Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Trồng rau gia vị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trồng rau gia vị. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2017

Trồng ớt trong chậu

Trồng ớt trong chậu

Sau khi đã có đủ các dụng cụ cần thiết thì bạn hãy tiến hành trồng ớt ngay mà không phải chần chừ gì thêm nữa nhé.

Cần chuẩn bị gì để trồng ớt tại nhà?

Để có được một chậu ớt sai trĩu quả, trước tiên, bạn cần chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ sau để tiến hành trồng nhé:

- Một ít hạt ớt khô làm giống.

- Một khay làm đá viên nhỏ trong tủ lạnh.

- Chậu cây có đường kính khoảng 15 – 20 cm (nếu muốn trồng nhiều cây ớt cùng lúc thì bạn cần chuẩn bị vài chiếc chậu như thế này nhé).

- Chút ít vôi và phân bón cây loại NPK.

- Nước ấm cùng với trà hoa cúc hoặc một lọ oxy già.

Cách trồng ớt trong chậu với 5 bước cực đơn giản

Lựa chọn hạt giống ớt tốt

Lựa chọn những hạt giống tốt nhất để gieo

Trước khi thực hành cách trồng ớt trong chậu, bạn cần phải xác định loại ớt mà mình muốn trồng. Tùy theo mục đích sử dụng mà bạn có thể chọn một hay một vài loại ớt phù hợp, chẳng hạn như trồng ớt ngọt, ớt chuông nếu muốn vừa làm gia vị, vừa trang trí không gian sống; hay chọn ớt chỉ thiên, ớt sừng, ớt chỉ địa… nếu chỉ muốn trồng để lấy gia vị đơn thuần.

Sau đó, bạn có thể ra các cửa hàng cây giống để mua hạt giống ớt mà mình mong muốn, hoặc có thể tự mua ớt về và lấy hạt để giống. Tuy nhiên, phương án một được khuyến khích hơn bởi hạt giống đã qua xử lý sẽ có sức đề kháng mầm bệnh tốt hơn. Còn nếu bạn vẫn muốn tự Tạo giống thì hạt ớt sau khi lấy ra nên ngâm với trà hoa cúc hoặc nước oxy già ấm để khử trùng nhé.

Cách trồng ớt trong chậu với bước ngâm hạt giống

Hạt giống ớt cần được ngâm trong nước khoảng 50 độ C từ 2 – 8 tiếng để thúc đẩy sự phát triển và nảy mầm của nó. Để tạo nước ấm 50 độ C, bạn có thể pha nước sôi và nước lạnh theo tỷ lệ 2:3.

Chuẩn bị đất để gieo trồng ớt

Đất dùng để trồng ớt có thể là nhiều loại đất khác nhau như đất cát pha, đất canh tác lúa, đất thịt pha sét hay đất phù sa ven sông. Bởi cây ớt có khả năng thích nghi trong nhiều điều kiện, miễn là đất xốp, thoáng khí và giàu chất hữu cơ là được.

Khi lấy đất về, bạn cần phải dọn sạch cỏ và bổ sung thêm nước để đất được ẩm, sạch và thông thoáng. Ngoài ra, để khử khuẩn và làm giàu dinh dưỡng cho đất trồng, bạn có thể lót thêm một lượng vôi và phân NPK nữa nhé.

Gieo hạt ớt và chăm sóc quá trình cây phát triển

- Nếu không có khay gieo hạt chuyên nghiệp thì bạn có thể dùng khay làm đá viên trong tủ lạnh, đục lỗ thoát nước bên dưới để gieo hạt nhé.

- Sau khi cho đất vào khay và gieo hạt, bạn để khay gieo ở nơi ấm áp (có thể sử dụng một bóng đèn sợi đốt để cung cấp nhiệt) cho hạt sớm nảy mầm.

- Khi hạt ớt đã bắt đầu nảy mầm và vươn lên thành cây cao khoảng 10 – 15 cm thì bạn chọn những cây khỏe mạnh, đánh ra khỏi khay và trồng riêng từng cây vào các chậu đất đã chuẩn bị sẵn.

Lựa chọn những cây khỏe mạnh để trồng ra chậu

- Trong quá trình phát triển của cây con, mỗi ngày, bạn đem cây ra ngoài trời vài giờ. Số giờ này sẽ tăng dần theo thời gian cho đến khi cây có đủ khả năng thích ứng hoàn toàn với môi trường ánh sáng tự nhiên.

- Để cây phát triển tốt, bạn có thể bón thêm phân NPK hai lần, một là bón sau khi trồng ra chậu được 20 – 25 ngày, hai là bón khi cây đậu trái. Ngoài ra, bạn cũng nên tỉa nhánh, tỉa lá cho cây, đặc biệt là ở dưới gốc để cây được thông thoáng và phát triển khỏe mạnh nhé.
Thu hoạch thành quả nè!

Với cách trồng ớt trong chậu trên đây, cây gia vị của bạn sẽ đâm hoa sau khoảng 2 tháng gieo trồng và ra đợt quả đầu tiên ở tháng thứ 3. Khoảng 20 – 30 ngày sau khi cây ra quả thì bạn có thể tiến hành thu hoạch và cất trữ ớt để ăn dần nhé.

Hy vọng với cách trồng ớt trong chậu tại nhà hiệu quả trên đây, bất cứ chị em phụ nữ nào cũng có thể tự tay trồng ớt để phục vụ cho mục đích nội trợ của mình.

Trồng cây húng quế tại nhà

Trồng cây húng quế tại nhà

Húng là loại rau gia vị. Cây thảo, sống dai, cao khoảng 1 mét hay hơn. Lá hình ngọn giáo, gốc thuôn dài, chớp nhọn, ở mép có răng cưa. Cụm hoa hình đầu có màu vàng nhạt hợp thành chùy dài ở ngọn. Rau Húng có vị cay thơm, tính ấm, có tác dụng trừ tanh hôi, giúp tiêu hóa, tiêu đàm, chữa ho cảm, viêm họng, trắng lưỡi, đầy bụng đi ngoài và co giật ở trẻ em.

