Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây cóc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây cóc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2015

Trái Cóc Giàu Dưỡng Chất

Không chỉ là món ăn vặt được học trò ưa chuộng, trái cóc còn chứa hàm lượng chất dinh dưỡng cao, rất có lợi cho sức khỏe.

1. Ít calo

Trái cóc giàu dưỡng chất100g thịt trái cóc chỉ cung cấp khoảng 29 calo cho cơ thể. Nếu so sánh với xoài thì 100g thịt xoài chứa tới 64 calo. Như vậy, trái cóc có thể làm thỏa mãn sở thích ăn vặt của bạn, giúp duy trì sự khỏe mạnh cho cơ thể mà không phải lo lắng chuyện tăng cân.

2. Giàu chất xơ

Trái cóc rất giàu chất xơ. Một phần ăn 100g cóc chứa khoảng 5,7 g chất xơ, đáp ứng 23 % lượng chất xơ cần thiết trong ngày. Chất xơ là một dưỡng chất có ích cho hệ tiêu hóa, giúp cải thiện chức năng đường ruột và tiêu hóa thức ăn dễ dàng, cho cảm giác no lâu, từ đó kiểm soát các cơn đói và cân nặng một cách hiệu quả. Ngoài ra, ăn nhiều chất xơ từ trái cóc còn có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và bệnh tim nữa.

3. Dồi dào vitamin C

Một khẩu phần gồm 100g trái cóc có thể cung cấp cho cơ thể khoảng 34 mg vitamin C, đáp ứng hơn ½ lượng vitamin C cần bổ sung cho cơ thể mỗi ngày. Vitamin C là chất chống ôxy hóa mạnh, giúp bảo vệ cơ thể chống lại các gốc tự do gây hại, làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim và ung thư, hỗ trợ hấp thụ chất sắt, tổng hợp collagen và protein để tạo thành các mô liên kết với nhau, giúp chữa lành vết thương và tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.

4. Nhiều chất sắt

Một phần ăn gồm 100g cóc sẽ cung cấp khoảng 3,2 mg sắt, đáp ứng 18% lượng chất sắt cho cơ thể mỗi ngày. Chất sắt rất cần thiết cho sự vận chuyển ôxy và tạo ra các tế bào máu trong cơ thể. Nếu bạn bị thiếu máu thì nên thường xuyên bổ sung nhiều sắt từ trái cóc.

5. Phong phú về canxi

Trong 100g cóc chứa 32 mg canxi, cung cấp khoảng 3% lượng canxi cần thiết cho cơ thể mỗi ngày. Canxi là một khoáng chất cần thiết để duy trì xương chắc khỏe, hỗ trợ cho cơ bắp và giúp sự dẫn truyền thần kinh được diễn ra bình thường.

Kỹ Thuật Trồng Cây Cóc Thái Lan

Giai đoạn từ lúc bắt đầu hình thành phát hoa đến lúc hoa bắt đầu nở từ 20-22 ngày. Từ lúc hoa nở đến khi bắt đầu đậu trái đầu tiên từ 6-10 ngày. Thời gian từ lúc cây bắt đầu đậu trái đến lúc thu hoạch từ 122-128 ngày, phát hoa liên tục mỗi đợt cách nhau từ 18-22 ngày.

Kỹ thuật trồng cây cóc tháiCây Cóc Thái Lan (Spondias cytherea Sonn.) thuộc họ Anacardiacae là loại cây ăn quả có đặc điểm rất dễ trồng, ít sâu bệnh, cho nhiều trái, trồng khoảng 18-20 tháng là thu hoạch . Cây thấp (khoảng 1,5m- 2m) nhưng tán rộng, thích nghi tốt với các loại đất. Ưu điểm nữa của cây cóc Thái Lan là sau khi hái trái, cắt bỏ nhánh già là cây sẽ ra đọt mới và bông lại tiếp tục nên được nhiều người trồng với mục đích vừa làm kiểng vừa cho trái ăn. Đối với người dân trong đô thị, cây ăn trái là mảng xanh hữu dụng hơn cây lâm nghiệp, vừa góp phần cải thiện môi trường, vừa cho trái dùng được. Bài viết này chúng tôi xin chia sẻ vài ghi nhận tổng quan và đưa ra lượng phân bón thích hợp trong quá trình thí nghiệm ghi nhận được, cũng như vài lưu ý trong quá trình trồng cóc Thái lan

