Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây Sa Kê. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây Sa Kê. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 2, 2018

Trồng cây Sa kê

Trồng cây Sa kê

Cây Sa kê có thể trồng được quanh năm. Khoảng cách trồng sakê là 12 x 14m vài tài liệu đề xuất 10m hay thấp hơn (Coronel 1983). Khoảng 100 cây/ha ở mật độ 10 x 10 hay 8 x 12m (Narasimhan 1990). Khoảng trống giữa các cây sakê có thể trồng cây nhỏ hơn như đu đủ, chuối, dứa hoặc rau cho đến khi cây sakê thuần thục (Ragone, 1997).

1. Giới Thiệu:


Tên thông thường: Cây Sa Kê, Cây Bánh Mì, Tên khoa học: Artocarpus altilis, Họ: Moraceae ( Dâu tằm), Chiều cao: 4 m- Đường kính thân : 10-12cm Cây Sa Kê có nguồn gốc từ các nước Đông Nam Á (được trồng nhiều ở Malaysia) và các Đảo Thái Bình Dương, hiện nay đã được trồng rộng khắp các nước nhiệt đới, trong đó có Việt Nam. Sa Kê là cây gỗ lớn, Cây trưởng thành có chiều cao khoảng 10m đến 20m, có nhựa mủ màu trắng sữa, cành mảnh mọc ngang, dài, làm thành tán rộng, dày. Lá Sa Kê lớn chia 3-9 thùy thuôn dài, cuống mập, rụng để sẹo trên cành. Đặc biệt lá có màu xanh bóng ở mặt trên, mặt dưới rất nhám, khi rụng đổi màu vàng nâu khô, cứng có thể làm vật trang trí. Sa Kê là cây đơn tính cùng gốc, hoa đực và hoa cái cùng mọc trên một cây. Cụm hoa đực ra đầu tiên có dạng bông dài, hoa nhỏ màu vàng, sau đó sẽ xuất hiện cụm hoa cái hình bầu thuôn, mập khi non có màu xanh, hoa mọc thẳng đứng trên cành, khi già hoa cái chuyển sang vàng rất bền. Cây Sa Kê thụ phấn nhờ côn trùng và động vật, chủ yếu là nhờ vào dơi ăn quả. Quả

Sa Kê giống dạng quả mít nhưng không tạo múi chứa thịt quả và hạt. Quả có thể dùng để luộc ăn, say lấy bột chiên hoặc nấu rượu…mang lại giá trị kinh tế cao. Cây Sa Kê gồm hai loại và được phân biệt bởi trái có hạt và trái không có hạt. Riêng Cây Sa Kê cho trái không hạt được trồng để thu hoạch trái cung cấp trên thị trường. Nếu trồng Cây Sa Kê làm cảnh sân vườn thì không cần phân biệt cấu tạo của trái sa kê.

2. Tiêu Chuẩn Chọn Giống:

Chọn cây khỏe mạnh, không sau bệnh, có thể là cây ghép hoặc cây chiết. Giống sakê được chia làm hai loại: loại có hạt là loại bình thường trong khi loại không có hạt là loại đột biến. Loại có hạt thường dùng hạt và khá giống hạt dẻ. Loại không có hạt dùng làm thức ăn. Các giống dùng làm thực phẩm khác nhau ít về chất lượng (Martin 1998). Loại có hạt nhân giống từ hạt. Loại không có hạt thường được nhân vô tính từ rễ hoặc chồi.

3. Thời Vụ và Mật Độ Trồng:

Cây Sa kê có thể trồng được quanh năm. Khoảng cách trồng sakê là 12 x 14m vài tài liệu đề xuất 10m hay thấp hơn (Coronel 1983). Khoảng 100 cây/ha ở mật độ 10 x 10 hay 8 x 12m (Narasimhan 1990). Khoảng trống giữa các cây sakê có thể trồng cây nhỏ hơn như đu đủ, chuối, dứa hoặc rau cho đến khi cây sakê thuần thục (Ragone, 1997).

4. Làm Đất Và Đào Hố Trồng:

Cây sa kê sống từ 30- > 50 năm, cao từ 10- 20m, đường kính cây lên đến 1,2m, người ta thường hãm ( chặt) để cây chống đổ khi có bão nhưng không làm giảm năng suất ra quả của cây, cây sa kê thích hợp với tất cả các vùng thổ nhưỡng kể cả đất phèn, đất mặn. Cây sinh trưởng > 5 độ C, dưới 5 độ C cây vẫn sống nhưng không có quả.

5. Phân Bón Lót:


Dùng phân hữu cơ hoại mục như phân bò hoai hay phân trùn quế để bón lót cho cây sa kê trước khi trồng. Sau đó dùng cây nén chặt xung quanh gốc để giúp cây vững chãi, có thể dùng 3-4 cây cừ tràm hay tầm vông cột chặt vào thân và cành cây sa kê, phân đầu cừ còn lại cắm xiên xuống đất để tránh gió thổi làm cây ngả đỗ sẽ hư bộ rễ non, cây dễ bị chết. Coronel (1983) đề xuất bón 100-200g SA/cây một tháng sau khi trồng và sau đó 6 tháng/lần. Khi cây bắt đầu cho trái, bón 500-1000g/cây, 2 lần/năm. Khi cây cho trái nhiều cần bón 2kg/cây. Cây không cần tỉa tạo cành ngoại trừ việc cắt đi cành chết. Khi cây quá cao có thể cưa ngọn để duy trì độ cao phù hợp cho việc thu họach (Ragone, 1997).

6. Kỹ Thuật Trồng Cây Sa Kê:

Khi bắt đầu trồng cây phải vun mô nâng cao độ cao của đất lên khoảng 20cm, nhằm giúp thoát nước cho bộ rễ cây Tiến hành đào lỗ đặt bầu sao cho rễ và thần cây ngay thẳng ở giữ hố, mặt trên của bầu thấp hơn miệng hố 1-2cm. Xé bỏ vò bầu trước khi đặt cây xuống hố, chú ý không được làm vỡ bầu hay bầu bị biến dạng. Lấp phần đất mặt xuống trước, lèn chặt bầu, vun thêm đất mặt vào quanh gốc trên cổ rễ 2-3cm. Dùng 3-4 cây gỗ cột vào thân và cành cây, đầu còn lại cắm xuống đất để tránh gió thổi làm đổ cây bật rễ non làm hỏng bộ rễ.

7. Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Sa Kê:

7.1. Kỹ thuật chăm sóc định kỳ:

Tưới nước đầy đủ cho cây sa kê sau khi trồng, có thể dùng thuốc ra rễ như N3M, surper roots, phân surper lân pha nước tưới cho cây ( khoảng 2-3 lần, cách nhau 5-7 ngày ) để mau ra rễ mới. Sử dụng tàn dư thực vật giữ ẩm là rất phổ biến cho cây sakê ở vùng Thái Bình Dương. Thời gian đầu sau trồng, cây cần được tưới nước nhưng sau đó nếu không tưới cây sakê vẫn sinh trưởng và đậu trái tốt, thậm chí ở vùng có mùa khô rõ rệt (Ragone, 1997).

7.2. Kỹ thuật Cắt tỉa, tạo hình:


Thường xuyên cắt bỏ những cành lá khô, héo, sâu bệnh.

7.3. Kỹ thuật Bón phân Cho Cây Sa Kê:

Sau khi trồng khoảng 25-30 ngày là cây bắt đầu phục hồi, lá bắt đầu nhú ra thì rải thêm khoảng một muỗng cà phê ( nếu cây nhỏ ) và muỗng canh ( đối với cây lớn) phân DAP xung quanh gốc cây. Sau 3 tháng cây sa kê đã cho nhiều lá mới và chồi non thì bón phân NPK 16.16.8 hay sunphat amon SA với liều lượng như phân DAP.Có thể bón luân phiên từng đợt cách nhau mỗi tháng bón một lần phân hạt. Trường hợp trồng cây sa kê nơi đất hẹp mà bộ rễ ăn lên trên thì phải bồi thêm lớp đất và phân hưu cơ cho cây mau lớn. Nếu trồng cây ngoài đất sân vườn thì chỉ cần chăm sóc trong 2 năm , không cần tưới nước mà chỉ cần bón phân làm 2-3 đợt trong năm để cây cho nhiều trái.