1. Giống: Có 2 loại giống.

Giống giả: Menatha avennis
Giống thật: Menatha aquatica
Giống giả có mùi bạc hà ít được ưa thích, giá  trị  kém  nhưng  trồng  thì  dễ dàng, năng suất cao.

2. Đất Trồng:

Rau húng thích nghi với vùng đất thịt, đất giàu hàm lượng NPK, thoáng, xốp, thoát nước tốt. Đặc biệt, nới đất trồng rau húng cần dãi nắng (nắng tốt) vì có nắng rau húng mới có mùi thơm đặt trưng.

3. Lên liếp:

Mùa mưa làm liếp nổi: rộng từ 1 – 1,2m, cao 10 cm, chiều dài tùy theo kích thước vườn. Mùa nắng làm liếp âm: rộng từ 1 – 1,2m, chiều sâu khoảng 5cm, chiều dai tùy theo kích thướt vườn. Trên liếp có rải một ít đất mặt có trộn phân chuồng hoai mục + tro trấu.

4. Cách trồng:

Có 2 cách trồng:

Trồng bằng phương pháp giâm cành: Chọn những cây sinh trưởng tốt, không mang mầm bệnh, thân to, mập, lá xanh, tươi tốt.Trên những cây đã chọn, tiến hành cắt cành, mỗi đoạn cành dài khoảng 3 – 5 cm. Sau đó giâm xuống đất 3 – 4 cm, uống cong phần giâm dưới đất để tăng diện tích tiếp xúc với đất, cây mau ra rễ.

Trồng bằng mầm (củ): nếu những vườn trồng rau húng để lấy mầm rễ (còn gọi là củ) làm giống, sau khi hái rau xong tiến hành để giống. Đến khoảng tháng 10 – 11 tiến hành lấy mầm trắng lên làm giống.

5. Bón phân, chăm sóc:


Bón lót: Phân chuồng: 1 tấn/ 1000 m2.
Phân super lân: 15 kg.
Bón thúc: chia làm 2 lần bón:
Lần 1: Sau 15 ngày giâm cành.
Lần 2: 25 ngày sau giâm cành.
Bánh dầu: 30kg.
Phân urê: 15 kg.
Tưới nước: 1 ngày 1 lần.

6. Phòng trừ sâu bệnh:


Rau húng bị bệnh chủ yếu là cháy lá. Do đó cần phòng trị sớm trước khi lan cả vườn  rau.  Có  thể  sử  dụng  một  trong  những  loại  thuốc  sau:  Ridomyl  MZ, Monceren,...
Lưu ý: khi dùng thuốc BVTV phải tuân theo nguyên tắc “4 đúng” và đảm bảo thời gian cách ly. Không được dùng các loại thuốc cấm, không xử dụng quá liều qui định.

7. Thu Hoạch:


Trồng rau húng có thu hoạch nguyên cây hoặc chỉ 2/3 cây (phần ngọn). Cắt sát đất độ 5cm

Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014

Kỹ thuật trồng và chăm sóc Ớt ta

Sau trồng khoảng 2 tháng thì ớt ra hoa. Đến tháng 3 thì thu được lứa quả đầu tiên. Trên cây ớt có nhiều lứa hoa. Có quả đang chín. Tránh không làm ảnh hưởng đến chùm hoa trên cây. Sau đó cứ 3 ngày thu quả 1 lần.

Giống ớt cay:

- Giống sừng bò: quả dài 10 – 18 cm, đường kính 15 – 20 mm. Quả nặng 9,8 g. Quả chín có màu đỏ tươi rất hấp dẫn, là giống ăn tươi được ưa chuộng hiện nay.

Ớt chìa vôi- Ớt chìa vôi: quả tuy nhỏ 5,8 – 6,3 cm nhưng trên cây sai quả hơn ớt sừng bò, chống chịu bệnh khá hơn ớt sừng bò.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc:

- Thời vụ gieo: gieo tháng 11 – 12, trồng tháng 1 - 2. Vụ Hè Thu gieo tháng 6 – 7, trồng tháng 8 – 9.

- Ươm cây giống: hạt ngâm nước 2 đêm, đem bọc vào vải trộn với mùn, ủ 3 – 4 ngày cho hạt mọc mầm. Gieo vãi hạt trên luống, phủ một lớp đất bột mỏng sau đó phủ một lớp trấu hay rơm rạ. Tưới nước giữ ẩm. Sau khi gieo 8 – 10 ngày thì cây mọc. Nếu gặp rét thì che phên hoặc phủ nilon chống rét cho cây con. Cây 25 – 30 ngày tuổi có thể đánh đi trồng.

- Chọn đất: ớt không kén đất nhưng tốt nhất là đất bãi hàng năm có ngập phù sa hoặc đất trong đồng có độ màu mỡ khá, thoát nước, giãi nắng.

Luống rộng 1 – 1,2 m, cao 20 – 50 cm, rãnh luống 25 – 30 cm. Bổ trí hốc hàng cách hàng 50 cm. Cây cách cây 50 cm. Bón phân cho 1 ha như sau: phân chuồng 30 tấn + 368 kg N + 368 kg P2O5 + 184 kg K2O. Nếu đất chua bón vôi 500 – 1000 kg/ha. Phân chuồng + phân lân + phân Kali để bón lót. Phân đạm dùng để bón thúc.

Tưới nước đủ ẩm sau khi trồng và suốt thời gian sinh trưởng.

Bón thúc 3 lần: lúc cây hồi xanh, trước lúc ra hoa và thu quả lứa đầu. Dùng phân đạm hòa loãng để tưới cho cây. Có điều kiện bón thêm nước phân chuồng ủ mục pha loãng.

Phòng trừ sâu bệnh: ở cây ớt cay thường có các sâu khoang, bệnh thán thư.

Thu hoạch:

Sau trồng khoảng 2 tháng thì ớt ra hoa. Đến tháng 3 thì thu được lứa quả đầu tiên. Trên cây ớt có nhiều lứa hoa. Có quả đang chín. Tránh không làm ảnh hưởng đến chùm hoa trên cây. Sau đó cứ 3 ngày thu quả 1 lần. Nếu không bị sâu bệnh phá hại, chăm sóc tốt, cây khỏe có thể thu liên tiếp trên chục đợt và kéo dài đến 2 tháng.