1. Ghi nhận tổng quát đặc điểm sinh trưởng cây cóc Thái

Cây cóc Thái có khả năng bắt đầu ra chồi mới (3 mm – 7mm) từ 7-8 ngày sau khi tỉa cành đồng loạt. Từ lúc chồi xuất hiện đến khi đến khi phát hoa hình thành trên chồi từ 8-11 ngày. Tuy nhiên, những phát hoa hình thành đầu tiên sau khi tỉa cành đồng loạt, do không có đủ lá để cung cấp dinh dưỡng và che mát nên thường ngắn, nhỏ và đậu ít trái.

Giai đoạn từ lúc bắt đầu hình thành phát hoa đến lúc hoa bắt đầu nở từ 20-22 ngày. Từ lúc hoa nở đến khi bắt đầu đậu trái đầu tiên (trứng cá) từ 6-10 ngày. Thời gian từ lúc cây bắt đầu đậu trái đến lúc thu hoạch từ 122-128 ngày. Cây cóc Thái hình thành phát hoa liên tục mỗi đợt cách nhau từ 18-22 ngày.

Thời tiết nắng nóng (nhiệt độ cao vào tháng 3 và tháng 4) trong giai đoạn cây nuôi trái gây ảnh hưởng đến phẩm chất của trái, trái ngả màu vàng ở những nơi bị ánh nắng chiếu trực tiếp.

Vấn đề nước tưới cho cóc (đặc biệt trong mùa nắng nóng, lượng mưa tháng 1 và tháng 2 ít cùng với nhiệt độ cao) sẽ ảnh hưởng khi cây mang trái, cây không được cung cấp đủ nước sẽ cho trái nhỏ và có vị chua hơn so với các cây khác được cung cấp đầy đủ nước.

Các loài sâu gây hại chủ yếu là sâu ăn tạp (Spodoptera litura Fabricius), sâu xanh (Spodoptera exigua Hubner), rệp sáp (Pseudococcus sp.). Rệp sáp xuất hiện nhiều vào giai đoạn cây mang trái, bám vào trái, chồi, kẽ lá. Các loại sâu xanh, sâu ăn tạp chủ yếu cắn phá lá non, đục trái non hoặc cắn phá bề mặt trái.

2. Quy trình trồng cây cóc Thái Lan

2. 1. Tỉa cành tạo tán

Tỉa cành nhằm loại bỏ cành già yếu, cành đã mang hoa và trái của vụ trước, tạo cho tán cây được thông thoáng giúp cho cây nhận được đầy đủ ánh sáng và giảm sâu bệnh, giới hạn chiều cao của cây để tiện chăm sóc và thu hoạch. Tỉa bỏ cành già yếu, cành vượt, cành đang mang hoa và trái.

2. 2. Bón phân

Qua quá trình thí nghiệm cho thấy, cây cóc Thái Lan cần bón 400 N- 100 P2O5-100 K2O g /cây/năm, cây sẽ sinh trưởng tốt, đạt năng suất cao gấp 2 lần so với không bón và gấp 1,8 và 1,6 lần ở các liều lượng phân 100 N -100 P2O2-100 K2O g /cây/năm và 200 N -100 P2O5-100 K2O g /cây/năm.  Đối với lân, bón lót phân lân được chia làm 2 đợt mỗi đợt sẽ bón lót 50 g P2O5/cây, bổ sung phân hữu cơ (BCRON 8) 100 g cho mỗi gốc ở mỗi đợt bón. Còn phân đạm, kali được chia đều bón 15 ngày/ lần.

