Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây Nhót. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây Nhót. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 27 tháng 2, 2019

Kỹ thuật trồng cây nhót ngọt

Kỹ thuật trồng cây nhót ngọt

Cây nhót là loại giống mới do đột biến gen từ loại nhót chua. Dần dần được các nhà khoa học chọn lọc và cho nhân giống đại trà nên hiện giờ giống nhót này được bày bán khắp nơi.


Cây nhót ngọt có niều ưu điểm hơn so với giống nhót thường. Đầu tiên phải kể đến kích thước của chúng to hơn nhót chua. Khi ăn bạn sẽ vẫn phải mài lớp nhũ bên ngoài nhưng phần thịt bên trong lại có vị ngọt ngọt hơi chua khá ngon miệng.  Do là giống mới lại có hương vị thơm ngon nên nhót ngọt được nhiều chị em mua về thưởng thức khá nhiều nhất là những người hay ăn vặt thì đây là một loại quả tuyệt vời.

Gía trị dinh dưỡng của quả nhót ngọt:

Theo nghiên cứu thì trong nhót ngọt có chứa rất nhiều chất dinh dưỡng có lợi cho cơ thể. Ngoài quả ra thì cả lá, hạt và rễ của chúng cũng được dùng làm thuốc chữa bệnh khá hiệu quả.

Nhót ngọt có vị ngọt chua chua do có chứa tanin, polyphenol cùng hàm lượng vitamin C, A lớn nên có tác dụng trị ho và giảm sốt khá tốt. Bên cạnh đó hàm lượng chất xơ cao cũng rất tốt cho hệ tiêu hóa của bạn. Nhiều chị em muốn giảm cân có thể ăn nhót ngọt cũng giúp họ giữ dáng khá tốt.

Cách trồng cây nhót ngọt: Giống nhót ngọt này không quá khó trồng. Chỉ cần bạn chăm sóc cẩn thận theo đúng kĩ thuật thì năm nào cây cũng cho ra quả.

Thời vụ trồng: Theo kinh nghiệm giôngs nhót ngọt này thích hợp nhất khi trồng vào 2 vụ ở các tỉnh phía Bắc là vụ Thu tháng 8-10 và vụ xuân từ tháng 2-4 hàng năm.

Tiêu chuẩn chọn giống: Cây nhót ngọt hiện nay được nhân giống bằng phương pháp ghép cành. Cây con giống được chiết ra từ cành cây mẹ nên mang gen di truyền của cây mẹ 100%. Bạn nên chú ý lựa chọn cây con giống khỏe mạnh không sâu bệnh và có đầy đủ bộ phận như lá chồi và rễ.

Chọn lựa đất trồng nhót ngọt:

Nhót ngọt không kém đất nên bạn có thể trồng chúng ở nhiều loại đất khác nhau như đất đồi, đất thịt cát pha hoặc cả đất ven sông có lượng phù sa lớn. Tuy nhiên nên trồng tại những nơi có chất đất cao thoát nước tốt và có độ pH từ 5,5-7.

Chuẩn bị đất và trồng cây con giống:

Để cây phát triển tốt nhất và cho năng suất cao bạn cần phải làm đất và bón lót cho đất trước khi trồng. Đào hố sâu khoảng 60cm chiều rộng 60cm và khoảng cách mỗi hố từ 3m trở lên. Bón vào mỗi hố 10kg phân chồng hoai mục và 1kg phân Super Lân cùng 1kg vôi bột. Tất cả đem trộn đều với đất rồi ủ đất lại như cũ sau 1 tháng mới trồng cây con giống vào.

Sau khoảng 1 tháng trồng bạn tiến hành trồng cây con giống vào hố. Nhẹ nhàng đặt bầu đất vào trong hố trồng rồi lấp đất kín bề mặt cây. Dùng tay lèn chặt đất phần cổ rễ của cây để cố định không cho cây bị xiêu vẹo. Có thể cắm thêm cọc tre cố định cây để gió không làm đổ gẫy cây. Trồng xong tưới nước ngay và duy trì độ ẩm cho cây trong khoảng 1 tháng đầu mới trồng.

Cây nhót ngọt là giống thân leo nên khi trồng được 1 tháng bạn cần làm giàn cho cây bám. Có thể làm giàn bằng cột sắt hoặc gỗ có lưới rộng để cây vươn tán được thoải mái. Giàn lên làm với chiều cao trung bình để sau này dễ dàng thu hái.