8. Phòng Trừ Sâu Bệnh Cho Cây Sa Kê:

Khi trồng cây sa kê mà thao tác làm tổn thương nhiều đến bộ rễ, sẽ làm ngọn chính của cây bị teo dần và đen chết , cây sẽ tái sinh những chồi trên thân. Khi đó cần cắt bỏ phần thân nhánh chết khô và phun nấm phòng bệnh như kasumin, valydamycin, metaxyl…. Nếu gặp trời mưa kéo dài và nắng gắt đột ngột, làm cho các loài rệp dễ tấn công, cần phun thuốc BVTV vừa phòng rệp như Secsaigon, anvado 100WP, bassan…cùng thuốc trừ nấm để phun khi có thời tiết bất thường. Lưu ý phong trừ sâu bệnh khi cây còn nhỏ hay mới trồng. Tuy nhiên cây sa kê phát triển tốt thì ít khi bị sâu bệnh tấn công. Cây sa kê trưởng thành cho hàng trăm trái trong một năm, cây sa kê thuộc nhóm cây thân gỗ trung bình và sống rất lâu năm. Sakê là cây thân cứng và tương đối ít sâu bệnh, tuy nhiên rệp sáp và bệnh đốm lá có thể gặp ở nhiều cây (Rajendran 1992). Vấn đề sâu bệnh ở sakê mang tính khu vực, bọ nhảy hai đốm hại lá ở Hawaii, rệp Rastrococcus invadeniss ở Tây Phi (Agounke et al.1988), nấm Rosellinina sp. ở Trinidad and Grenada (Marte 1986), tuyến trùng hại rễ (Meloidogyne sp.) gây nghiêm trọng ở Malaysia (Razak 1978). Ngoài ra còn có die-back (Zaiger and Zentmeyer 1966), thối trái, ruồi hại trái (Ragone, 1997)

9. Thu Hoạch và Bảo Quản:

Thường hái trái khi đã già nhưng chưa chín, trái thu hoạch không rớt xuống nền đất sẽ lưu giữ được lâu hơn. Nghiên cứu cho thấy có thể bảo quản sakê trong túi P.E. kín ở nhiệt độ thấp nhưng trái dễ bị tổn thương lạnh nếu bảo quản dưới 12°C. Bảo quản ở 14°C có thể giữ được 10 ngày. Thu hái cẩn thận có thể cải thiện thời gian bảo quản và chất lượng trái (Maharaj and Sankat 1990). Dùng màng bao (waxed) và bảo quản ở 16°C có thể kéo dài được 18 ngày. Bảo quản trong điều kiện điều chỉnh khí 5% CO2 và 5% O2 ở 16°C có thể bảo quản được 25 ngày nhưng giá thành cao (Ragone, 1997).

10. Kinh nghiệm và Thị Trường:

Cây sakê cung cấp dinh dưỡng cao, hàm lượng hydrat carbon cao, và có thể tiêu thụ được ở mọi giai đọan. Cây có tuổi thọ hơn 50 năm và cung cấp dinh dưỡng cho con người, làm gỗ và thức ăn gia súc. Sakê yêu cầu đầu tư ít, nhân công ít và có thể trồng trong nhiều điều kiện sinh thái. Bởi sakê thường được sử dụng khi chín nhưng còn cứng, các nghiên cứu về dinh dưỡng, phát triển thương mại hóa sản phẩm cần lưu ý giai đọan này để kéo dài thời gian quả cứng. Quả chín thường bị bỏ đi hoặc làm thức ăn cho gia súc và vì vậy rất ít nghiên cứu để mở rộng khả năng sử dụng quả khi chín. Trái sakê có thể tiêu thụ nhiều hơn nếu phối trộn sakê trong các sản phẩm khác như thức ăn em bé, đồ nướng, đồ tráng miệng (Ragone, 1997)

Cây Sa Kê - Xa Kê

Cây Sa Kê - Xa Kê

Xa kê hay sa kê (danh pháp hai phần: Artocarpus altilis) là một loài cây gỗ có hoa trong họ Dâu tằm (Moraceae), bản địa của bán đảo Mã Lai và các đảo miền tây Thái Bình Dương, nhưng hiện nay đã được trồng rộng khắp trong khu vực nhiệt đới, trong đó có miền Nam Việt Nam. Quả sa kê có mùi và vị như bánh mì nên còn được gọi là cây bánh mì - đây là quả lớn nhất trên cạn.

Miêu tả


Xa kê là cây gỗ có thể cao tới 20 m (66 ft). Các lá to và dày bản xẻ thùy sâu hình lông chim. Tất cả các phần của cây đều có chứa nhựa mủ, một loại nhựa cây có màu trắng sữa, được người ta dùng vào việc xảm thuyền.

Xa kê là loài cây đơn tính cùng gốc, với các hoa đực và hoa cái mọc trên cùng một cây. Các hoa đực ra đầu tiên và sau đó một khoảng thời gian ngắn là các hoa cái, mọc thành cụm hoa dạng đầu, chỉ có khả năng được thụ phấn sau đó 3 ngày. Động vật thụ phấn cho nó là các loài dơi ăn quả thuộc Cựu thế giới trong họ Pteropodidae). Quả giả, phức hợp phát triển lên từ bao hoa phình ra và bắt nguồn từ 1.500-2.000 hoa. Chúng được nhìn thấy trên lớp vỏ quả như là các đĩa giống hình lục giác.

Xa kê là một trong những loài cây lương thực có sản lượng cao, với một cây có thể ra tới trên 200 quả mỗi mùa. Tại miền nam Thái Bình Dương, cây sinh ra 50-150 quả mỗi năm. Tại miền nam Ấn Độ, sản lượng thông thường là 150-200 quả mỗi năm. SẢn lượng dao động trong các khu vực khô và ẩm. Tại Tây Ấn, ước tính dè dặt nhất là 25 quả một cây mỗi năm. Các nghiên cứu tại Barbados chỉ ra năng suất tiềm năng 16-32 tấn/ha (6,7-13,4 tấn/mẫu Anh). Quả hình trứng, kích cỡ to bằng quả bưởi chùm có bề mặt thô ráp và mỗi quả trên thực chất là tổ hợp của nhiều quả bế, mỗi quả bế được bao quanh bằng bao hoa dày cùi thịt và phát triển trên đế hoa dày cùi thịt. Một vài giống cây trồng đã qua chọn lọc có quả không hạt.

Xa kê có họ hàng gần với mít. Nó được gọi là "Kada Chakka" trong tiếng Malayalam và "Jeegujje"/"Geegujje"/"Jigujje" trong tiếng Tulu

Sử dụng


Xa kê là cây lương thực ổn định tại nhiều khu vực nhiệt đới. Nó được phổ biến ra xa khỏi quê hương bản địa của mình nhờ các thủy thủ Polynesia, những người đã chuyên chở các gốc ghép, cành giâm đi xa trên đại dương. Xa kê chứa nhiều tinh bột, và trước khi ăn nó có thể được quay, nướng, chiên, luộc. Khi được chế biến, nó có mùi vị giống như khoai tây hay tương tự như bánh mì mới nướng, vì thế mà có tên gọi cây bánh mì.