Tuy nhiên, lượng phân bón trên là phân đơn nguyên chất. Vì vậy, để bón phân thương phẩm trên thị trường ta cần qui đổi như sau:

Với phân Ure có 46% N, để bón 400 g N ta cần bón: 400 x 100/46 = 869,5 g/cây/năm.

Phân Super Lân Long Thành (Ca(H2PO4)H2O)  để bón 100 g  ta cần bón: 100 x 100/16 = 625 g/cây/năm.

Phân Chlorua Kali (KCl) 60% K2O để bón 100 g  ta cần bón: 100 x 100/60 = 166,7 g/cây/năm.

2. 3. Nước tưới

Sau khi tỉa cành tưới nước 1-2 ngày/ lần. Tùy theo điều kiện thời tiết mưa nhiều hay nắng nóng, mà tăng giảm số lần tưới.

2. 4. Chăm sóc và theo dõi tình hình sâu bệnh

Tủ rơm khô và cỏ khô cho gốc cây, tủ rơm phủ đầy mặt mô nhằm giữ độ ẩm cho đất, tránh bị xói mòn khi tưới nước hoặc mưa to và hạn chế bốc thoát hơi nước vào những ngày nắng nóng.

Thường xuyên kiểm tra theo dõi tình hình sâu bệnh nhằm phát hiện và phòng trị kịp thời. Sử dụng thuốc trừ sâu Suprathion 40EC, thuốc trừ bệnh Man 80WP.

Làm cỏ thường xuyên ở lối đi, quanh gốc cây, trên mặt mô và khu vực trồng nhằm loại bỏ nơi ẩn náu cho côn trùng, mầm bệnh và tránh cạnh tranh dinh dưỡng.

Hướng Dẫn Cách Trồng Cây Cóc Thái Tại Nhà

Cây cóc Thái vốn dễ trồng lại siêng cho trái nên rất thích hợp trồng làm cây cảnh trong chậu tại nhà đô thị, bên cạnh đó cây cóc Thái còn cung cấp lá non có vị chua chua như rau sạch và trái cóc có thể dùng ăn sống hay làm thành món dưa chua rất hấp dẫn.

Cây cóc Thái có tên khoa học là Spondias mombin thuộc họ Điều Anacardiaceae, cây cóc Thái khác giống với cây cóc thường được trồng tại Việt Nam cho trái lớn hơn.

1. Nhân giống và đất trồng cây cóc Thái

Cây cóc Thái có thể trồng bằng hạt sau khi ăn trái chín nhưng cây sẽ lâu cho trái, người ta nhân giống bằng phương pháp chiết cành hay ghép cành sẽ cho cây giống ra hoa ra trái sau 6-8 tháng chăm sóc.

Cây cóc Thái thích hợp với nhiều loại đất khác nhau, chủ yếu đất trồng cây đảm bảo thoát nước tốt và có bổ sung thêm ít phân hữu cơ hoai mục như phân bò hoai, phân trùn quế…thì cây phát triển nhanh hơn, Có thể mua đất sạch hay giá thể bán sẵn trên thị trường hoa kiểng để trồng cây.

Chọn chậu trồng cây cóc tại nhà nên chọn chậu có kích thước miệng chậu từ 35-40 cm, cao từ 30-50 cm để cây cóc Thái có thể sinh trưởng lâu dài cho nhiều cành nhánh và cho nhiều trái.Nhớ dùng gạch hay gỗ kê đáy chậu trồng cây giúp thoát nước tốt.
2. Chăm sóc và bón phân cho cây cóc Thái trồng tại nhà

Vì cây trồng trong chậu nên cần tưới nước chậm để nước vào chậu đủ ngấm xuống dưới bộ rễ cây, đất trồng cây có đủ dinh dưỡng thì cây cóc Thái lớn lên rất nhanh và lá cây xanh mơn mởn trông rất thích. Nên tưới nước vào buổi sáng, nếu trời nắng gắt có thể tưới thêm vào buổi chiều.