Năng suất bình quân đạt 8 – 12 tấn quả tươi/ha, xay bột đạt 1,2 – 1,5 tấn khô (tỷ lệ tươi/khô là 6/1).

Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

Bí Quyết Tăng Dinh Dưỡng Để Ớt Thêm Cay Nồng

Ớt là cây gia vị quan trọng trong đời sống và có giá trị kinh tế cao. Ớt có thể trồng quanh năm nhưng tập trung vào các thời vụ chính như vụ đông xuân gieo hạt tháng 10 – 12, vụ hè thu gieo hạt từ tháng 6 – 7.

Kỹ thuật chăm sóc ớt thêm cayTừ Nam Trung Bộ trở vào ĐBSCL có thể trồng ớt quanh năm nhưng năng suất cao nhất trong mùa nắng.

Đất trồng ớt có nhiều loại, nhưng tốt nhất trên đất phù sa, đất có hàm lượng hữu cơ cao, độ pH thích hợp từ 5,5 – 7. Chọn khu đất tưới tiêu chủ động, không có nước thải và các kim loại nặng. Ớt có thể trồng bằng hạt gieo thẳng nhưng tốt nhất gieo trong vườn ươm để dễ chăm sóc. Cây con có thể trồng nhiều giai đoạn khác nhau, nhưng đừng để quá lớn. Hạt để gieo nên ngâm trong nước ấm 54 độ C trong 5 phút, sau đó vớt ra ngâm tiếp vào nước sạch 8 – 10 giờ cho hạt hút no nước nẩy mầm tỷ lệ cao.

Sau khi cây con mọc chừng 5 ngày, dùng phân urê pha loãng 10g/10 lít nước tưới 2-3 lần/ngày. Khi cây có 5 lá, cao khoảng 25cm là thời kỳ có thể chọn cây giống đem trồng sang vườn sản xuất. Chọn cây khỏe mạnh, không sâu bệnh, thân cứng và to, các đốt lá gần nhau.

Làm đất và bón phân thời kỳ sản xuất kinh doanh:

Đất phơi ải càng lâu càng tốt, làm đất kỹ, sạch cỏ dại. Trong điều kiện trồng trên ruộng luân canh lúa nên đào rãnh thoát nước. Luống cao 30 – 40cm, rãnh thoát nước rộng 20 – 25cm, luống có bề mặt rộng 1m. Trồng trên luống thành 2 hàng, khoảng cách hàng 60 x 40cm. Mực nước trong các rãnh luống phải thấp.

Lượng phân bón cho 1.000m2:
 Phân chuồng hoặc hữu cơ 1 – 1,5 tấn + 25 – 30kg urê + 45 – 50kg lân +25kg KCl. Nếu đất chua cần bón lót thêm vôi 100kg.

Cách bón: Bón lót toàn bộ phân hữu cơ + phân lân +20% urê + 30% kali, bón lót vào rãnh hoặc hố trồng đảo đều với đất. Bón thúc làm 4 lần. Lần 1 vào lúc 2 tuần sau khi trồng với 10% urê. Lần 2 khi bắt đầu ra hoa với 20% urê + 20% kali. Lần 3 khi cây băt đầu có quả với 30% urê + 30% kali. Lần 4 khi bắt đầu thu trái với hết số phân còn lại.

Một số chú ý để sản xuất ớt trái có vị cay nhiều, ngoài bản chất của giống có thể tăng cường phân chuồng, nhất là phân gà và kali. Các yếu tố về khí hậu cũng ảnh hưởng như ớt cay cần nhiệt độ nóng nhưng điều khiển không dễ dàng. Có thể điều khiển bằng nước tưới, chỉ tưới nước khi cây cần; không bón thừa phân đạm; bón bổ sung phân có chứa lưu huỳnh (S) và không trồng giống ớt cay gần nơi với giống ớt không cay.

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

Kinh nghiệm thâm canh tỏi tây

Tỏi tây boa rô thuộc họ Alliaceae cùng với hành tây và tỏi. Không chỉ tạo nên hương vị đặc biệt cho các món ăn, tỏi tây cũng là nguồn giàu dưỡng chất, mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.

Kỹ thuật trồng thâm canh tỏi tâyNăm nay nhuận 2 tháng 9 âm lịch nên thời tiết đầu vụ trồng tỏi tây sẽ có nhiều đợt nắng mưa xen kẽ kéo dài và nền nhiệt độ thường cao nên không thuận lợi cho cây sinh trưởng, phát triển (tỏi tây phát triển thích hợp ở ngưỡng nhiệt 20 – 25 độ C).

Vì vậy, nông dân khi thâm canh cây trồng này có thể lùi thời vụ hoặc sử dụng các phương pháp chống nóng cho tỏi như trồng tỏi tây trong nhà lưới, nhà màn hoặc che lưới đen để giảm nắng. Nếu xây dựng nhà lưới thì nên có khung chắc chắn, chiều cao 3,8 – 4,2 m, kích thước mắt lưới (1-1,5 mm x 1-1,5 mm) để đảm bảo thông thoáng.

Trồng cây vào buổi chiều mát và trồng theo khoảng cách (8-10 cm x 8-10 cm/cây). Sau khi trồng cần phủ trấu hoặc rơm chặt ngắn để hạn chế cỏ dại và chống nóng..

Chuẩn bị giống, làm đất, gieo hạt, trồng cây: Tỏi tây được gieo trồng bằng hạt, lượng giống cho 1 sào Bắc bộ (360 m2) cần 100 – 120 gr. Trong trường hợp thiếu giống, các nhánh mọc từ gốc cũng có thể sử dụng để trồng.

Giai đoạn hạt nảy mầm, tỏi tây cần nhiệt độ thấp (15 – 17 độ C). Vì vậy, nếu gặp nhiệt độ cao khi ngâm ủ giống thì cần xử lý hạt giống trước khi gieo bằng cách: Hạt giống ngâm trong nước 3 – 4 h sau đó vớt ra để ráo, bọc vào miếng vải ẩm để trong tủ lạnh. Hàng ngày đưa hạt ra nhúng lại nước sau đó tiếp tục đưa vào xử lý. Thời gian này thường kéo dài 4 – 5 ngày. Khi hạt nứt nanh thì đem gieo.