Kỹ thuật tưới nước cho cây: Nhót là giống cây có nguồn gốc nhiệt đới nên cần khá nhiều nước để phát triển. Ở giai đoạn đầu bạn nên tưới đều và đủ. Vào mùa mưa nên chú ý thoát nước cho đất, mùa khô tăng lượng nước tưới. Chú ý bên cạnh việc tưới nước bạn cũng nên cắt tỉa cỏ dại và xới xáo đất cho thông thoáng.  Có thể trồng xen thêm một số loại cây khác để hạn chế cỏ dại.


Kỹ thuật Cắt tỉa, tạo hình: Do là giống cây leo nên một khi có giàn cây sẽ sinh trưởng rất nhanh và mạnh. Chồi của cây vươn ra từng ngày chẳng mấy chốc đã phủ kín cả giàn. Lúc này bạn cũng nên định kì cắt tỉa cành và tạo tán cho cây. Cắt bỏ những lá già, cành khô héo để tạo độ thoáng cho giàn giúp đón được đủ ánh sáng. Chỉ có hấp thụ đủ dinh dưỡng và ánh sáng thì cây mới sinh trưởng tốt và nhanh cho ra quả.

Bón phân cho cây nhót ngọt: Để cây nhanh lớn và cho ra quả cần phải được cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho đất. Định kì 2 tháng 1 lần bạn bón thúc cho cây phân NPK khoảng 100gr/cây. Thời kì đơm hoa khoảng trung tuần tháng 11 bạn tiến hành bón 1kg phân ure và 1kg phân Kali.

Chú ý khi bón hòa phân vào nước rồi bón đều quanh gốc cây cách gốc khoảng 30cm.

Phòng trừ sâu bệnh cho cây: Cây nhót ngọt nhìn chung khỏe mạnh và không có nhiều bệnh hại. Những bệnh chủ yếu là đốm lá, bệnh thối rễ và sâu đục quả. Cần phát hiện sớm những dấu hiệu của sâu bệnh để có hướng điều trị kịp thời. Có thể bắt sâu bằng tay hoặc có thể sử dụng một số chế phẩm sinh học phun làm nhiều đợt cho cây để giúp cây khỏe mạnh trở lại.

Thu Hoạch và Bảo Quản: Khoảng 15 tháng từ lúc trồng cây nhót ngọt sẽ cho thu hoạch đợt đầu tiên. Nhót khi chín sẽ chuyển từ màu xanh sang màu cam đỏ. Đợi hôm nắng ráo bạn có thể thu hái quả. Qủa nhót lúc này cầm vẫn chắc tay và lớp vẩy trắng vẫn còn khá nhiều. Bạn thu hái nhẹ nhàng và vận chuyển đến nơi thoáng mát để bảo quản.

Thông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969

Thứ Ba, 6 tháng 2, 2018

Cây Nhót

Cây Nhót

Cây Nhót thuộc loại cây bụi, có cành trườn, có thể dài đến 7 m, thường có gai. Hoa, rễ và lá có thể dùng làm thuốc. Toàn bộ thân cây, mặt sau lá và quả có một lớp vảy trắng hình tròn rất nhỏ xếp sát nhau. Lớp vảy này thường bám dày và chắc khi quả còn non và khi quả càng già lớp vảy càng mỏng, dễ bong khi bị chà xát.


Nhót, danh pháp khoa học hai phần: Elaeagnus latifolia, là loài thực vật thuộc họ Nhót ( Elaeagnaceae ). Cây Nhót còn có các tên gọi khác như : Hồ đồi tử, Bồ đồi tử, Lư đô tử, Bán hàm xuân, Hoàng bà nãi (Bản Thảo Cương Mục), Tước nhi tô (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải), lô đô tử, dã tỳ bà, thanh minh tử, co lót ( dân tộc Thái ). Cây này được trồng phổ biến ở miền Bắc Việt Nam. Quả Nhót có thể ăn hoặc dùng để nấu canh chua. Ngoài ra cây nhót còn có rất nhiều tác dụng làm thuốc trong y học cổ truyền.

Cây Nhót thuộc loại cây bụi, có cành trườn, có thể dài đến 7 m, thường có gai. Hoa, rễ và lá có thể dùng làm thuốc. Toàn bộ thân cây, mặt sau lá và quả có một lớp vảy trắng hình tròn rất nhỏ xếp sát nhau. Lớp vảy này thường bám dày và chắc khi quả còn non và khi quả càng già lớp vảy càng mỏng, dễ bong khi bị chà xát.