Do xa kê thường sinh ra một sản lượng lớn trong một khoảng thời gian nhất định trong năm nên việc bảo quản là một vấn đề. Một kỹ thuật bảo quản truyền thống là chôn các quả đã bóc vỏ và rửa sạch trong hố lót bằng lá để lên men trong vài tuần tạo ra một loại bột nhão dính và chua. Đượu lưu trữ như thế, sản phẩm có thể giữ troing một năm hay hơn thế, và một vài hố được thông báo là sinh ra sản phẩm ăn được sau trên 20 năm. Các tên gọi cho sản phẩm quả xa kê được lên men như vậy bao gồm mahr, ma, masi, furo, bwiru v.v.

Quả xa kê có thể ăn sau khi nấu chín hoặc có thể chế biến tiếp thành các loại thức ăn khác. Một sản phẩm thông thường là hỗn hợp của khối nghiền nhừ thịt quả xa kê nấu chín hay lên men trộn với sữa dừa và nướng trong lá chuối. Quả còn nguyên có thể nướng, sau đó lấy lõi ra và nhồi bằng các thức ăn khác như sữa dừa, đường, bơ, thịt nấu chín hay các loại quả khác. Quả nhồi này có thể nấu tiếp để cho hương vị của các chất nhồi thấm vào cùi thịt của quả.

Một món ăn của người Hawaii gọi là poi làm từ củ khoai sọ nghiền nhừ có thể dễ dàng thay thế hay tăng thêm bằng xa kê nghiền nhừ. Món ăn này gọi là poi ʻulu. Tại Puerto Rico nó được gọi là "pana".

Quả xa kê chứa khoảng 25% cacbohydrat và 70% nước. Nó chứa trung bình khoảng 20 mg/100g là vitamin C và một lượng nhỏ khoáng chất (kali và kẽm) cùng thiamin (100 μg).

Xa kê được sử dụng rộng rãi và đa dạng đối với những người dân trên các đảo trong Thái Bình Dương. Gỗ của nó có khả năng chống mối và các loài hà (họ Teredinidae) nên hay được sử dụng để làm các loại canoe. Lõi gỗ của nó cũng được dùng làm giấy, gọi là breadfruit tapa. Nó cũng được sử dụng trong y học dân gian trên các đảo để chữa bệnh, từ đau mắt tới đau thần kinh hông.

Trong Y học

Lá Xa kê có tác dụng kháng viêm, kháng sinh, lợi tiểu, trị tiêu chảy, tiểu đường, cao huyết áp, sỏi thận, bệnh gút và viêm gan vàng da. Thí nghiệm trên chuột tại Ấn Độ cho thấy cao khô (chiết bằng cồn 50 độ) của vỏ, lá Xa kê có tác dụng lợi tiểu ở liều 20 mg cao/kg khối lượng cơ thể, nhưng sẽ trở thành chất độc ở liều 80 mg/kg cơ thể. Liều lượng mỗi ngày dùng một lá dạng sắc uống, nhưng do lá có độc nên sau khi uống một tuần thì phải nghỉ một tuần, không được dùng liên tục như uống trà. Có thể dùng lá tươi hoặc là già, lá phơi khô đều được.

Trong lịch sử

Xa kê được thu thập và phân phối bởi đại úy hải quân William Bligh (1754-1817) như là một trong các mẫu thực vật được thu thập bởi tàu HMS Bounty vào cuối thế kỷ 18, phục vụ cho nhu cầu tìm kiếm nguồn thức ăn giàu năng lượng và rẻ tiền cho các nô lệ của đế quốc Anh trong khu vực Caribe.

Trong văn hóa

Theo thần thoại Hawaii, xa kê có nguồn gốc từ sự hy sinh của thần chiến tranh Kū. Sau khi quyết định sống ẩn mình với những người dân thường như là một nông dân, Kū cưới vợ và có con. Gia đình ông sống hạnh phúc cho tới khi nạn đói kém xuất hiện trên đảo của họ. Khi không thể nhìn mãi cảnh các con mình phải chịu đau khổ, Kū nói với vợ của mình rằng ông có thể giải thoát các con khỏi cảnh đói nghèo, nhưng để làm được điều này thì ông phải rời xa họ. Vợ ông đành phải miễn cưỡng đồng ý và sau khi bà đồng ý thì Kū bị chìm vào trong lòng đất nơi ông đang đứng cho tới khi chỉ còn nhìn thấy chỏm đầu của ông. Gia đình ông chờ đợi xung quanh nơi ông đã đứng này cả ngày lẫn đêm, họ khóc và làm ướt đẫm nơi này cho tới khi bỗng nhiên một chồi cây nhỏ xuất hiện tại chính nơi Kū đã đứng. Rất nhanh chóng, chồi cây nhỏ này lớn thành một cây cao, nhiều lá và quả. Gia đình Kū cùng hàng xóm ăn một cách ngon lành, giúp họ thoát khỏi cảnh chết đói.

Mặc dù xa kê phân bổ rộng khắp trong suốt Thái Bình Dương, nhưng nhiều loại giống cây trồng và cây lai ghép lại không hạt hay không có khả năng phát tán xa một cách tự nhiên. Vì thế, sự phân bổ của nó trong khu vực này rõ ràng là do con người, đặc biệt là các nhóm tiền sử, những người đã định cư trên các đảo trong Thái Bình Dương. Để điều tra mô hình di cư của con người trong Thái Bình Dương, các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp xác định niên đại phân tử của các loại giống cây trồng hay lai ghép của xa kê có tính toán phối hợp với các dữ liệu nhân loại học. Các kết quả hỗ trợ giả thuyết di cư tây-sang-đông, trong đó người Lapita được cho là đã di chuyển từ Melanesia tới các đảo của Polynesia.

Cách trồng cây sa kê tại Việt Nam

Cách trồng cây sa kê tại Việt Nam

Được mệnh danh là cây cứu đói Châu Phi, cây sa kê được dùng để chế biến nhiều loại thức ăn ngon trong gia đình.


Cây sa kê được trồng rộng rãi khắp cả nước bởi đặc tính sinh trưởng dễ trồng và thích nghi hầu hết trên các loại đất như nhiễm phèn, nhiễm mặn.

Khi bắt đầu trồng cây phải vun mô nâng cao cho đất khoảng 20cm, giúp thoát nước cho bộ rễ cây.

Vì cây giống chiết cành nên bộ rễ ban đầu còn kém phát triển, bà con cần chống úng cho cây. Dùng phân hữu cơ hoại mục như phân bò hoai hay trùn quế để bón lót cho cây trước khi trồng.

Sau đó dùng cây nén chặt xung quanh gốc để giúp cây vững chãi, có thể dùng 3 - 4 cây cừ tràm hay tầm vông.

Cây sa kê

Sau khi trồng, bà con cần tưới nước đầy đủ cho sa kê. Có thể dùng thuốc ra rễ pha nước tưới cho cây (khoảng 2 - 3 lần, cách nhau 5 - 7 ngày) để cây mau ra rễ mới.

Khoảng 25 - 30 ngày, lá bắt đầu nhú ra thì rải thêm khoảng 1 muỗng cà phê (nếu cây nhỏ) và muỗng canh (đối với cây lớn) phân DAP xung quanh gốc cây.

Sau 3 tháng cây sa kê đã cho nhiều lá mới và chồi non thì bón tiếp phân cho cây.

Nếu trồng cây ngoài đất sân vườn thì chỉ cần chăm sóc trong 2 năm, không cần tưới nước mà chỉ bón phân làm 2 - 3 đợt/năm để cây cho nhiều trái.

Nếu gặp trời mưa kéo dài và nắng gắt đột ngột, làm cho các loài rệp dễ tấn công, cần phun thuốc BVTV vừa phòng rệp cùng thuốc trừ nấm để phun khi có thời tiết bất thường.

Lưu ý phòng trừ sâu bệnh khi cây còn nhỏ hay mới trồng. Tuy nhiên cây sa kê phát triển tốt thì ít khi bị sâu bệnh tấn công.