Đất làm vườn ươm cần được bổ sung thêm trấu mục, phân chuồng hoai để tăng độ tơi xốp, cây con phát triển thuận lợi. Lượng hạt giống gieo là 2 gr/m2. Gieo xong cần phủ một lớp rơm chặt nhỏ 4 – 5 cm để che phủ hạt. Khi cây mọc, cần có mái che, bảo vệ cho cây con khi gặp thời tiết bất lợi và bổ sung các chất dinh dưỡng đa, trung, vi lượng cần thiết cho cây. Cây giống trong vườn ươm từ 25 – 30 ngày, cây có 2 – 3 lá là đưa ra trồng được.

Trong thời gian cây tỏi ở vườn ươm nên nhổ cỏ dại bằng tay, không dùng thuốc trừ cỏ phun lên luống tỏi giống sẽ làm cây con bị ảnh hưởng.

Trước khi nhổ cây từ vườn ươm ra trồng khoảng 1 tuần cần có biện pháp huấn luyện cho cây con như hạn chế tưới nước, phun phân kali trắng + vi lượng giúp cây được cứng cáp và ít bị thất thoát sau trồng. Trước khi trồng cần cắt 1 phần lá và rễ cây con, nhúng rễ cây con vào dung dịch nấm đối kháng Trichodecma đã pha để hạn chế bệnh hại và kích thích bộ rễ phát triển.

Tỏi tây ưa đất giàu mùn. Đất trồng được cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại xử lý nấm bệnh bằng nấm đối kháng Trichodecma hoặc thuốc gốc đồng, vôi tả. Lên luống rộng khoảng 1 – 1,2 m, cao 25 – 30 cm, rãnh rộng 30 cm.

Lượng phân bón cho 1 sào Bắc bộ từ 4 – 5 tạ phân chuồng hoặc phân hữu cơ vi sinh thay thế + 7,5 – 8 kg urê + 18 – 20 kg supe lân + 7,5 – 8 kg kaliclorua hoặc phân NPK tương đương thay thế.

Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân 1/4 urê, 1/4 kali. Đảo đều phân vào đất để rễ cây tránh tiếp xúc vào phân khi mới trồng.

Trồng cây vào buổi chiều mát và trồng theo khoảng cách (8-10 cm x 8-10 cm/cây). Sau khi trồng cần phủ trấu hoặc rơm chặt ngắn để hạn chế cỏ dại và chống nóng, duy trì tưới dưỡng ẩm cho cây nhanh hồi phục.

Lượng phân còn lại chia làm 3 lần bón vào các thời kì 15, 30, 45 ngày sau trồng kết hợp với bón hoặc phun phân bón trung vi lượng để cung cấp dinh dưỡng cho cây.

Tưới nước và chăm sóc: Đất trồng tỏi tây cần đủ ẩm thường xuyên (75 – 80%). Giai đoạn mới trồng dùng bình ô doa tưới đều cả luống. Khi cây phát triển tốt nên áp dụng biện pháp tưới tràn hoặc tưới theo rãnh luống. Tháo hết nước đọng rãnh sau khi tưới hoặc sau mưa.

Trong giai đoạn cây còn nhỏ, độ che phủ đất thấp, cỏ dại phát triển mạnh nên cần chú ý làm cỏ, xới phá váng kết hợp với bón thúc cho tỏi phát triển thuận lợi.

Phòng trừ sâu bệnh: Cần thực hiện nghiêm ngặt phòng trừ tổng hợp IPM. Tỏi tây thường ít bị sâu hại. Tỏi chính vụ hay bị bệnh sương mai, cháy đầu lá vì vậy, cần sử dụng thuốc phun phòng như Zineb 80WP, Boocdo 1% và thuốc trị như Rovral 50WP, Aliette 80WP, Nativo 750WG…

Trong những ngày có sương muối, nông dân cần bảo vệ tỏi bằng cách tưới nước rửa sương kết hợp rắc tro bếp hay phun thuốc phòng bệnh để giảm thiểu lượng cây bị bệnh trong ruộng.

Tỏi sau trồng 70 – 80 ngày là có thể thu hoạch. Cây thu về loại bỏ lá già, lá bệnh, rửa sạch, đóng gói rồi đem tiêu thụ hoặc bảo quản trong kho lạnh.

Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2014

Hướng dẫn kỹ thuật trồng Kiệu

Cây kiệu có thể trồng quanh năm nhưng có hai vụ chính, trồng tháng 9 – 1, thu vào tháng 1, tháng 2

Kỹ thuật trồng cây củ kiệuKiệu là loại cây trồng ngắn ngày, dễ trồng, ít phải đầu tư, nhanh cho thu hoạch và đem lại giá trị kinh tế khá cao. Mỗi hécta nếu thâm canh tốt có thể cho 35 – 40 tấn củ. Nhu cầu cây kiệu trên thị trường nội địa cũng lớn nên dễ bán, giá lại cao (trung bình 3-4 ngàn đồng/1kg vào dịp Tết).

1. Chọn và làm đất: chọn loại đất nhẹ, tơi xốp giàu mùn, nhiều cát, dễ thoát nước, độ pH từ 6 đến 6,5. Các loại đất thịt nhẹ, đất cát pha, đất phù sa ven sông để trồng kiệu là tốt nhất. Đất trồng kiệu phải được cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại, bón đủ lượng phân lót  và vôi bột (nếu đất chua) rồi lên luống rộng 0,8 – 1m, cao 25 đến 30 cm, rãnh rộng 30 cm.

2. Thời vụ: cây kiệu có thể trồng quanh năm nhưng có hai vụ chính, trồng tháng 9 – 1, thu vào tháng 1, tháng 2. Vụ này cây sinh trưởng phát triển tốt nên cho năng suất cao, bán vào dịp tết được giá. Vụ phụ có thể trồng tháng 4 –5 để thu tháng 7 –8.