Khoảng 1,5-2 tháng sau khi trồng cây cóc Thái vào chậu, rễ cây ra nhiều cần phải thêm đất vào mặt chậu lớp từ 2-3 cm, và rải thêm muỗng cà phê nhỏ phân hạt NPK 16.16.8 hoặc NPK 5.15.25 hay DAP vào xung quanh gốc cây rồi tưới đẫm nước ( có thể dùng luân phiên)

Bón định kỳ hai đợt như thế một tháng 2 đợt, một đợt đất mặt và đợt phân hạt.

Cây cóc Thái có thể trồng nơi nhiều ánh sáng hay nơi có ánh nắng một phần, cây đủ ánh nắng sẽ cho trái nhiều hơn.
3. Phòng trừ sâu bệnh cây cóc Thái trồng tại nhà

 Cây cóc Thái ít khi bị sâu bệnh nhưng khi thiếu nước vì tưới không đủ, cây dễ bị rệp muội vào ngọn cây làm cho vàng lá và khô cành dần.

Trường hợp mưa kéo dài trời âm u thì dễ bị bọ hút chích làm xoắn lá non. Khi gặp các trường hợp trên không cần dùng thuốc trừ sâu mà dùng kéo bén cắt bỏ hết những nhánh bị hư cành khô, cách ly hết nguồn lây sâu bệnh, sau đó bón thêm ít phân trùn quế trộn với giá thể một lớp đất mặt 3-4 cm là cây lại cho nhánh lá mới.

Khi thu hái trái cóc Thái nhớ dùng kéo hay dao cắt hết trái trong chùm, sau đó cắt thu bớt nhánh cây đã cho trái để dưỡng sức cho cây cóc ra đợt trái mới.

Sau mỗi đợt hái trái nhớ bón thêm lớp đất mặt và phân hạt theo như hướng dẫn.

Kỹ Thuật Trồng Cóc Cây Miền Nam

Cóc được trồng quanh năm nhưng tốt nhất là vào đầu mùa mưa, tránh thời điểm nắng nóng và rét đậm và sau khi trồng phải cung cấp đủ nước tưới cho cây

1. Mô tả giống

* Tên (Spondias cytherea), cây ăn quả nhiệt đới lâu năm, họ Điều (Anacardiaceae).

Giống Cóc miền nam đang bán ở Trung tâm là cây ghép cho ngay sau 9 tháng trồng.

* Đặc điểm hình thái

Cây thân gỗ. Lá kép, mọc ở đầu cành, có 7 - 12 cặp lá chét có răng cưa, giòn, vị chua. Hoa nhỏ, trắng, mọc thành chùm lớn. Quả hạch màu xanh, to bằng quả trứng vịt; thịt quả chín màu vàng nhạt, giòn, hơi chua; nhân quả to có nhiều gai mềm. Mùa quả tháng 6 - 12. Được trồng nhiều ở Miền Nam Việt Nam.

2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

* Thời vụ trồng

Cóc được trồng quanh năm nhưng tốt nhất là vào đầu mùa mưa. Tuy nhiên, nếu trồng với lượng ít ta có thể trồng vào nhiều thời vụ khác nhau, miễn là phải tránh thời điểm nắng nóng và rét đậm và sau khi trồng phải cung cấp đủ nước tưới cho cây.

* Mật độ trồng


Tùy độ màu mỡ của đất mà có thể trồng với khoảng cách 7-9m (hình vuông hay hình nanh sấu), 6,5-7m. Vùng đất cao có thể trồng th­ưa hơn vì tuổi thọ lâu, cây cho tán lớn. Nhìn chung, Cóc thư­ờng đư­ợc khuyến cáo trồng với khoảng cách 9-15m.

* Làm đất, bón lót và trồng cây

Khi đào hố,  lớp đất mặt được để riêng một bên, bón lót mỗi hố 50 kg phân chuồng đã ủ hoai mục, 1,5 - 2 kg super lân. Trộn đều phân với lớp đất mặt, cho xuống 3/4  hố. Sau đó lấp đầy hố bằng lớp đất phía dưới, để giúp cho rễ cây phát triển thuận lợi ở giai đoạn đầu, cải thiện độ phì của lớp đất đáy hố tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển tốt.