Quả nhót có hình bầu dục, ngoài mặt có nhiều vảy, tiếp đến là lớp thịt, phía trong cùng có một hạch cứng (còn gọi là hạt), khi chín quả có màu đỏ trông rất bắt mắt.

Nhót có thể ăn được cả khi xanh và khi chín; Tại miền Bắc nước ta, Nhót thường được khai thác nhiều khi còn xanh để ăn trực tiếp kèm rau Bắp cải, lá Tỏi tươi, Gừng, rau Mùi và chấm loại gia vị được làm từ Muối tinh, ớt bột, mì chính, đường cát. Ngoài ra cũng có thể trộn cùng một số loại gia vị khác làm thành nộm, gỏi cá...

Có 2 loại Nhót cho 2 loại quả chua và ngọt; nhưng hầu hết Nhót đều có đặc tính là chua khi còn xanh và ngọt khi đã chín đỏ. Khi ăn phải chú ý rửa sạch, hoặc lau chùi sạch phần vảy bên ngoài nếu không rất dễ bị viêm họng do vảy nhót bám vào.

Tác dụng trong y học

Trong Trung dược, Nhót có tên là "Hồ đồi". Theo Trung y:

- Quả Nhót: Vị chua, chát, tính bình. Có tác dụng thu liễm, trừ ho suyễn (chỉ khái bình suyễn), chống chảy máu (chỉ huyết). Dùng chữa tiêu hoá kém (tiêu hoá bất lương), lị, ho suyễn, băng huyết, sán khí, trĩ lở loét (trĩ sang). Liều dùng: 9 - 15g.

- Lá Nhót: Vị chua, tính bình, vô độc. Dùng chữa các chứng phế hư khí đoản, khái thấu khí suyễn, khái huyết, ung nhọt… Liều dùng: 9 - 15g khô (20 - 30g tươi).
       
- Chữa tiêu chảy bằng lá cây nhót: Lá nhót sao vàng, sắc nước uống sẽ giúp chữa bệnh tiêu chảy ở trẻ em khá hiệu quả. Sau phơi khô hoặc sao vàng lá nhót, bạn tán thành bột và hòa với nước cơm hoặc sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày. Hoặc nếu không có lá nhót khô, bạn lấy khoảng 20 lá nhót tươi và sắc uống cũng tốt cho việc chữa trị bệnh tiêu chảy ở trẻ.

- Đặc biệt, về tác dụng trị chứng hen suyễn, sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân đã viết: Ngay cả đối với người bị hen suyễn rất nặng cũng kiến hiệu. Có người mắc bệnh đã 30 năm, uống lá Nhót bỗng nhiên khỏi bệnh. Người bị nặng, uống thuốc một thời gian, ở ngực thấy nổi mày đay, ngứa ngáy, phải gãi liên tục mới chịu được. Người thể tạng suy yếu quá thì cho thêm cùng một lượng Nhân sâm vào sắc uống.

Kết quả thử nghiệm lâm sàng tại một số bệnh viện ở Trung Quốc những năm gần đây cho thấy: Dùng lá Nhót sao vàng tán mịn, ngày uống 2 lần vào sáng sớm và buổi tối, mỗi lần 4g, dùng nước cơm nóng chiêu thuốc, liên tục trong 15 ngày (một liệu trình), trường hợp cần thiết có thể phải điều trị nhiều liệu trình. Có thể dùng lá Nhót tươi 1 lạng, sắc nước, chia 3 lần uống trong ngày, liên tục trong 4 ngày.

- Rễ cây Nhót: (thường đào vào tháng 9 - 10, phơi khô dùng dần): Vị chua, tính bình. Có tác dụng chỉ khái, chỉ huyết, trừ phong thấp, tiêu tích trệ, lợi yết hầu. Dùng chữa các chứng bệnh ho suyễn, thổ huyết, khạc ra máu, đại tiện ra máu, kinh nguyệt quá nhiều, phong thấp khớp xương đau nhức, hoàng đản, tả lỵ, trẻ nhỏ cam tích, yết hầu sưng đau… Liều dùng: 9 - 15g khô (30 - 60g tươi) sắc với nước hoặc ngâm rượu uống. Dùng ngoài: sắc với nước để rửa.

- Chữa các chứng ho nói chung: Lá Nhót tươi 30g, sắc với nước, thêm chút đường và uống.