3. Trồng và chăm sóc:

- Bón lót: Lượng phân cần bót lót cho 1 ha trồng kiệu bao gồm: 25 – 27 tấn phân chuồng hoai mục + 300 kg lân supe + 150 phân Kali Clorua và 100 kg tro bếp. Toàn bộ  lượng phân dùng      để bón lót nói trên    được trải đều trước khi lên luống đểtrồng.

- Chuẩn bị củ giống: Sau khi thu hoạch chọn các củ to, đều, không có sâu bệnh đem phơi khô cho lá héo rồi bó lại thành từng bó treo trên giàn cất giữ cho đến khi trồng. Trước khi trồng mới tách các tép ra, mỗi hốc chỉ trồng một tép.

- Trồng: Dùng ngón tay trỏ hoặc một chiếc dầm gỗ có đường kính 2 – 3 cm  chọc lỗ  rồi đặt củ kiệu giống xuống sâu 5 –6 cm. Có thể trồng thành các hàng dọc hoặc hàng ngang trên mặt luống với khoảng cách: Hàng cách hàng 20 – 25 cm, cây cách cây 10 – 12 cm. Chú ý : không lấp đất vào lỗ mà chỉ rải một lớp đất mỏng trên mặt luống rồi dùng ra phủ kín và tưới nước đủ ấm.

- Chăm sóc: Thường xuyên làm sạch cỏ trên mặt luống, tưới đủ ẩm cho kiệu mọc nhanh và khoẻ, củ to. Sau trồng một tháng thì dỡ rạ ra xới xáo, vun gốc kết hợp  với bón phân thúc cho kiệu rồi lại phủ rạ trở lại như củ nhằm hạn chế cỏ dại mọc, vừa giữ cho đất tơi xốp giúp cho kiệu đẻ nhánh và hình thành củ dễ dàng. Ngoài lượng phân bón lót cần phải bón thúc cho kiệu 2- 3 lần, mỗi lần cách nhau 12 – 15 ngày với lượng phân từ 35 – 40 kg urê + 8 –10 kg kali bằng cách hoà nước tưới vào gốc hoặc kết hợp làm cỏ, rắc phân giữa các hàng rồi vun gốc.

4. Phòng trừ sâu bệnh:

Cũng như các cây hành, tỏi, kiệu thường bị một số đối tượng chính gây hại như: sâu ăn lá thường xuất hiện vào thời kỳ  mới trồng, cây kiệu còn non. Có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu như Polytrin 400 SCW, Selecron500 ND, fastac 5EC pha nồng độ từ 0,1 đến 0,15% để phun trừ.

Bệnh sương mai phát sinh và gây hại trong điều kiện nhiệt độ thấp dưới 25oC, độ ẩm không khí cao trên 85%. Bệnh có thể gây chết hàng loạt dẫn đến thất thu. Chú ý phun phòng bằng thuốc Boocđô 1%, Oxít Clorua đồng 1 – 1,5 %.

Bệnh thối củ do vi khuẩn Ervinia sp. Hoặc nấm Botrytis gây hại từ khi củ bắt đầu vào chắc cho đến khi thu hoạch và trong thời gian bảo quản. Bệnh thối củ thường phát sinh và gây hại trong điều kiện môi trường ẩm thấp, bón phân không cân đối, đặc biệt là bón quá nhiều đạm, thiếu lân và kali. Có thể xử lý củ giống trước khi trồng bằng thuốc trừ nấm Benomyl 50 WP. Khi thấy có triệu trứng bệnh thì dùng Validacyl 50 WP, Rovral 50 WP hoặc Aliette 80 WP pha nồng độ 0,3% để phun đều trên mặt luống.

5. Thu hoạch:



Cây kiệu trồng được 3 – 5 tháng ( tuỳ theo mùa vụ và yêu cầu sản phẩm ăn tươi hay lấy củ già ) là có thể thu hoạch được. Trước khi thu hoạch nên tháo nước vào các rãnh cho thấm hết mặt luống làm đất mềm dễ nhổ. Nhổ đến đâu  rửa rạch đất tới đó, bó lại từng bó rồi đem đi tiêu thụ./.

Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2014

Kinh nghiệm trồng hồi của đồng bào dân tộc ở Lạng Sơn

Hồi là cây đặc sản có giá trị cao ở một số khu vực dọc biên giới Việt - Trung. ở vùng này, hồi có chất l­ượng tinh dầu tốt, có thể xuất khẩu, đ­ược đồng bào dân tộc Tày, Dao ở Lạng Sơn trồng từ hàng thế kỷ nay.

Ở Việt Nam có 3 loại hồi: hồi 8 cánh, hồi núi và hồi chè. Hồi 8 cánh là loài cây thân gỗ, lá rộng, th­ường xanh, cao 8-10m, đ­ờng kính thân cây 20-30cm đ­ược trồng phổ biến. Mỗi năm hồi cho thu hoạch 2 vụ: Vụ tứ quý vào tháng 4-5 và vụ mùa vào tháng 10-11. Cây hồi bắt đầu bói quả ở 7-8 năm tuổi, cho nhiều quả nhất ở độ tuổi 20-60 tuổi. ở Lạng Sơn, năng suất hồi trung bình đạt 1500-3000kg quả khô/ha/năm. Năm 1999, toàn tỉnh có 17.000 ha rừng hồi, cho sản lư­ợng 15.000 tấn quả t­ươi, trị giá ­ước tính 40 tỷ đồng.

Cây hồi thích nghi với điều kiện khí hậu á nhiệt đới vùng núi ở Việt Nam với nhiệt độ trung bình 21,47°C, có mùa đông lạnh nh­ưng ít s­ương muối, lượng mư­a không cao: 1300-1500mm/năm. Cây hồi ­ưa đất tốt, giàu mùn, đạm, kali, thành phần cơ giới nặng, giàu hạt sét, tầng đất màu dày 80cm, không có hoặc ít đá lẫn.

