, sâu răng:

Quả trám đốt thành than, tán bột mịn, trộn với một ít xạ hương, rồi bôi và xỉa vào chỗ răng đau. Hoặc lấy vỏ thân cây trám trắng cạo bỏ lớp vỏ đen bên ngoài, thái mỏng phơi khô, sắc lấy nước, ngậm 10 phút rồi nhổ đi. Ngày làm nhiều lần. Có thể phối hợp với rễ chanh, rễ cây trẩu hoặc rễ cà dại.

2.5 Trị lở sơn:

Vỏ cây trám, cạo bỏ lớp bần, thái nhỏ, nấu nước tắm, ngày 2 lần.

2.6 Trị tràng nhạc (loa lịch):

Hạt trám, hạt gấc, vỏ quả mướp đắng, đốt thành than, tán bột mịn, trộn đều với dầu thực vật hoặc mỡ lợn, bôi vào chỗ đau.

2.7 Trị nứt nẻ kẽ ngón và gót chân khi trời rét:

Hạt trám trắng đốt thành than, tán mịn, trộn đều với dầu thực vật, bôi vào chỗ đau.

2.8 Trị hóc xương cá:

Quả trám trắng hoặc trám đen, nhai giập nuốt dần lấy nước; hoặc lấy 5 quả trám, sắc lấy nước, ngậm và nuốt dần. Hoặc chỉ lấy phần thịt quả trám, giã nát, ép lấy nước, uống dần. Hoặc lấy hạt quả trám, đốt tồn tính, rễ cây đậu ván trắng, thái nhỏ. Cả hai tán thành bột mịn, trộn đều, mỗi lần uống 4 – 6g. Tuy nhiên, cách làm này chỉ áp dụng với trường hợp bị hóc các xương cá nhỏ.