- Lao phổi ho ra máu: Lá Nhót tươi 24g, đường 15g; dùng nước sôi hãm như nước trà; ngày uống 2 lần sau bữa ăn.

- Nhọt độc phát ở sau lưng (hậu bối), các vết thương chảy máu:
Lá Nhót tươi, rửa sạch, giã nát, đắp vào chỗ bị bệnh.

- Bị ong đốt, rắn cắn: Lá Nhót tươi rửa sạch, giã nát vắt lấy nước cốt với rượu uống, còn bã đem đắp vào chỗ bị bệnh.

- Thổ huyết, đau họng khó nuốt: Rễ cây Nhót 30g sắc với nước uống (Trung thảo dược thủ sách).

- Phong hàn phế suyễn (phát cơn suyễn do bị nhiễm lạnh):
Rễ cây Nhót 30g, đường đỏ 15g, sắc nước uống sau bữa ăn cơm.

- Nôn ra máu, khạc ra máu, đại tiện ra máu, kinh nguyệt quá nhiều:
Rễ cây Nhót 30 - 60g, sắc nước uống sau bữa ăn cơm.

- Phong thấp đau nhức: Rễ cây Nhót 120g, Hoàng tửu 60g, chân giò 500g, đổ nước vào nấu kỹ, thành món chân giò hầm; ăn thịt và uống nước thuốc.

- Hoàng đản (vàng da): Rễ cây Nhót 15 - 18g, sắc nước uống

- Phụ nữ sau khi đẻ đau bụng, ỉa chảy ra toàn nước trong kèm theo đồ ăn không tiêu hoá (hạ lị): Dùng rễ cây Nhót 60g, đường đỏ 30g, sắc nước uống.

- Sản hậu phù thũng: Rễ cây Nhót, ích mẫu thảo, mỗi thứ 12g, sắc nước, thêm chút đường đỏ vào uống.

- Thấp chẩn (eczema):
Rễ cây Nhót một nắm (vùng da bị bệnh rộng thì tăng thêm), sắc nước rửa chỗ bị bệnh.

- Trị lỵ trực khuẩn và bệnh tiêu chảy, viêm đại tràng mạn tính: 20 - 30g lá nhót tươi hoặc 6 - 12g lá nhót khô, sao vàng, sắc với 400ml nước còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày, trước các bữa ăn 1,5 giờ. Có thể uống liền 1 - 2 tuần đến khi hết các triệu chứng. Hoặc dùng dưới dạng bột khô lá nhót, ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 8 - 12g, uống với nước cơm; hoặc phối hợp đồng lượng với bột của vỏ cây đỗ trọng nam. Lưu ý: khi uống cần kiêng các thức ăn tanh, lạnh: cá cua, ốc, ếch...

- Trị ho, nhiều đờm, hen suyễn: lá nhót 16g sao vàng, lá táo ta (táo chua) 12g sao vàng; hạt cải củ, hạt cải bẹ, mỗi thứ 6g, sao vàng, giã giập. Hạt cải củ, cải bẹ gói vào miếng vải sạch, cho vào cùng sắc nước với lá nhót và lá táo. Sắc 2 - 3 lần, gộp dịch nước sắc lại, chia 3 lần uống trong ngày trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền 2 - 3 tuần đến khi các triệu chứng thuyên giảm.

- Trị ho, hen, khó thở: có thể dùng quả nhót 6 - 12g/ngày, dưới dạng thuốc sắc, thuốc hãm, hay thuốc bột. Uống nhiều ngày, tới khi các triệu chứng thuyên giảm.

- Trị ho ra máu, hoặc nôn ra máu, chảy máu cam: rễ nhót 16g sao đen, sắc uống ngày một thang. Có thể phối hợp với cỏ nhọ nồi, ngải diệp, trắc bách diệp. Tất cả đều sao đen, sắc uống ngày một thang, chia 3 lần uống trước bữa ăn 1,5 giờ. Trong khi uống thuốc, cần kiêng các thứ cay nóng: rượu, bia, ớt...

Kiêng kỵ: Lá và rễ nhót không dùng cho phụ nữ có thai.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây nhót ngọt

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây nhót ngọt

Đây là giống nhót mới do biến dị trên giống nhót chua, được người dân tự chọn lọc, trồng và nhân giống một cách tự phát trong nhân dân. Nhót được trồng 2 vụ trong năm ở các tỉnh phía bắc. Vụ xuân trồng tháng 2-4. Vụ thu trồng tháng 8-10.