Cây sa kê trưởng thành cho hàng trăm trái trong 1 năm, cây sa kê thuộc nhóm cây thân gỗ trung bình và sống rất lâu năm.

Thứ Sáu, 9 tháng 2, 2018

Sử dụng lá Sa Kê đúng cách

Sử dụng lá Sa Kê đúng cách

Chỉ xem lá Sa kê như là một phương cách điều trị hỗ trợ bên cạnh các phương pháp điều trị chính thống cho đến khi có những nghiên cứu khoa học về tác dụng của lá Sa kê


Lá Sa kê, từ lâu đã được lưu truyền trong dân gian là một vị thuốc nam có tác dụng như một chất kháng sinh, tiêu viêm lợi tiểu, trong dân gian, thường dùng lá già khô (không dùng lá trên cây, vì cho rằng dùng lá mới rụng xuống mới tốt) để nấu nước uống thay trà, thấy có tác dụng ăn ngủ ngon, ngày dùng 1/2 lá. Sắc uống chữa phù thũng, thận nhiễm mỡ, ngày dùng 2 lá, liên tục trong 20-30 ngày.

Theo lương y Phạm Như Tá, lá sa kê thường được đốt thành than, tán mịn, phối hợp với dầu dừa và nghệ tươi, giã nát, làm thành bánh để đắp chữa mụn rộp. Hoặc dùng lá sa kê và lá đu đủ tươi, lượng bằng nhau, giã với chút vôi (vôi ăn trầu) cho đến khi có màu vàng dùng để đắp chữa sưng viêm, mụn nhọt, áp xe.

Để  bệnh chữa bệnh gout hay bị sỏi thận có thể lấy 100g lá sa kê (loại lá đã già, còn tươi), 100g quả dưa leo, 50g cỏ xước khô. Cho cả 3 loại vào nồi nấu lấy nước dùng.

Để chữa viêm gan vàng da, có thể dùng 100g lá sa kê còn tươi, 50g diệp hạ châu tươi, 50g củ móp gai tươi, 20-50g cỏ mực khô. Tất cả đem nấu chung để lấy nước dùng trong ngày.

Để chữa  tiểu đường tuýp 2 có thể dùng chừng 100 gram lá sa kê (loại lá đã già), 100g quả đậu bắp tươi, 50g lá ổi non. Tất cả đem nấu chung để lấy nước uống. Có thể uống thường xuyên.

Những người bị tình trạng tăng huyết áp dao động có thể dùng 2-3 lá lá sa kê vàng (lá vừa rụng), 50g rau bồ ngót tươi, 20g lá chè xanh tươi, đem tất cả nấu chung lấy nước uống trong ngày.

 Những lưu ý khi dùng lá Sa kê


- Lá sa kê cũng có tác dụng giảm đường huyết nhưng phải kết hợp với một số vị thuốc khác.

- Việc uống lá sa kê nóng hay nguội đều được. Nếu uống nguội: cho vào tủ lạnh (đây cũng là một cách dùng nhiệt độ thấp để bảo quản), thuốc cũng không bị sao. Để yên tâm hơn, ta có thể pha thêm chút nước ấm trước khi uống vì uống lạnh quá có thể dễ gây rối loạn tiêu hóa.

- Đối với người cao tuổi hoặc người hay tiểu đêm nên tránh uống nước sa kê vào buổi chiều tối và buổi tối.

- Người không có bệnh thì không nên tự ý dùng lá sa kê nấu uống thường xuyên.

- Kinh nghiệm và bài thuốc dân gian là vậy nhưng hiện vẫn chưa có kết quả nghiên cứu nghiêm túc nào nói đến cơ chế tác dụng của thuốc, tỉ lệ thành công cũng như những ảnh hưởng lâu dài trên cơ thể người bệnh khi dùng bài thuốc kinh nghiệm từ lá Sa kê. Vì thế, khi được chẩn đoán bị bệnh, nhất là bệnh phức tạp như bệnh gout, tốt nhất bệnh nhân nên tham khảo ý kiến thầy thuốc về vấn đề dùng lá sa kê trị bệnh. Chỉ xem lá Sa kê như là một phương cách điều trị hỗ trợ bên cạnh các phương pháp điều trị chính thống cho đến khi có những nghiên cứu khoa học “rốt ráo” về tác dụng của lá Sa kê.

Ngoài việc dùng lá Sa kê ,các bộ phận như trái, rễ, lá, vỏ và cả nhựa của cây Sa kê đều có nhiều dược tính, thịt của quả Sa kê có tác dụng bổ tỳ, ích khí. Còn hạt Sa kê thì có tác dụng bổ trung ích khí, lợi trung tiện. Vỏ cây có tác dụng sát trùng. Khi bị đau răng, để chữa cơn đau tạm thời trước khi đến khám ở nha sĩ, có thể lấy rễ cây sa kê đem nấu nước ngậm và súc miệng.

Phân biệt cây Sa Kê và Mít Nài

Phân biệt cây Sa Kê và Mít Nài

Cây Mít Nài và cây Sa Kê cùng thuộc họ Dâu tằm, một vài thông tin dưới đây sẽ cho ta những hiểu biết khái quát về 2 cây cùng họ này

Trong dân gian, trái cây Sa Kê là một loại rau quả dùng chế biến thức ăn , lá cây Sa Kê là vị thuốc nam để chữa bệnh. Trong thực tế, nếu không để ý, chúng ta sẽ có sự nhầm lẫn giữa trái của cây Sa Kê và trái của cây Mít Nài, vài thông tin dưới  đây sẽ cho ta những hiểu biết khái quát về 2 cây cùng họ này

Lá và trái cây Sa Kê
Cây Sa Kê có tên khoa học là Artocarpus altilis Forb thuộc họ Dâu tằm ( Moraceae), có xuất xứ từ nước Malaysia, được du nhập về Việt Nam trồng làm cây cảnh do có tán lá đẹp. Cây Sa Kê có hai loại là cây cho trái có hạt và cây cho trái không hạt ( có người gọi đây là cây Bánh mì), người ta thường sử dụng trái Sa Kê không hạt để chế biến thức ăn như chiên giòn hay nấu chè làm bánh có vị rất thơm ngon và bổ dưỡng. Người dân Malaysia xem trái Sa Kê không hạt như là một loại trái cây cung cấp tinh bột trong bữa ăn hàng ngày.

Lá và trái cây Mít nài
Cây Mít Nài có tên khoa học là Artocarpus rigidus cũng thuộc họ Dâu tằm, cây Mít Nài có nguồn gốc cây rừng Việt Nam. Cây Mít Nài hình dạng cây gỗ lớn cao từ 15-20m và lá thì trông giống cây Mít thường gặp , nhưng trái Mít Nài thì nhỏ cỡ quả trứng ngỗng ( đường kính quả từ 6-7 cm), có gai nhô cao, hột to cỡ 12 x 8 mm.

Trái cây Sa kê không hạt

Cây Sa kê có trái không hạt được nhân giống bằng phương pháp chiết cành ( Đường kính gốc 4-5 cm, cao 0,8-1,2m), được ưa chuộng trong việc dùng trồng trang trí cây bóng mát sân vườn.

Còn cây Sa Kê cho trái có hạt thì nhân giống dễ dàng bằng cách gieo hạt nên cây giống có kích thước nhỏ ( Đường kính gốc từ 1-2 cm, cao 0,6- 0,8 cm).

Cây Sa Kê sinh trưởng và cho quả tốt trong điều kiện đất thịt tơi xốp và nhiều dinh dưỡng,  nhưng cũng có khả năng thích nghi rộng có thể trồng được trên đất nhiễm phèn, đất cát pha…nói chung cây Sa Kê hầu như có thể trồng trên cả nước Việt Nam.

Hướng dẫn cách trồng cây sa kê

Hướng dẫn cách trồng cây sa kê

Cây sa kê được quan tâm bởi đây là cây có nhiều lợi ích về trang trí sân vườn và đồng thời thu hoạch được trái dùng trong chế biến nhiều loại thức ăn ngon trong gia đình.