* Chăm sóc sau trồng

Thời kỳ cây còn nhỏ, được 1-3 năm tuổi, cây sinh trưởng mạnh hầu như quanh năm để hoàn thiện bộ khung tán. Chính vì vậy, việc cung cấp đủ phân, đủ nước, diệt trừ cỏ dại thường xuyên để tạo điều kiện thuận lợi cho cây sinh trưởng là rất cần thiết.

- Tưới nước:
 Trong thời kỳ cây còn nhỏ cần tưới nước quanh năm nhằm cung cấp đủ nước cho các đợt lộc non hình thành và phát triển. Đặc biệt trong thời gian đầu sau khi trồng mới, việc tưới nước cần phải duy trì từ 3-4 ngày/lần. Càng về sau số lần tưới càng ít đi nhưng phải duy trì được độ ẩm thường xuyên cho diện tích đất xung quanh gốc, dùng rơm rác mục, cỏ khô tủ lại xung quanh gốc, tủ phần tán cây có bán kính 0,8-1m, và để trống phần diện tích cách gốc 20cm để hạn chế côn trùng, sâu bọ làm tổ, phá hoại gốc.

- Làm cỏ: Làm cỏ cần tiến hành thường xuyên, tùy theo đặc điểm của từng vùng ta có cách thức xử lý cỏ phù hợp khác nhau, phơi khô cỏ sau đó tủ lại xung quanh gốc cây.

* Bón phân

- Giai đoạn cây tơ: Hàng năm nên bón từ 200-400g phân NPK 16-16-8 và khoảng 200g phân urê/cây, chia ra làm 2 lần bón vào đầu và cuối mùa mưa. Ngoài ra, nên bón bổ sung từ 1-3 kg phân KOMIX chuyên dùng cho cây ăn trái để bổ sung chất hữu cơ cho đất giúp cây Cóc phát triển ổn định.

- Giai đoạn cây trưởng thành: 
Bón tối thiểu từ 2-5kg/cây loại phân NPK 16-16-8 và từ 3-4kg phân KOMIX, chia đều 2 lần bón vào đầu mùa mưa và vào tháng 9-10 dương lịch. Sau những năm trúng mùa cần tăng lượng phân bón để hồi sức cho cây.

* Phòng trừ sâu bệnh

- Bệnh thán thư: Bệnh làm thối đen hoa, rụng hoa, thối đen trên quả. Dùng Benlat C hoặc Score 250 EC phun từ khi hoa nở đến 2 tháng sau với 1lần/tuần, sau đó 1lần/tháng.

- Bệnh phấn trắng: Xâm nhiễm và gây hại lá, hoa, quả đặc biệt là hoa và chùm hoa. Dùng Rhidomila MZ 72WP, Anvil 5SC...

- Bệnh muội đen: Do bài tiết của rệp, dùng: Bassa 50 EC, Trebon 2,5 EC và có thể phun các loại thuốc trừ nấm có gốc đồng...

- Bệnh cháy lá: Bệnh phát triển trong mùa mưa, gây hại chủ yếu trên lá. Phòng trừ bằng cách cắt bỏ lá bệnh, phun thuốc Rhidomil MZ 72 WP, Kasumin 2L...

- Sâu đục thân, cành: Dùng bẫy đèn bắt sâu trưởng thành, tiêm vào lỗ những loại thuốc có tính xông hơi mạnh hoặc nội hấp như: Actara 25 WG, Padan 95SP, bịt lỗ bằng đất sét để diệt sâu non.

- Rầy xanh: Rầy tiết dịch gây bệnh mùa nóng, làm Cóc kém phát triển. Thời gian hại mạnh từ tháng 10 năm trước đến tháng 6 năm sau. Dùng Bassa 50 EC, Trebon 2,5 EC, …

- Ruồi đục quả: Ruồi đục vào quả lúc vỏ quả già, đẻ trứng dưới lớp vỏ, sâu non ăn thịt quả gây thối, rụng quả. Dùng Sherpa 25 EC, Lục Sơn 0,26 DD, Padan 95 SP.