1. Giống và thời vụ:

Giống nhót ngọt: Đây là giống nhót mới do biến dị trên giống nhót chua, được người dân tự chọn lọc, trồng và nhân giống một cách tự phát trong nhân dân. Đặc điểm quả to hơn nhót chua, khi chín ăn có vị ngọt rôn rốt hơi chua (như vị cây dứa Ta, dứa Mỹ Cayen), các đặc điểm khác giống nhót chua. Trồng nhót ngọt cho hiệu quả kinh tế khá cao. Trồng một cây nhót ngọt 7-10 năm tuổi cho 1-2 tạ quả, thu nhập 4-6 trăm ngàn đồng.

Thời vụ: Nhót được trồng 2 vụ trong năm ở các tỉnh phía bắc. Vụ xuân trồng tháng 2-4. Vụ thu trồng tháng 8-10.

2. Kỹ thuật trồng trọt:

Chọn đất trồng: Nhót có thể trồng trên nhiều loại đất như phù sa ven sông, đất đồi, đất phù sa cổ, đất thung lũng ở các vùng núi…Các loại đất có tầng dầy > 80cm, thoát nước (nhẹ và xốp), mực nước ngầm dưới 1m, độ PH từ 5,5-7, độ dốc không quá 12o. Chủ động tưới tiêu.

Đào hố rộng: 0,8 – 1m, sâu 0,6 – 0,8m hình tròn hoặc vuông. Mỗi hố bón 30 – 50 kg phân chuồng loại mục + (0,1 – 0,2) kg supe lân Lâm Thao. Mật độ trồng 4 m x 3 m x 1 cây. Trồng bằng cây ghép (trên gốc nhót chua, nhót dại) hoặc cành chiết.

Dùng cuốc xẻng trộn lẫn phân với đất san phẳng hố. Khoét một lỗ tròn ở giữa hố, cho bầu cây xuống. Để cổ rễ ngang với mặt đất, dùng chân dậm chặt cách gốc 20 cm tránh vỡ bầu, tưới đẫm nước (mỗi cây 5 – 7 lít nước). Duy trì độ ẩm 70-80% trong 15–20 ngày để cây không chết.

Bón phân: Bón lót cho mỗi cây từ năm thứ hai trở đi, một lần vào tháng 3: 30 – 50 kg phân chuồng theo tán cây. Nếu đất chua PH < 5,5 bón mỗi sào vườn 20 – 25 kg vôi cục ( bón trước hoặc sau các loại phân khác 10 – 15 ngày).

Bón phân thúc cho cây con (1-2 tuổi): Đạm ure: 50 – 100g; kali 25 – 50g; supe lân 100 – 200g bón 2 tháng 1 lần, cách gốc 30-50cm.

Bón phân trong thời kỳ kinh doanh cho 1 cây trong 1 năm:

Bón thúc đợt 1: Vào cuối tháng 3, đầu tháng 4 sau khi thu quả, phân chuồng 30-50kg; đạm ure 0,5-1kg; kali sunfat 0,2-0,5kg; lân supe 1-3kg.

Bón thúc đợt 2, bón đón nụ, đón hoa vào đầu đến trung tuần tháng 11 (trước khi nở hoa 30 ngày): Bón 0,5-1kg đạm ure + 0,5-1kg kali.

Bón thúc quả vào cuối tháng 1: Bón 1-2 kg kali + 0,5-1kg đạm ure.

Cách bón: Bón ngay sau khi tưới ẩm, bón dưới hình chiếu của tán cây (theo phương thẳng đứng của tán cây, có thể xác định bằng bóng tán cây vào khoảng 12 giờ chưa hàng ngày). Nên bón theo hốc, mỗi cây bón 4-6 hốc quanh tán cây, bón sâu dưới mặt đất 10-15cm để hạn chế sự bốc hơi của phân đạm.

Đốn tỉa nhằm điều chỉnh sinh trưởng của cây, tạo cây thông thoáng đủ ánh sáng, cây sinh trưởng tốt, hạn chế sâu bệnh hại, ra hoa đậu quả đều cho năng suất và chất lượng cao. Hàng năm tiến hành đốn vào các tháng 3- 5-8-10, cắt bỏ cành tăm hương, cành la, cành bị sâu bệnh, cành vượt (cành tược).

Tưới nước: Nhót cần độ ẩm 70 – 80% từ tháng 12 đến tháng 2 để cây ra hoa, ra quả được thuận lợi, tưới nước trong vụ khô là biện pháp kỹ thuật quan trọng đảm bảo năng suất và chất lượng của quả nhót.