Ngoài ra cây sa kê được trồng rộng rãi hầu như khắp cả nước bởi đặc tính sinh trưởng của cây  dễ trồng và thích nghi hầu hết trên các loại đất như nhiễm phèn, nhiễm mặn…
1.Phân loại cây sa kê và cách nhân giống

Cây sa kê gồm hai loại và được phân biệt bởi trái có hạt và trái không có hạt. Riêng cây sa kê cho trái không hạt được trồng để thu hoạch trái cung cấp trên thị trường. Nếu trồng cây sa kê làm cảnh sân vườn thì không cần phân biệt cấu tạo của trái sa kê.

Nếu cây sa kê cho trái có hạt thì sẽ gieo hạt cho ra cây giống sa kê từ hạt.Còn cây sa kê cho trái không hạt mà chỉ toàn là tinh bột ( phần thịt quả) thì nhân giống chủ yếu từ chiết cành.

2. Hướng dẫn cách trồng cây sa kê

Do cây sa kê có nguồn gốc chủ yếu là chiết cành nên lưu ý khi bắt đầu trồng cây phải vun mô nâng cao độ cho đất cao khoảng 20 cm, nhằm giúp thoát nước cho bộ rễ cây.Vì cây giống chiết cành nên bộ rễ ban đầu còn kém phát triển, cần chống úng cho cây.

Dùng phân hữu cơ hoại mục như phân bò hoai hay phân trùn quế để bón lót cho cây sa kê trước khi trồng. Sau đó dùng cây nén chặt xung quanh gốc để giúp cây vững chãi, có thể dùng 3-4 cây cừ tràm hay tầm vông cột chặt vào thân và cành cây sa kê, phân đầu cừ còn lại cắm xiên xuống đất để tránh gió thổi làm cây ngả đỗ sẽ hư bộ rễ non, cây dễ bị chết.

Trồng cây sa kê nơi có khí hậu lạnh thì cho trái ít hơn vùng khí hậu nóng ẩm.

3. Bón phân và chăm sóc cây sa kê sau khi trồng

Tưới nước đầy đủ cho cây sa kê sau khi trồng, có thể dùng thuốc ra rễ như N3M, surper roots, phân surper lân pha nước tưới cho cây ( khoảng 2-3 lần, cách nhau 5-7 ngày ) để mau ra rễ mới.

Sau khi trồng khoảng 25-30 ngày là cây bắt đầu phục hồi, lá bắt đầu nhú ra thì rải thêm khoảng một muỗng cà phê ( nếu cây nhỏ ) và muỗng canh ( đối với cây lớn) phân DAP xung quanh gốc cây.

Sau 3 tháng cây sa kê đã cho nhiều lá mới và chồi non thì bón phân NPK 16.16.8 hay sunphat amon SA với liều lượng như phân DAP.Có thể bón luân phiên từng đợt cách nhau mỗi tháng bón một lần phân hạt.

Trường hợp trồng cây sa kê nơi đất hẹp mà bộ rễ ăn lên trên thì phải bồi thêm lớp đất và phân hưu cơ cho cây mau lớn. Nếu trồng cây ngoài đất sân vườn thì chỉ cần chăm sóc trong 2 năm , không cần tưới nước mà chỉ cần bón phân làm 2-3 đợt trong năm để cây cho nhiều trái.

Do cây giống sa kê từ nguồn chiết cành nên chỉ cần chăm sóc đầy đủ nước tưới và bón phân, cây ra 3-4 cành tốt là có thể ra trái.

Nếu cây sa kê phát triển quá cao khó thu hái trái thì có thể cắt hạ thấp tàn, cây sẽ cho thêm nhiều cành thấp với tán lá trải rộng.

Trồng cây sa kê thành hàng với số lượng nhiều , chọn khoảng cách là cây cách cây từ 10-12 mét, hàng cách hàng từ 8-10 mét xen kẽ nanh sấu. Có thể trồng cây sa kê xen lẫn với cây ăn trái có tán lá thấp hoặc trồng cây theo ranh đất.

4. Phòng trừ sâu bệnh cho cây sa kê

Khi trồng cây sa kê mà thao tác làm tổn thương nhiều đến bộ rễ, sẽ làm ngọn chính của cây bị teo dần và đen chết , cây sẽ tái sinh những chồi trên thân. Khi đó cần cắt bỏ phần thân nhánh chết khô và phun nấm phòng bệnh như kasumin, valydamycin, metaxyl….

Nếu gặp trời mưa kéo dài và nắng gắt đột ngột, làm cho các loài rệp dễ tấn công, cần phun thuốc BVTV vừa phòng rệp như Secsaigon, anvado 100WP, bassan…cùng thuốc trừ nấm để phun khi có thời tiết bất thường. Lưu ý phong trừ sâu bệnh khi cây còn nhỏ hay mới trồng.

Tuy nhiên cây sa kê phát triển tốt thì ít khi bị sâu bệnh tấn công. Cây sa kê trưởng thành  cho hàng trăm trái trong một năm, cây sa kê thuộc nhóm cây thân gỗ trung bình và sống rất lâu năm.

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

Cây Sa Kê - Xa Kê

Cây Sa Kê - Xa Kê

Xa kê hay sa kê (danh pháp hai phần: Artocarpus altilis) là một loài cây gỗ có hoa trong họ Dâu tằm (Moraceae), bản địa của bán đảo Mã Lai và các đảo miền tây Thái Bình Dương, nhưng hiện nay đã được trồng rộng khắp trong khu vực nhiệt đới, trong đó có miền Nam Việt Nam. Quả sa kê có mùi và vị như bánh mì nên còn được gọi là cây bánh mì - đây là quả lớn nhất trên cạn.

Miêu tả

Xa kê là cây gỗ có thể cao tới 20 m (66 ft). Các lá to và dày bản xẻ thùy sâu hình lông chim. Tất cả các phần của cây đều có chứa nhựa mủ, một loại nhựa cây có màu trắng sữa, được người ta dùng vào việc xảm thuyền.

Xa kê là loài cây đơn tính cùng gốc, với các hoa đực và hoa cái mọc trên cùng một cây. Các hoa đực ra đầu tiên và sau đó một khoảng thời gian ngắn là các hoa cái, mọc thành cụm hoa dạng đầu, chỉ có khả năng được thụ phấn sau đó 3 ngày. Động vật thụ phấn cho nó là các loài dơi ăn quả thuộc Cựu thế giới trong họ Pteropodidae). Quả giả, phức hợp phát triển lên từ bao hoa phình ra và bắt nguồn từ 1.500-2.000 hoa. Chúng được nhìn thấy trên lớp vỏ quả như là các đĩa giống hình lục giác.

Xa kê là một trong những loài cây lương thực có sản lượng cao, với một cây có thể ra tới trên 200 quả mỗi mùa. Tại miền nam Thái Bình Dương, cây sinh ra 50-150 quả mỗi năm. Tại miền nam Ấn Độ, sản lượng thông thường là 150-200 quả mỗi năm. SẢn lượng dao động trong các khu vực khô và ẩm. Tại Tây Ấn, ước tính dè dặt nhất là 25 quả một cây mỗi năm. Các nghiên cứu tại Barbados chỉ ra năng suất tiềm năng 16-32 tấn/ha (6,7-13,4 tấn/mẫu Anh). Quả hình trứng, kích cỡ to bằng quả bưởi chùm có bề mặt thô ráp và mỗi quả trên thực chất là tổ hợp của nhiều quả bế, mỗi quả bế được bao quanh bằng bao hoa dày cùi thịt và phát triển trên đế hoa dày cùi thịt. Một vài giống cây trồng đã qua chọn lọc có quả không hạt.