3.Thu hoạch, sơ chế


Khi quả già, vỏ quả căng mịn thì thu hoạch. Nên thu hái vào lúc trời râm mát, khô ráo. Quả thu hái về cần phân loại. Nếu vận chuyển đi xa thì đóng vào sọt hoặc thùng.
Cây cóc thái giống

Trị Tiêu Chảy Bằng Vỏ Cây Cóc

Trái cóc từ lâu đã được ghi nhận là có tác dụng kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng, giải nhiệt, sinh tân dịch, giải khát.

Dân ta thường dùng trái cóc còn xanh, gọt vỏ rồi ngâm trong một thứ nước pha mặn, ngọt, sau đó thoa lên một lớp muối ớt đo đỏ trông rất hấp dẫn, bày bán nhiều nơi.

Có người lại thích ăn cóc chín vì có thịt mềm, ngọt, nhiều nước, hương vị thơm ngon. Tuy nhiên, món gỏi cóc xanh với tôm khô, cá khô thì đúng điệu là món nhậu “đặc sản Nam Bộ”.

Thực ra, trái cóc không chỉ ngon miệng mà còn là loại trái cây có giá trị về mặt dinh dưỡng. Qua phân tích, các nhà khoa học đã chứng minh được thành phần thịt trái cóc như sau: glucid 8% -10,5%; protein 0,5% - 0,8%; lipid 0,3% - 1,8%; cellulose 0,9% - 3,6%; tro 0,4% - 0,7%; acid 0,4% - 0,8%.

Trong 100 g thịt của trái cóc chứa tới 42 mg acid ascorbic, ngoài ra còn có nhiều chất sắt (Fe). Trái cóc từ lâu cũng đã được ghi nhận là có tác dụng kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng, giải nhiệt, sinh tân dịch, giải khát. Nhai thật kỹ trái cóc với chút muối rồi nuốt dần còn giúp trị đau hầu họng. Dân ở một số nơi còn nghiền nhỏ thịt trái cóc để chế món ăn có mùi thơm dễ chịu, tác dụng tiêu thực.

Cha ông ta từ lâu cũng đã sử dụng vỏ cây cóc làm nguyên liệu trong bài thuốc trị tiêu chảy, hiện Đông y vẫn dùng và cho hiệu quả tốt. Đó là lấy vỏ cây cóc và vỏ cây chiêu liêu nghệ, sắc uống (lấy khoảng 4 miếng vỏ cây của 2 loại, mỗi miếng bằng ngón tay cái, nấu với 750 ml nước còn 250 ml, chia làm 3 lần uống trong ngày).
Cây cóc chữa bệnh tiêu chảy

Trái Cóc Dành Cho Người Bị Tiểu Đường

Ngoài việc trái cóc dùng để ăn có vị ngọt và hơi chua, rất dễ ăn, lá cóc còn dùng để nấu canh chua - món ăn dân dã được nhiều người ưa chuộng.

Quả cóc chữa bệnh tiểu đườngNhưng trái cóc còn có tác dụng làm giảm đường trong máu đối với người bị tiểu đường týp II (tức là loại tiểu đường do chế độ ăn uống quá nhiều chất có đường và tinh bột sinh ra. Vì vậy có người còn gọi là bệnh tiểu đường "mắc phải"). Cách làm: Quả cóc chín vứt bỏ hạt, số lượng không hạn chế, bổ nhỏ sấy hay phơi khô, tán thành bột mịn, để dành (chú ý tránh ẩm mốc bằng cách thỉnh thoảng đổ ra sao qua hay phơi). Cách dùng: Mỗi ngày 3 thìa bột cốc, mỗi lần 1 thìa, trước các bữa ăn sáng, trưa, chiều chừng 30-40 phút. Dùng kéo dài thường xuyên. Sau 1-2 tháng thử lại đường máu 1 lần, nếu nồng độ trở lại bình thường thì có thể giảm số lần uống còn 2 lần/ngày (sáng, chiều).