Làm giàn: Làm giàn là biện pháp kỹ thuật không thể thiếu được khi trồng và thâm canh cây nhót. Nên làm giàn cố định bằng cột trụ bê tông cốt thép, mặt giàn chăng bằng dây nhôm, giây thép không ghỉ cỡ to để sử dụng cho nhiều năm cho hiệu quả kinh tế cao. Giàn nên làm thấp để tiện khi thu hoạch, mặt giàn cách mặt đất 1,2-1,5m.

Bà con nông dân Hiệp Hoà có kinh nghiệm thúc hoa sớm cho nhót để có nhót chín sớm như sau:

Phun thuốc kích hoa Ethrel (thuốc dấm hoa quả Trung Quốc) vào đầu tháng 10 với nồng độ 3lọ (15ml) pha bình 10lít phun ướt đều tán lá. Hạn chế bón phân và tưới nước.

Đầu tháng 11, tưới ẩm, bón thúc phân, phun Kích phát tố hoa trái Thiên Nông 3 lần, mỗi lần cách nhau 10 ngày, đến đầu tháng 12 nhót sẽ nở hoa tập trung, sẽ cho quả chín sớm vào cuối tháng 2.

3. Thu hoạch:


Khi quả nhót già, vỏ ngả màu vàng đỏ thì tiến hành thu hoạch, quả vẫn còn cứng, có thể vận chuyển đi xa.

Chúc bà con thành công!

Một vài kinh nghiệm trồng nhót ra nhiều trái

Một vài kinh nghiệm trồng nhót ra nhiều trái

Nhắc tới trái nhót có lẽ chỉ những người ở Miền bắc mới biết, bởi vì chúng gắn liền với tuổi thơ mọi người. Cũng giống trái bòn bon chỉ có ở miền nam thì trái nhót cũng vậy chúng chỉ trồng được ở những xứ lạnh như miền bắc hay Đà Lạt. Bài viết dưới đây sẽ nói về trái nhót và kinh nghiệm trồng nhót cho bà con nông dân.


Trái nhót có hình bầu dục, to bằng ngón chân cái, màu đỏ căng mọng cùng với lớp phấn trắng sáng rực ấy khiến nhiều người tỏ ra thích thú. Giữa tiết trời cuối xuân se lạnh, mùa nhót chín “tràn về” như mang theo một chút hơi ấm và sắc màu tươi vui, đánh thức và làm bừng sáng những góc phố chìm trong mưa phùn ẩm ướt.

Nhắc đến nhót, trong kí ức nhiều người hẳn sẽ hiện ra hình ảnh những cô cậu học trò ngày bé, cầm quả nhót trên tay rồi thi nhau mài lớp phấn trắng vào quần áo. Có lúc chưa kịp rửa đã cầm quả nhót, chấm muối ớt, xuýt xoa đưa lên miệng, ăn ngon lành.

Công dụng của nhót:

Lá nhót chứa tanin, saponosid, polyphenol. Quả nhót chứa rất nhiều chất dinh dưỡng, được dùng để nấu canh chua, vị thơm; quả nhót xanh, thái ngang dày 3 – 5mm, phơi hoặc sấy khô để làm thuốc. Ngoài quả, lá, nhân hạt, rễ của cây nhót cũng có tác dụng chữa bệnh.

Quả nhót có vị chua, chát, tính bình, vào các kinh phế đại tràng, có tác dụng chỉ ho, trừ đờm, bình suyễn, chỉ tả. Theo các thực nghiệm về sinh học, lá nhót có tác dụng kháng khuẩn đối với nhiều chủng vi khuẩn gram dương và gram âm; đặc biệt đối với các chủng trực khuẩn lỵ: Shigella dysenteria, Shigella shiga, Shigella flexneri, Shigella sonnei.

Kỹ thuật trồng nhót: Kỹ thuật này có thể đúng với từng vùng, vì thời tiết khí hậu nước ta khác nhau giữa các vùng nên có thể áp dụng được ở vùng này nhưng không áp dụng được ở vùng khác:

Làm giàn:  Làm giàn là biện pháp kỹ thuật không thể thiếu được khi trồng và thâm canh cây nhót. Nên làm giàn cố định bằng cột trụ bê tông cốt thép, mặt giàn chăng bằng dây nhôm, giây thép không ghỉ cỡ to để sử dụng cho nhiều năm cho hiệu quả kinh tế cao. Giàn nên làm thấp để tiện khi thu hoạch, mặt giàn cách mặt đất 1,2-1,5m.