Hồi là loài cây ­ưa ánh sáng như­ng tùy theo độ tuổi mà nhu cầu ánh sáng khác nhau: ở 24 tháng tuổi, cần che 60-80%; ở 3-4 tuổi nếu trồng trên đồi núi trơ trọi, không có cây che bóng thì một số cây bị vàng lá, sinh tr­ưởng còi cọc và có tỷ lệ chết cao. ở giai đoạn 20-30 tuổi là thời kỳ sai quả, hồi là cây trung tính thiên về ­ưa sáng.

Về nhiệt độ, hồi kém chịu nóng: khi nhiệt độ trên mặt lá hồi đạt 37-38°C kéo dài 2 giờ liền là cây hồi bị táp lá.

Nhu cầu n­ước của cây hồi biến thiên theo độ tuổi: 3 tuổi - ư­a ẩm, không chịu đ­ược khô hạn; 20-25 tuổi chịu hạn ở mức độ trung bình và có khả năng thích nghi khá linh hoạt với môi tr­ường úng n­ước.

Thực tiễn trồng hồi của bà con dân tộc Tày, Dao ở Lạng Sơn thời gian qua cho thấy 5 kinh nghiệm sau:


1. Trồng hồi hỗn loài với cây gỗ trên đất sau n­ương rẫy của đồng bào Dao ở Bắc Sơn, Lạng Sơn. Đất n­ương rẫy sau một số vụ lúa, hoa màu hoặc cây công nghiệp ngắn ngày sẽ đư­ợc trồng hồi. Cây hồi con đ­ược trồng dư­ới tán một số cây gỗ tái sinh tự nhiên sau nư­ơng rẫy như­ re lá, bời lời, dẻ gai, hu đây, ba bét trắng, ba soi. Trong quá trình sinh tr­ưởng, cây hồi dần dần lớn lên và có nhu cầu ánh sáng tăng dần, bà con tiến hành ken chết dần các cây gỗ tự nhiên. Bằng cách này, bà con dân tộc Dao ở Vũ Sơn (huyện Bắc Sơn, Lạng Sơn) đã trồng đ­ược những rừng hồi cho năng suất cao (15.000kg quả tư­ơi/năm/1 ha).

2. Trồng hồi xen tre, vầu của đồng bào Tày ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn. Các rừng tre, vầu đư­ợc đồng bào trồng xen hồi con; khi hồi đã lớn, có nhu cầu ánh sáng cao hơn thì nó đã v­ươn lên để chiếm lĩnh tầng cao của tán rừng. Bằng ph­ương thức này, đồng bào đã tạo ra kiểu rừng hỗn loài với tre, vầu với cấu trúc 2 tầng cây.

3. Trồng hồi xen sắn của đồng bào Tày, huyện Bình Gia, Lạng Sơn. Các hộ nông dân Tày đã trồng sắn xen với hồi khi hồi còn nhỏ. Đặc biệt, khi thu hoạch sắn cần thu hoạch vào lúc có thời tiết râm mát và thu hoạch dần dần để tránh tình trạng tán che mở đột ngột làm cho hồi con bị mất nhiều n­ước có thể bị chết.

4. Trồng hồi xen chè của đồng bào Tày huyện Bình Gia, Lạng Sơn. D­ưới tán rừng hồi đã khép tán, vào các năm thứ 3 trồng hồi xen sắn, đến năm thứ 4 và thứ 5 trồng xen chè. Theo kiểu trồng xen này, đồng bào đã tạo ra loại rừng chè hỗn hợp chè + hồi với 2 tầng cây. Tuy vậy, ở một số nơi, bà con còn trồng thêm cây phân xanh họ đậu (cốt khí), dứa. Các băng cây cốt khí, dứa đư­ợc thiết kế chạy theo đ­ường đồng mức để chống xói mòn, bảo vệ đất. Theo mô hình này, nếu tính cả chè và hồi có thể cho thu nhập 17.000.000 đ/ha/năm (theo giá thị tr­ường năm 1998).

5. Trồng hồi trong các v­ờn quả gia đình. Cho đến nay, nhiều gia đình đã trồng đ­ược v­ườn cây ăn quả gồm các loại hồng không hạt, mận, quýt ngọt, na dai... Nhân dân đã tiến hành trồng hồi thành những vành đai bao quanh vư­ờn ăn quả tạo thành các băng cây cản gió, bảo vệ v­ườn quả.

Các kinh nghiệm trồng hồi kể trên của đồng bào dân tộc Tày, Dao ở Lạng Sơn đã đ­ược khoa học và thực tiễn xác minh là đúng đắn, có thể mở rộng ra toàn tỉnh Lạng Sơn và một số địa ph­ương lân cận.

Thứ Ba, 9 tháng 9, 2014

Kỹ Thuật Gây Trồng, Khai Thác Vỏ Quế

Tùy vào thời tiết từng vùng, đồng bào Yên Bái tập trung trồng quế vào các tháng đầu xuân, các tỉnh miền Trung thì trồng vào vụ thu khi đã có mưa nhiều, đất ẩm, thời tiết dịu và tránh được gió nóng vào mùa hè.

1. Kỹ thuật lâm sinh và gây trồng.

Cây quế trong rừng tự nhiên thường mọc hỗn giao với nhiều cây lá rộng như re, sau sau, kháo, nhội, mỡ, bồ đề, săng lẻ, bứa... Lúc còn nhỏ cây quế cần có che bóng thích hợp mới sinh trưởng phát triển tốt được, nhưng lớn lên là cây ưa sáng hoàn toàn. Những cây quế trong rừng có đủ ánh sáng đều cho vỏ dày nhiều dầu, năng suất vỏ cao và chất lượng vỏ tốt. Cây quế trồng sau 8-10 năm thì bắt đầu ra hoa kết quả, quế ra hoa vào tháng 4, 5 và chín vào tháng 1, 2 có thể thu hái hạt chín trên cây, hoặc thu nhặt quả chín rơi rụng quanh gốc cây mẹ. Hạt quế là loại hạt có dầu, khi bảo quản nếu gặp nhiệt độ cao, ẩm độ thấp, ánh sáng mạnh, thì hạt sẽ bị chảy dầu và mất khả năng nảy mầm. Trong tự nhiên sự phát tán của hạt quế có thể nhờ chim, động vật ăn quả và thải hạt ra qua đường phân, có thể tái sinh ngay gốc cây mẹ, cũng có thể phát tán theo dòng nước chảy hoặc do chính con người đem hạt quế đi các nơi khác để trồng.