Cần lưu ý rằng đây không phải là một loại thuốc có tác dụng điều trị tiệt căn bệnh tiểu đường. Vì vậy người bệnh vẫn nên tuân thủ chế độ ăn kiêng của người bị tiểu đường: Không nên ăn các loại có đường, nên bổ sung chất đạm, tốt nhất là đạm thực vật như đậu nành, đậu phụng; ăn nhiều rau có chất xơ và rèn luyện (tốt nhất là đi bộ) để tránh bị thừa cân. Vì ở bệnh nhân tiểu đường týp II rất "nhạy cảm" với tình trạng tăng cân, khi bị tăng cân thì hàm lượng đường trong máu cũng dễ tăng theo.

Tìm Hiểu Về Trái Cóc

Hoa vàng nhạt. Quả hạch hình trứng màu vàng lớn 5 cm x 3 cm. Quả có vị chua và mùi dầu thông.

Trái cóc là một trái cây nhiệt đới rất được lứa tuổi học trò ua chuộng cùng với ổi, xoài tuợng. Với giới thích nhậu thì cóc chua cùng muối ớt sẽ giúp 'đua cay' vài ba xị đế ! Cóc hiện đang nghiên cứu trồng tại Florida (Hoa Kỳ) và hy vọng trong thời gian ngắn sắp tới trái Cóc sẽ được cung cấp dồi dào tại những nơi tập trung của cộng đồng Việt Nam.

Cây cóc được xem là có nguồn gốc tại vùng Melanesia- Polynesia và sau đó được đến trồng tại các vùng nhiệt đới của cả Cựu lẫn Tân Thế giới. Cây khá phổ biến tại Mã Lai (cây trồng trong vườn), Ấn Độ, Tích Lan. Quả cóc được bán khắp các chợ Việt Nam. Cây gia nhập Philippines từ 1915, sau đó trồng tại Queensland (Úc).

Cây được đua đến Jamaica vào 1782, và 10 năm sau Thuyền trưởng Bligh đã đưa thêm vào đây một giống cóc khác, gốc từ Hawaii. Cây cóc cũng được trồng tại Cuba, Haiti, Cộng Hòa Đominican, nhiều nước Trung Mỹ, Venezuela.
Bộ Canh Nông Hoa Kỳ đã nhập cảng hạt giống cóc từ Liberia vào năm 1909 (tuy nhiên, theo Wester thì cóc đã được trồng tại Miami (Florida) từ 4 năm truớc đó). Năm 1911, một số hạt giống khác đã được gửi từ Queensland (Úc) sang Washington. Hiện nay cây cóc đang được trồng và phát triển tại Florida.

Ðặc tính thực vật
Cây cóc thuộc loại cây thân mộc, lớn, mọc nhanh, cao 8-18 m (tại Mỹ châu) thuờng trung bình 9-12 m, phân nhánh nhiều cành dễ gẫy. Lá kép, lẻ, to, dài 20-60 cm, mọc ở ngọn nhánh ; lá mang 7-12 đôi lá chét dài 6.25-10 cm, hình thuôn tròn; mép lá có răng cưa. Vào đầu mùa khô, lá cây chuyển đổi sang màu vàng tươi, rụng. Hoa mọc thành chùy to, có thể dài đến 30 cm, chùy mang ít hoa thuờng thòng xuống. Hoa nhỏ, màu trắng, có 10 nhị. Quả thuộc loại quả hạch, hình trứng hay hình bầu dục, dài 6-8 cm, rộng 4-5 cm, da ngoài vàng-cam; thịt màu vàng-xanh nhạt, giòn, vị chua; Quả mọc thành chùm từ 2-12 quả, thòng xuống. Hạch khá lớn hình bầu dục có nhiều gai dạng sợi dính chặt với thịt, có 5, 6 ô cách nhau không đều.