Kỹ thuật trồng cũng đơn giản, trồng được ở nhiều loại đất như phù sa ven sông, đất đồi, đất phù sa cổ, đất thung lũng ở các vùng núi,…thoát nước tốt, độ pH từ 5,5-7.

Cây giống trồng thường là cây ghép hoặc chiết từ cây mẹ. Để trồng cần tạo hố trồng rộng 0,8 – 1m, sâu 0,6 – 0,8m, mỗi hố bón 30 – 50 kg phân chuồng loại mục + 0,1 đến 0,2 kg supe lân.

Mật độ trồng 4 m x 3 m x 1 cây, tưới ẩm 70-80% trong 15–20 ngày để cây không chết. Đối với cây con 1-2 tuổi, bón 2 tháng 1 lần các thành phần: urê 50 – 100g; kali 25 – 50g; supe lân 100 – 200g bón 2 tháng 1 lần. Khi cây được hai năm tuổi trở lên cần bón thêm 30 kg phân chuồng vào tháng 3.

Trong thời kì cây cho quả cần bón vào cuối tháng 3, đầu tháng 4 sau khi thu quả, phân chuồng 30-50kg, đạm urê 0,5-1kg,  kali sunfat 0,2-0,5kg,  lân supe 1-3kg.

Giữa tháng 11 bón 0,5-1kg đạm urê + 0,5-1kg kali để đón nụ, đón hoa. Các lần bón được tiến hành sau khi tưới ẩm. Vào tháng giêng, quả bắt đầu chín rộ. Hàng năm tiến hành đốn vào các tháng 3, 5, 8, 10, cắt bỏ cành tăm hương, cành la, cành bị sâu bệnh, cành vượt, cành bị khô.

Cần phải làm giàn để nhót có chỗ tựa, giàn cần có độ vững chắc, xây thấp cách mặt đất 1,2-1,5m. Khi vỏ nhót ngả màu vàng thì bắt đầu thu hoạch.

Vị thuốc quý từ cây nhót

Vị thuốc quý từ cây nhót

Quả nhót xanh, thái ngang dày 3 – 5mm, phơi hoặc sấy khô để làm thuốc. Ngoài quả, lá, nhân hạt, rễ của cây nhót cũng có tác dụng chữa bệnh.


Cây Nhót được trồng ở khắp các vùng miền trong cả nước. Lá nhót chứa tanin, saponosid, polyphenol. Quả nhót chứa rất nhiều chất dinh dưỡng, được dùng để nấu canh chua, vị thơm; quả nhót xanh, thái ngang dày 3 – 5mm, phơi hoặc sấy khô để làm thuốc. Ngoài quả, lá, nhân hạt, rễ của cây nhót cũng có tác dụng chữa bệnh.

Theo YHCT, quả nhót có vị chua, chát, tính bình, vào các kinh phế đại tràng, có tác dụng chỉ ho, trừ đờm, bình suyễn, chỉ tả. Lá có vị chát có tác dụng chỉ ho, bình suyễn, giảm sốt. Nhân hạt nhót có tác dụng sát khuẩn, trị giun sán. Rễ có tác dụng cầm máu, giảm đau, thường dùng dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng lẻ hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Liều dùng hằng ngày: quả 8 – 12g (5 – 7 quả khô), lá tươi 20 – 30g, lá và rễ (khô) 12 – 16g. Dùng ngoài dưới dạng nước tắm, rửa mụn nhọt, không kể liều lượng. Theo các thực nghiệm về sinh học, lá nhót có tác dụng kháng khuẩn đối với nhiều chủng vi khuẩn gram dương và gram âm; đặc biệt đối với các chủng trực khuẩn lỵ: Shigella dysenteria, Shigella shiga, Shigella flexneri, Shigella sonnei. Trên động vật thí nghiệm, lá nhót có tác dụng chống viêm cấp và mạn tính; tác dụng tăng cường sức co bóp của tử cung.