Quế cũng có khả năng sinh sản vô tính bằng chiết cành dâm hom, nhưng trong nhân dân khả năng tạo giống bằng chiết cành, giâm hom còn ít được sử dụng do tỷ lệ cây hom ra rễ còn thấp và giá thành cao.

Những cây quế trên 15 tuổi, bắt đầu sinh trưởng ổn định, cho nhiều quả và chất lượng hạt giống ổn định về di truyền, chu kỳ sai quả thường 2 đến 3 năm một lần, nên chọn những cây sinh trưởng và phát triển tốt, tán rộng, cân đối, không bị sâu bệnh và nhất là hàm lượng tinh dầu trong vỏ cao để làm cây lấy giống. Vấn đề chọn giống và gây trồng rừng quế là yêu cầu cấp bách hiện nay.

Quế mỗi năm có hai mùa sinh trưởng, mùa sinh trưởng chính vào các tháng 2, 3, 4 và mùa sinh trưởng phụ vào các tháng 8, 9. Vào mùa sinh trưởng trước khi xuất hiện chồi lá non, lượng nước và tinh dầu trong vỏ quế đều tăng lên, vỏ mầm dễ bóc ra khỏi thân, vì vậy đây cũng là mùa khai thác vỏ quế.

Gieo ươm:

Đồng bào Dao, Mường, Thái xưa kia khi yêu cầu giống quế không nhiều, họ chỉ cần đào, bứng các cây con tái sinh trong rừng đem về trồng, về sau do yêu cầu cây giống ngày một nhiều lên, con người đã biết lợi dụng quy luật tái sinh tự nhiên bằng cách xúc tiến tái sinh cây giống ngay dưới gốc cây mẹ và nhờ đó đã tạo được nhiều cây con hơn. Những nơi nhân dân gây trồng quế nhiều, nhất thiết phải thiết lập vườn ươm với quy mô từ nhỏ đến lớn để gieo ươm cây giống cho trồng rừng một bản, một xã hay cả một vùng theo quy hoạch.

Gieo ươm quế cũng như nhiều loại cây rừng khác, phải chọn đất thích hợp, phải có dàn che và điều chỉnh ánh sáng, bón phân, thường xuyên chăm sóc cây khi cây còn nhỏ. Hiện nay áp dụng kỹ thuật ươm quế có bầu đã đem lại hiệu quả cao, cây giống sau một năm ở vườn thường đạt được chiều cao bình quân 30cm, có 10-14 lá, đường kính cổ rễ từ 0,5-0,7cm.

Gây trồng:


Trồng quế là một phong tục tốt và lâu đời của đồng bào các dân tộc Dao, Mường, Thái, Ca Toong, Ca Toong, Boo ở nước ta. Các vườn quế được coi là tài sản quý giá của ông bà, cha mẹ để lại cho con cháu, chia rẫy cho con để trồng quế chuẩn bị xây dựng gia đình riêng, trồng quế nhân dịp năm mới... đều là những tập quán tốt. Một năm có hai mùa trồng quế, mùa xuân vào các tháng 2, 3 và mùa thu vào các tháng 8, 9. Tùy vào thời tiết từng vùng, đồng bào Yên Bái tập trung trồng quế vào các tháng đầu xuân, các tỉnh miền Trung thì trồng vào vụ thu khi đã có mưa nhiều, đất ẩm, thời tiết dịu và tránh được gió nóng vào mùa hè.

Quế được gây trồng trong vườn hộ gia đình, xung quanh làng bản trong các công sở, trường học, quế cũng được gây trồng nên trên các nương rẫy, đồi núi tạo nên các vùng tập trung có diện tích lớn hơn đặc biệt trồng quế trên nương rẫy theo phương thức nông lâm kết hợp, có thể lấy cây ngắn ngày nuôi cây dài ngày.

Mật độ trồng quế phụ thuộc vào cường độ và mục đích kinh doanh, ở những nơi có cường độ kinh doanh cao, có thể tận thu hết sản phẩm mật độ trồng có khi đạt đến 10.000 cây/ha, trái lại những nơi có cường độ kinh doanh thấp, mật độ trồng khoảng 1000-2000 cây/ha.

2. Khai thác vỏ quế.

Trên một cây quế có thể khai thác tất cả vỏ một lần và chặt cây, hoặc cũng có thể khai thác vỏ nhiều lần trong nhiều năm trên một cây. Khi khai thác một bộ phận vỏ quế trên một cây về một phía, cây quế không chết mà có xu hướng sinh trưởng ra vỏ mới để liền những phần vỏ đã bị bóc vỏ. Khai thác nhiều lần trên một cây là bóc đi 1/4 thậm chí là 1/2 vỏ quế về một phía, sau đó tiếp tục nuôi cây cho các lần bóc sau đó. Phương thức khai thác này thường chỉ áp dụng cho các cây quế quý hiếm và yêu cầu sản phẩm vỏ quế không nhiều.

Trong thực tế, do yêu cầu cùng một lúc phải có nhiều sản phẩm nên thường áp dụng các phương thức khai thác hết tất cả vỏ cây của toàn bộ cây trong một mùa khai thác (khai thác trắng), ưu điểm là thu được nhiều sản phẩm và dễ áp dụng. Ngoài ra còn có phương thức khai thác các cây có đường kính đã định trước (khai thác chọn) phương thức này thu được sản phẩm theo ý muốn, nhưng khó bố trí khai thác, chu kỳ kinh doanh dài. ở nước ta có 2 mùa khai thác vỏ quế, vào mùa xuân thời tiết ít mưa, nắng ấm kéo dài rất thích hợp cho khai thác và chế biến vỏ quế. Mùa thu, thường có mưa nhiều, thời tiết âm u rất rễ cho vỏ bị mốc, bị mục ải.