Xa kê có họ hàng gần với mít. Nó được gọi là "Kada Chakka" trong tiếng Malayalam và "Jeegujje"/"Geegujje"/"Jigujje" trong tiếng Tulu

Sử dụng


Xa kê là cây lương thực ổn định tại nhiều khu vực nhiệt đới. Nó được phổ biến ra xa khỏi quê hương bản địa của mình nhờ các thủy thủ Polynesia, những người đã chuyên chở các gốc ghép, cành giâm đi xa trên đại dương. Xa kê chứa nhiều tinh bột, và trước khi ăn nó có thể được quay, nướng, chiên, luộc. Khi được chế biến, nó có mùi vị giống như khoai tây hay tương tự như bánh mì mới nướng, vì thế mà có tên gọi cây bánh mì.

Do xa kê thường sinh ra một sản lượng lớn trong một khoảng thời gian nhất định trong năm nên việc bảo quản là một vấn đề. Một kỹ thuật bảo quản truyền thống là chôn các quả đã bóc vỏ và rửa sạch trong hố lót bằng lá để lên men trong vài tuần tạo ra một loại bột nhão dính và chua. Đượu lưu trữ như thế, sản phẩm có thể giữ troing một năm hay hơn thế, và một vài hố được thông báo là sinh ra sản phẩm ăn được sau trên 20 năm. Các tên gọi cho sản phẩm quả xa kê được lên men như vậy bao gồm mahr, ma, masi, furo, bwiru v.v.

Quả xa kê có thể ăn sau khi nấu chín hoặc có thể chế biến tiếp thành các loại thức ăn khác. Một sản phẩm thông thường là hỗn hợp của khối nghiền nhừ thịt quả xa kê nấu chín hay lên men trộn với sữa dừa và nướng trong lá chuối. Quả còn nguyên có thể nướng, sau đó lấy lõi ra và nhồi bằng các thức ăn khác như sữa dừa, đường, bơ, thịt nấu chín hay các loại quả khác. Quả nhồi này có thể nấu tiếp để cho hương vị của các chất nhồi thấm vào cùi thịt của quả.

Một món ăn của người Hawaii gọi là poi làm từ củ khoai sọ nghiền nhừ có thể dễ dàng thay thế hay tăng thêm bằng xa kê nghiền nhừ. Món ăn này gọi là poi ʻulu. Tại Puerto Rico nó được gọi là "pana".

Quả xa kê chứa khoảng 25% cacbohydrat và 70% nước. Nó chứa trung bình khoảng 20 mg/100g là vitamin C và một lượng nhỏ khoáng chất (kali và kẽm) cùng thiamin (100 μg).

Xa kê được sử dụng rộng rãi và đa dạng đối với những người dân trên các đảo trong Thái Bình Dương. Gỗ của nó có khả năng chống mối và các loài hà (họ Teredinidae) nên hay được sử dụng để làm các loại canoe. Lõi gỗ của nó cũng được dùng làm giấy, gọi là breadfruit tapa. Nó cũng được sử dụng trong y học dân gian trên các đảo để chữa bệnh, từ đau mắt tới đau thần kinh hông.

Trong Y học

Lá Xa kê có tác dụng kháng viêm, kháng sinh, lợi tiểu, trị tiêu chảy, tiểu đường, cao huyết áp, sỏi thận, bệnh gút và viêm gan vàng da. Thí nghiệm trên chuột tại Ấn Độ cho thấy cao khô (chiết bằng cồn 50 độ) của vỏ, lá Xa kê có tác dụng lợi tiểu ở liều 20 mg cao/kg khối lượng cơ thể, nhưng sẽ trở thành chất độc ở liều 80 mg/kg cơ thể. Liều lượng mỗi ngày dùng một lá dạng sắc uống, nhưng do lá có độc nên sau khi uống một tuần thì phải nghỉ một tuần, không được dùng liên tục như uống trà. Có thể dùng lá tươi hoặc là già, lá phơi khô đều được.

Trong lịch sử

Xa kê được thu thập và phân phối bởi đại úy hải quân William Bligh (1754-1817) như là một trong các mẫu thực vật được thu thập bởi tàu HMS Bounty vào cuối thế kỷ 18, phục vụ cho nhu cầu tìm kiếm nguồn thức ăn giàu năng lượng và rẻ tiền cho các nô lệ của đế quốc Anh trong khu vực Caribe.

Trong văn hóa

Theo thần thoại Hawaii, xa kê có nguồn gốc từ sự hy sinh của thần chiến tranh Kū. Sau khi quyết định sống ẩn mình với những người dân thường như là một nông dân, Kū cưới vợ và có con. Gia đình ông sống hạnh phúc cho tới khi nạn đói kém xuất hiện trên đảo của họ. Khi không thể nhìn mãi cảnh các con mình phải chịu đau khổ, Kū nói với vợ của mình rằng ông có thể giải thoát các con khỏi cảnh đói nghèo, nhưng để làm được điều này thì ông phải rời xa họ. Vợ ông đành phải miễn cưỡng đồng ý và sau khi bà đồng ý thì Kū bị chìm vào trong lòng đất nơi ông đang đứng cho tới khi chỉ còn nhìn thấy chỏm đầu của ông. Gia đình ông chờ đợi xung quanh nơi ông đã đứng này cả ngày lẫn đêm, họ khóc và làm ướt đẫm nơi này cho tới khi bỗng nhiên một chồi cây nhỏ xuất hiện tại chính nơi Kū đã đứng. Rất nhanh chóng, chồi cây nhỏ này lớn thành một cây cao, nhiều lá và quả. Gia đình Kū cùng hàng xóm ăn một cách ngon lành, giúp họ thoát khỏi cảnh chết đói.

Mặc dù xa kê phân bổ rộng khắp trong suốt Thái Bình Dương, nhưng nhiều loại giống cây trồng và cây lai ghép lại không hạt hay không có khả năng phát tán xa một cách tự nhiên. Vì thế, sự phân bổ của nó trong khu vực này rõ ràng là do con người, đặc biệt là các nhóm tiền sử, những người đã định cư trên các đảo trong Thái Bình Dương. Để điều tra mô hình di cư của con người trong Thái Bình Dương, các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp xác định niên đại phân tử của các loại giống cây trồng hay lai ghép của xa kê có tính toán phối hợp với các dữ liệu nhân loại học. Các kết quả hỗ trợ giả thuyết di cư tây-sang-đông, trong đó người Lapita được cho là đã di chuyển từ Melanesia tới các đảo của Polynesia.

Trồng cây Sa kê

Trồng cây Sa kê

Cây Sa kê có thể trồng được quanh năm. Khoảng cách trồng sakê là 12 x 14m vài tài liệu đề xuất 10m hay thấp hơn (Coronel 1983). Khoảng 100 cây/ha ở mật độ 10 x 10 hay 8 x 12m (Narasimhan 1990). Khoảng trống giữa các cây sakê có thể trồng cây nhỏ hơn như đu đủ, chuối, dứa hoặc rau cho đến khi cây sakê thuần thục (Ragone, 1997).