Các dược liệu từ cây nhót thường được dùng trị một số chứng bệnh sau đây:

Trị lỵ trực khuẩn và bệnh tiêu chảy, viêm đại tràng mạn tính: 20 – 30g lá nhót tươi hoặc 6 – 12g lá nhót khô, sao vàng, sắc với 400ml nước còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày, trước các bữa ăn 1,5 giờ. Có thể uống liền 1 – 2 tuần đến khi hết các triệu chứng. Hoặc dùng dưới dạng bột khô lá nhót, ngày 2 – 3 lần, mỗi lần 8 – 12g, uống với nước cơm; hoặc phối hợp đồng lượng với bột của vỏ cây đỗ trọng nam. Lưu ý: khi uống cần kiêng các thức ăn tanh, lạnh: cá cua, ốc, ếch…

Trị ho, nhiều đờm, hen suyễn:
lá nhót 16g sao vàng, lá táo ta (táo chua) 12g sao vàng; hạt cải củ, hạt cải bẹ, mỗi thứ 6g, sao vàng, giã giập. Hạt cải củ, cải bẹ gói vào miếng vải sạch, cho vào cùng sắc nước với lá nhót và lá táo. Sắc 2 – 3 lần, gộp dịch nước sắc lại, chia 3 lần uống trong ngày trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền 2 – 3 tuần đến khi các triệu chứng thuyên giảm.

Trị ho, hen, khó thở: có thể dùng quả nhót 6 – 12g/ngày, dưới dạng thuốc sắc, thuốc hãm, hay thuốc bột. Uống nhiều ngày, tới khi các triệu chứng thuyên giảm.

Trị ho ra máu, hoặc nôn ra máu, chảy máu cam:
rễ nhót 16g sao đen, sắc uống ngày một thang. Có thể phối hợp với cỏ nhọ nồi, ngải diệp, trắc bách diệp. Tất cả đều sao đen, sắc uống ngày một thang, chia 3 lần uống trước bữa ăn 1,5 giờ. Trong khi uống thuốc, cần kiêng các thứ cay nóng: rượu, bia, ớt…

Kiêng kỵ: Lá và rễ cây nhót không dùng cho phụ nữ có thai.

Khi sử dụng cây nhót, cần tránh nhầm lẫn với vị thuốc nhót tây, còn gọi nhót Nhật Bản, hay tỳ bà diệp. Cây Nhót tây mọc hoang và được trồng ở nhiều ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nội… Nhót tây cao tới 6 – 8m. Lá mọc so le, hình mác, có răng cưa, dài 12 – 30cm, rộng 3 – 8cm, phía mặt dưới của lá có rất nhiều lông màu xám hay vàng nhạt. Đây là đặc điểm nổi bật để phân biệt với cây nhót. Lá nhót tây cũng được sử dụng để trị ho, hen.

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2016

Giống Nhót Ngọt

Giống Nhót Ngọt


Giống nhót ngọt: Đây là giống nhót mới do biến dị trên giống nhót chua, được người dân tự chọn lọc, trồng và nhân giống một cách tự phát trong nhân dân.

Đặc điểm quả to hơn nhót chua, khi chín ăn có vị ngọt rôn rốt hơi chua (như vị cây dứa Ta, dứa Mỹ Cayen), các đặc điểm khác giống nhót chua.

Trồng nhót ngọt cho hiệu quả kinh tế khá cao. Trồng một cây nhót ngọt 7-10 năm tuổi cho 1-2 tạ quả, thu nhập 4-6 trăm ngàn đồng.

Thời vụ: Nhót được trồng 2 vụ trong năm ở các tỉnh phía bắc. Vụ xuân trồng tháng 2-4. Vụ thu trồng tháng 8-10.

Mật độ trồng 4 m x 3 m/ 1 cây

Cây nhót ngọt giống được nhân giống theo hai hình thức là chiết cành và ghép cành. Hiện trung tâm bán cây nhót ngọt được nhân giống theo hình thức ghép cành.

Cây nhót ngọt giống là cây ghép cành lên gốc cây nhót hạt nên ngoài việc đảm bảo mang các đặc tính tốt của cây mẹ, cây còn có khả năng sinh trưởng phát triển mạnh với bộ rễ của cây nhót hạt.

Nguồn cây: Trung tâm cây giống trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội

Giá bán: 13.000đ/1 cây

Luôn có khả năng cung cấp với số lượng lớn với các kích thước cây khác nhau.

Giá chưa bao gồm tiền vận chuyển và thuế giá trị gia tăng VAT, giá cây có thể thay đổi theo thời điểm và kích thước cây.

Giá cả hợp lý khi lấy số lượng lớn. Xin liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 04.668 07 969 - 0986 266 563 hoặc email Hoptienhanoi@gmail.com để nhận được giá tốt nhất!