Tuy nhiên nhân dân cho biết vỏ quế thu hoạch vụ thu có hàm lượng tinh dầu nhiều hơn vỏ quế khai thác vụ xuân, khai thác đúng mùa thì vỏ dễ dàng bóc ra khỏi thân cây, vỏ không bị gãy, bị vỡ, bị sát lòng hay bị dính vào thân. Trong một khu rừng khi bóc thử một số cây thấy dễ bóc thì nhìn chung cả khu rừng có thể khai thác vỏ được, kỹ thuật khai thác vỏ quế thường qua các bước sau đây:

- Chuẩn bị rừng khai thác, bóc thử một vài cây để xác định thời điểm khai thác.

- Dùng dụng cụ bóc vỏ để bóc một khoanh vỏ quanh thân sát gốc có chiều dài từ 40-60cm.

- Chặt ngã cây.

- Dùng dao bóc vỏ để bóc vỏ ra khỏi thân cây theo quy cách đã xác định.

Trong khi bóc vỏ ra khỏi thân cây, cần chú ý để có nhiều khoanh vỏ đẹp, hợp quy cách các loại sản phẩm ngay từ lúc cắt khoanh, để các thanh vỏ quế thẳng, đều, không bị mắt chế, không bị thủng lỗ. Khi lột vỏ ra khỏi thân cây cần nhẹ nhàng, không để lòng thanh quế bị xây xát hai đầu thành không bị nứt ran, cũng có thể lau sạch thanh quế, lau khô nước lòng thanh quế trước khi đem ủ để tránh mốc.

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

Kỹ thuật trồng cây gia vị và rau sống an toàn

Rau gia vị rất cần tưới thường xuyên, nhất là thời kỳ mới trồng và thời kỳ cây đang lớn nhanh. Tuy nhiên, để đảm bảo vệ sinh thực phẩm tuyệt đối không được dùng các nguồn nước bị ô nhiễm bẩn ở mương, rãnh, ao hồ tù đọng để tưới cho rau

Chọn và làm đất: Các loại rau gia vị ưa các loại đất thịt nhẹ, đất thịt pha cát hoặc đất phù sa có độ pH=5,5-6,5, hàm lượng hữu cơ trên 2%, đất tơi xốp; chủ động tưới tiêu, xa nguồn nước thải, xa khu công nghiệp, các bệnh viện và xa đường lộ ít nhất 300m. Đối với các loại rau ưa ẩm như rau ngổ, mùi tàu… thì có thể chọn những chân ruộng thấp; những chân ruộng cao ráo, dễ thoát nước nhưng dễ tưới tiêu thì để trồng các loại húng, tía tô, kinh giới, rau răm, xà lách, hành, tỏi,… Đất phải được cày bừa kỹ, nhỏ, tơi xốp, sạch cỏ dại. Lên luống rộng 1,1m; cao 20-30cm. Cây mùi tàu dễ bị bệnh thối gốc do đó nên tưới vừa đủ ẩm, không tưới quá nhiều, mặt khác hằng năm nên trồng luân canh để tránh nguồn bệnh tồn dư từ vụ trước. Mùi tàu không ưa ánh sáng trực xạ quá mạnh, do đó cần làm giàn phên nứa, tranh hoặc lưới nylon che bớt 50% ánh sáng trực xạ thì mới cho năng suất cao.

Phân bón: Do thời gian thu hoạch ngắn, thu nhiều lứa và ăn lá là chủ yếu nên cần có chế độ bón phân hợp lý, đúng lúc, đúng cách và cân đối. Kinh nghiệm của HTX Đông Dư (Gia Lâm - Hà Nội) và nhiều nơi khác cho thấy: Nên bón cho mỗi hécta 10 tấn phân chuồng loại tốt đã ủ hoai hoàn toàn (360kg/sào Bắc bộ), 50-70 kg N/ha (4-6kg u-rê/sào Bắc Bộ), 60-70kg P2O5/ha (10-11 supe lân kg/sào), 35-50 kg K2O/ha (4-6 kg kali sunphat/sào). Cách bón: các loại phân chuồng, phân lân và phân kali dùng bón lót toàn bộ trong khi làm đất. Lượng đạm có thế chia bón thúc làm 2 lần. Lần đầu sau khi cây đã bén rễ, lần 2 trước khi thu hái 10-15 ngày đối với loại rau có thời gian sinh trưởng dưới 60 ngày; 25-30 ngày đối với các loại rau sinh trưởng trên 60 ngày. Tuyệt đối không được dùng phân chuồng, phân tiêu tươi hoà nước để tưới cho rau nhằm hạn chế trứng giun và các vi sinh vật gây bệnh.

Nước tưới: Rau gia vị rất cần tưới thường xuyên, nhất là thời kỳ mới trồng và thời kỳ cây đang lớn nhanh. Tuy nhiên, để đảm bảo vệ sinh thực phẩm tuyệt đối không được dùng các nguồn nước bị ô nhiễm bẩn ở mương, rãnh, ao hồ tù đọng để tưới cho rau. Nguồn nước tưới là nước giếng khoan, nước sông, hồ sạch. Cách tưới: nên tưới theo rãnh cho ngấm dần vào luống dễ làm cho đất và vi sinh vật dễ bám vào thân lá.

Phòng trừ sâu bệnh:
Các loại rau ăn sống và rau gia vị thường ít bị sâu bệnh gây hại hơn các loại rau thông thường khác do nhiều loại cây có các tinh dầu mạnh gây ngán cho sâu, tuy nhiên nếu bị các đối tượng dịch hại thì cần lưu ý: Chỉ phun thuốc sâu bệnh lúc cần thiết, ở ngưỡng phòng trừ, phun đúng nồng độ, đúng liều, đúng cách. Chỉ nên phun các loại thuốc có nguồn gốc vi sinh, thuốc thảo mộc ít hoặc không độc hại với người. Ngừng phun thuốc trước khi thu hái 10-15 ngày tuỳ loại rau để đảm bảo thời gian cách ly an toàn. Ưu tiên bắt sâu bằng tay và nên phòng trừ sâu bệnh bằng phương pháp phòng trừ tống hợp IPM.