1. Giới Thiệu:

Tên thông thường: Cây Sa Kê, Cây Bánh Mì, Tên khoa học: Artocarpus altilis, Họ: Moraceae ( Dâu tằm), Chiều cao: 4 m- Đường kính thân : 10-12cm Cây Sa Kê có nguồn gốc từ các nước Đông Nam Á (được trồng nhiều ở Malaysia) và các Đảo Thái Bình Dương, hiện nay đã được trồng rộng khắp các nước nhiệt đới, trong đó có Việt Nam. Sa Kê là cây gỗ lớn, Cây trưởng thành có chiều cao khoảng 10m đến 20m, có nhựa mủ màu trắng sữa, cành mảnh mọc ngang, dài, làm thành tán rộng, dày. Lá Sa Kê lớn chia 3-9 thùy thuôn dài, cuống mập, rụng để sẹo trên cành. Đặc biệt lá có màu xanh bóng ở mặt trên, mặt dưới rất nhám, khi rụng đổi màu vàng nâu khô, cứng có thể làm vật trang trí. Sa Kê là cây đơn tính cùng gốc, hoa đực và hoa cái cùng mọc trên một cây. Cụm hoa đực ra đầu tiên có dạng bông dài, hoa nhỏ màu vàng, sau đó sẽ xuất hiện cụm hoa cái hình bầu thuôn, mập khi non có màu xanh, hoa mọc thẳng đứng trên cành, khi già hoa cái chuyển sang vàng rất bền. Cây Sa Kê thụ phấn nhờ côn trùng và động vật, chủ yếu là nhờ vào dơi ăn quả. Quả

Sa Kê giống dạng quả mít nhưng không tạo múi chứa thịt quả và hạt. Quả có thể dùng để luộc ăn, say lấy bột chiên hoặc nấu rượu…mang lại giá trị kinh tế cao. Cây Sa Kê gồm hai loại và được phân biệt bởi trái có hạt và trái không có hạt. Riêng Cây Sa Kê cho trái không hạt được trồng để thu hoạch trái cung cấp trên thị trường. Nếu trồng Cây Sa Kê làm cảnh sân vườn thì không cần phân biệt cấu tạo của trái sa kê.

2. Tiêu Chuẩn Chọn Giống:

Chọn cây khỏe mạnh, không sau bệnh, có thể là cây ghép hoặc cây chiết. Giống sakê được chia làm hai loại: loại có hạt là loại bình thường trong khi loại không có hạt là loại đột biến. Loại có hạt thường dùng hạt và khá giống hạt dẻ. Loại không có hạt dùng làm thức ăn. Các giống dùng làm thực phẩm khác nhau ít về chất lượng (Martin 1998). Loại có hạt nhân giống từ hạt. Loại không có hạt thường được nhân vô tính từ rễ hoặc chồi.

3. Thời Vụ và Mật Độ Trồng:

Cây Sa kê có thể trồng được quanh năm. Khoảng cách trồng sakê là 12 x 14m vài tài liệu đề xuất 10m hay thấp hơn (Coronel 1983). Khoảng 100 cây/ha ở mật độ 10 x 10 hay 8 x 12m (Narasimhan 1990). Khoảng trống giữa các cây sakê có thể trồng cây nhỏ hơn như đu đủ, chuối, dứa hoặc rau cho đến khi cây sakê thuần thục (Ragone, 1997).

4. Làm Đất Và Đào Hố Trồng:

Cây sa kê sống từ 30- > 50 năm, cao từ 10- 20m, đường kính cây lên đến 1,2m, người ta thường hãm ( chặt) để cây chống đổ khi có bão nhưng không làm giảm năng suất ra quả của cây, cây sa kê thích hợp với tất cả các vùng thổ nhưỡng kể cả đất phèn, đất mặn. Cây sinh trưởng > 5 độ C, dưới 5 độ C cây vẫn sống nhưng không có quả.

5. Phân Bón Lót:


Dùng phân hữu cơ hoại mục như phân bò hoai hay phân trùn quế để bón lót cho cây sa kê trước khi trồng. Sau đó dùng cây nén chặt xung quanh gốc để giúp cây vững chãi, có thể dùng 3-4 cây cừ tràm hay tầm vông cột chặt vào thân và cành cây sa kê, phân đầu cừ còn lại cắm xiên xuống đất để tránh gió thổi làm cây ngả đỗ sẽ hư bộ rễ non, cây dễ bị chết. Coronel (1983) đề xuất bón 100-200g SA/cây một tháng sau khi trồng và sau đó 6 tháng/lần. Khi cây bắt đầu cho trái, bón 500-1000g/cây, 2 lần/năm. Khi cây cho trái nhiều cần bón 2kg/cây. Cây không cần tỉa tạo cành ngoại trừ việc cắt đi cành chết. Khi cây quá cao có thể cưa ngọn để duy trì độ cao phù hợp cho việc thu họach (Ragone, 1997).

6. Kỹ Thuật Trồng Cây Sa Kê:

Khi bắt đầu trồng cây phải vun mô nâng cao độ cao của đất lên khoảng 20cm, nhằm giúp thoát nước cho bộ rễ cây Tiến hành đào lỗ đặt bầu sao cho rễ và thần cây ngay thẳng ở giữ hố, mặt trên của bầu thấp hơn miệng hố 1-2cm. Xé bỏ vò bầu trước khi đặt cây xuống hố, chú ý không được làm vỡ bầu hay bầu bị biến dạng. Lấp phần đất mặt xuống trước, lèn chặt bầu, vun thêm đất mặt vào quanh gốc trên cổ rễ 2-3cm. Dùng 3-4 cây gỗ cột vào thân và cành cây, đầu còn lại cắm xuống đất để tránh gió thổi làm đổ cây bật rễ non làm hỏng bộ rễ.

7. Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Sa Kê:

7.1. Kỹ thuật chăm sóc định kỳ:

Tưới nước đầy đủ cho cây sa kê sau khi trồng, có thể dùng thuốc ra rễ như N3M, surper roots, phân surper lân pha nước tưới cho cây ( khoảng 2-3 lần, cách nhau 5-7 ngày ) để mau ra rễ mới. Sử dụng tàn dư thực vật giữ ẩm là rất phổ biến cho cây sakê ở vùng Thái Bình Dương. Thời gian đầu sau trồng, cây cần được tưới nước nhưng sau đó nếu không tưới cây sakê vẫn sinh trưởng và đậu trái tốt, thậm chí ở vùng có mùa khô rõ rệt (Ragone, 1997).

7.2. Kỹ thuật Cắt tỉa, tạo hình:


Thường xuyên cắt bỏ những cành lá khô, héo, sâu bệnh.

7.3. Kỹ thuật Bón phân Cho Cây Sa Kê:

Sau khi trồng khoảng 25-30 ngày là cây bắt đầu phục hồi, lá bắt đầu nhú ra thì rải thêm khoảng một muỗng cà phê ( nếu cây nhỏ ) và muỗng canh ( đối với cây lớn) phân DAP xung quanh gốc cây. Sau 3 tháng cây sa kê đã cho nhiều lá mới và chồi non thì bón phân NPK 16.16.8 hay sunphat amon SA với liều lượng như phân DAP.Có thể bón luân phiên từng đợt cách nhau mỗi tháng bón một lần phân hạt. Trường hợp trồng cây sa kê nơi đất hẹp mà bộ rễ ăn lên trên thì phải bồi thêm lớp đất và phân hưu cơ cho cây mau lớn. Nếu trồng cây ngoài đất sân vườn thì chỉ cần chăm sóc trong 2 năm , không cần tưới nước mà chỉ cần bón phân làm 2-3 đợt trong năm để cây cho nhiều trái.

8. Phòng Trừ Sâu Bệnh Cho Cây Sa Kê:

Khi trồng cây sa kê mà thao tác làm tổn thương nhiều đến bộ rễ, sẽ làm ngọn chính của cây bị teo dần và đen chết , cây sẽ tái sinh những chồi trên thân. Khi đó cần cắt bỏ phần thân nhánh chết khô và phun nấm phòng bệnh như kasumin, valydamycin, metaxyl…. Nếu gặp trời mưa kéo dài và nắng gắt đột ngột, làm cho các loài rệp dễ tấn công, cần phun thuốc BVTV vừa phòng rệp như Secsaigon, anvado 100WP, bassan…cùng thuốc trừ nấm để phun khi có thời tiết bất thường. Lưu ý phong trừ sâu bệnh khi cây còn nhỏ hay mới trồng. Tuy nhiên cây sa kê phát triển tốt thì ít khi bị sâu bệnh tấn công. Cây sa kê trưởng thành cho hàng trăm trái trong một năm, cây sa kê thuộc nhóm cây thân gỗ trung bình và sống rất lâu năm. Sakê là cây thân cứng và tương đối ít sâu bệnh, tuy nhiên rệp sáp và bệnh đốm lá có thể gặp ở nhiều cây (Rajendran 1992). Vấn đề sâu bệnh ở sakê mang tính khu vực, bọ nhảy hai đốm hại lá ở Hawaii, rệp Rastrococcus invadeniss ở Tây Phi (Agounke et al.1988), nấm Rosellinina sp. ở Trinidad and Grenada (Marte 1986), tuyến trùng hại rễ (Meloidogyne sp.) gây nghiêm trọng ở Malaysia (Razak 1978). Ngoài ra còn có die-back (Zaiger and Zentmeyer 1966), thối trái, ruồi hại trái (Ragone, 1997)

9. Thu Hoạch và Bảo Quản:

Thường hái trái khi đã già nhưng chưa chín, trái thu hoạch không rớt xuống nền đất sẽ lưu giữ được lâu hơn. Nghiên cứu cho thấy có thể bảo quản sakê trong túi P.E. kín ở nhiệt độ thấp nhưng trái dễ bị tổn thương lạnh nếu bảo quản dưới 12°C. Bảo quản ở 14°C có thể giữ được 10 ngày. Thu hái cẩn thận có thể cải thiện thời gian bảo quản và chất lượng trái (Maharaj and Sankat 1990). Dùng màng bao (waxed) và bảo quản ở 16°C có thể kéo dài được 18 ngày. Bảo quản trong điều kiện điều chỉnh khí 5% CO2 và 5% O2 ở 16°C có thể bảo quản được 25 ngày nhưng giá thành cao (Ragone, 1997).

10. Kinh nghiệm và Thị Trường:

Cây sakê cung cấp dinh dưỡng cao, hàm lượng hydrat carbon cao, và có thể tiêu thụ được ở mọi giai đọan. Cây có tuổi thọ hơn 50 năm và cung cấp dinh dưỡng cho con người, làm gỗ và thức ăn gia súc. Sakê yêu cầu đầu tư ít, nhân công ít và có thể trồng trong nhiều điều kiện sinh thái. Bởi sakê thường được sử dụng khi chín nhưng còn cứng, các nghiên cứu về dinh dưỡng, phát triển thương mại hóa sản phẩm cần lưu ý giai đọan này để kéo dài thời gian quả cứng. Quả chín thường bị bỏ đi hoặc làm thức ăn cho gia súc và vì vậy rất ít nghiên cứu để mở rộng khả năng sử dụng quả khi chín. Trái sakê có thể tiêu thụ nhiều hơn nếu phối trộn sakê trong các sản phẩm khác như thức ăn em bé, đồ nướng, đồ tráng miệng (Ragone, 1997)

Cách trồng cây sa kê tại Việt Nam

Cách trồng cây sa kê tại Việt Nam

Được mệnh danh là cây cứu đói Châu Phi, cây sa kê được dùng để chế biến nhiều loại thức ăn ngon trong gia đình.

Cây sa kê được trồng rộng rãi khắp cả nước bởi đặc tính sinh trưởng dễ trồng và thích nghi hầu hết trên các loại đất như nhiễm phèn, nhiễm mặn.

Khi bắt đầu trồng cây phải vun mô nâng cao cho đất khoảng 20cm, giúp thoát nước cho bộ rễ cây.

Vì cây giống chiết cành nên bộ rễ ban đầu còn kém phát triển, bà con cần chống úng cho cây. Dùng phân hữu cơ hoại mục như phân bò hoai hay trùn quế để bón lót cho cây trước khi trồng.

Sau đó dùng cây nén chặt xung quanh gốc để giúp cây vững chãi, có thể dùng 3 - 4 cây cừ tràm hay tầm vông.

Cây sa kê

Sau khi trồng, bà con cần tưới nước đầy đủ cho sa kê. Có thể dùng thuốc ra rễ pha nước tưới cho cây (khoảng 2 - 3 lần, cách nhau 5 - 7 ngày) để cây mau ra rễ mới.

Khoảng 25 - 30 ngày, lá bắt đầu nhú ra thì rải thêm khoảng 1 muỗng cà phê (nếu cây nhỏ) và muỗng canh (đối với cây lớn) phân DAP xung quanh gốc cây.

Sau 3 tháng cây sa kê đã cho nhiều lá mới và chồi non thì bón tiếp phân cho cây.

Nếu trồng cây ngoài đất sân vườn thì chỉ cần chăm sóc trong 2 năm, không cần tưới nước mà chỉ bón phân làm 2 - 3 đợt/năm để cây cho nhiều trái.

Nếu gặp trời mưa kéo dài và nắng gắt đột ngột, làm cho các loài rệp dễ tấn công, cần phun thuốc BVTV vừa phòng rệp cùng thuốc trừ nấm để phun khi có thời tiết bất thường.

Lưu ý phòng trừ sâu bệnh khi cây còn nhỏ hay mới trồng. Tuy nhiên cây sa kê phát triển tốt thì ít khi bị sâu bệnh tấn công.

Cây sa kê trưởng thành cho hàng trăm trái trong 1 năm, cây sa kê thuộc nhóm cây thân gỗ trung bình và sống rất lâu năm.

Cây Sa Kê Giống

Cây Sa Kê Giống

Xa kê hay sa kê (danh pháp hai phần: Artocarpus altilis) là một loài cây gỗ có hoa trong họ Dâu tằm (Moraceae), bản địa của bán đảo Mã Lai và các đảo miền tây Thái Bình Dương, nhưng hiện nay đã được trồng rộng khắp trong khu vực nhiệt đới, trong đó có miền Nam Việt Nam. Quả sa kê có mùi và vị như bánh mì nên còn được gọi là cây bánh mì - đây là quả lớn nhất trên cạn.

Xa kê là cây gỗ có thể cao tới 20 m (66 ft). Các lá to và dày bản xẻ thùy sâu hình lông chim. Tất cả các phần của cây đều có chứa nhựa mủ, một loại nhựa cây có màu trắng sữa, được người ta dùng vào việc xảm thuyền.

Xa kê là một trong những loài cây lương thực có sản lượng cao, với một cây có thể ra tới trên 200 quả mỗi mùa. Các nghiên cứu tại Barbados chỉ ra năng suất tiềm năng 16-32 tấn/ha

Xa kê chứa nhiều tinh bột, và trước khi ăn nó có thể được quay, nướng, chiên, luộc. Khi được chế biến, nó có mùi vị giống như khoai tây hay tương tự như bánh mì mới nướng, vì thế mà có tên gọi cây bánh mì.

Cây Sa Kê là một trong những loại cây được nhiều người ưa chuộng hiện nay, không nhưng đêm lại vẻ đẹp tươi mát, trong lành cây còn mang nhiều giá trị, được dùng để làm lương thực, làm thực phẩm, làm thuốc và lấy gổ vì gổ sa kê lúc đầu có màu vàng sau đó tiếp xúc với không khí biến thành màu đen như gổ mun nên có giá rất cao trên thị trường thế giới.

Cây sa kê giống là cây ghép được chuyển từ miền nam ra nên quý khách có thể hoàn toàn yên tâm về chất lượng cây giống, đảm bảo sự phát triển tốt và sớm cho quả, thời gian cho quả khoảng 3 năm sau khi trồng.

Nguồn cây: Trung tâm cây giống Miền Nam

Giá bán: 30.000đ/1 kg

Luôn có khả năng cung cấp với số lượng lớn với các kích thước cây khác nhau.

Giá chưa bao gồm tiền vận chuyển và thuế giá trị gia tăng VAT, giá cây có thể thay đổi theo thời điểm và kích thước cây.

Giá cả hợp lý khi lấy số lượng lớn. Xin liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 04.668 07 969 - 0986 266 563 hoặc email Hoptienhanoi@gmail.com để nhận được giá tốt nhất!