Ngoài ra còn có loại cóc chua hay cóc rừng (Spondias pinnata) (tên Anh là Hog plum), thuộc loại tiểu mộc, rụng lá vào mùa khô. Lá kép, lẻ dài 30-40 cm, có 2-5 đôi lá chét quan, hình bầu dục, mép lá nguyên. Hoa mọc thành chùy rộng, lớn hơn lá, có nhánh dài 10-15 cm. Hoa vàng nhạt. Quả hạch hình trứng màu vàng lớn 5 cm x 3 cm. Quả có vị chua và mùi dầu thông.

Giá trị dinh duỡng: 100 gram quả phần ăn được chứa:
- Calories 157
- Chất đạm 0.5-08 g
- Chất béo 0.28- 1.79 g
- Chất carbohydrate 1.2-9.5 g
(Chất so=fiber) : 1.1-8.4g
- Calcium 0.42 g
- Sắt 0.02 g
- Magnesium 0.2 g
- Phosphorus 0.51 g
- Potassium 2 g
- Kẽm 1.9 mg
- Beta-Carotene 16 mg
- Niacin 105 mg
- Riboflavine 1.5 mg
- vitamin C 42 mg

Về phương diện dinh dưỡng quả Cóc thường được đánh giá là kém hơn Xoài, tuy nhiên nếu để quả chín đúng độ thì vị khá ngon. Quả xanh (lúc còn cứng) có vị hơi vhua, dòn, nhiều nước và khá thơm thoảng mùi của dứa, nhưng nếu để mềm thì thành hơi nhão và khó cắt. Quả xanh có thể chế tạo thành sauce, ngâm giấm. Nấu với chút đuờng rồi ép qua rây, cóc có thể so sánh với applesauce, nhưng thơm hơn. Lá non có vị hơi chua được dùng làm salad. Tại Indonesia, lá được hấp chín làm rau ăn với cá khô.

Tại Trinidad và Tobago (Tây của Ấn Độ), các nhà sản xuất thực phẩm đã dùng nước ép từ quả cóc pha trộn trong một loại yoghurts (từ sữa bò). Loại ya-ua này được đánh giá về hương vị, khẩu vị khá cao và được xem là một nguồn cung cấp rất tốt về phosphorus và chất đạm.

Thành phần hóa học
Ngoài thành phần dinh duỡng trên, một số bộ phận khác còn chứa:
Chất nhựa như keo trong màu vàng chứa những đuởng hữu co như D-galactose, D-xylose, L-arabinose, L-fucose, L-rhamnose ; và còn có mono-methyl-glucuronic acid.
Hạt chứa nhiều khoáng chất như Calcium, Magnesium, Phosphorus, Potassium, Sulfur.

Pectin trong vỏ trái cóc
Nghiên cứu tại ÐH Cameroun, phối hợp với Trung Tâm Nghiên cứu Nantes (Pháp) phân chất vỏ của quả cóc (thường bị vất bỏ) ghi nhận vỏ cóc chứa 9-30% pectin, uronic acid (557-727 mg/g trọng lượng khô), đuờng trung tính 9125-158 mg/g). Sản lượng pectin cao nhất khi trích bằng dung dịch oxalic acid/ ammonium oxalate, đồng thời pectin lấy được có trọng khối cao, độ methyl hóa tốt nên có thể dùng trong công nghiệp thực phẩm. Pectin trích từ vỏ cóc có thể so sánh với pectin trích từ chanh xanh (Food Chemistry Số 3, Bộ 106-2008).

Một nghiên cứu khác thực hiện tại ÐH Universidade Federal do Parana, Curitiba (Ba Tây) ghi nhận lượng Carbohydrate tổng cộng trong quả Cóc lên đến 41%. Polysaccharides chiết được bằng nước nóng cho thấy có cấu trúc loại I rhamnogalacturonan với các dây nhánh arabinogalactan. Dịch chiết này có hoạt tính kích khởi sự hoạt động của thực bào nơi màng phúc toan (Fitoterapia Số 76, tháng 12/ 2005)

Nhựa (gôm của quả cóc)
Các phân chất về thành phần chất nhựa (gôm) màu nâu nhạt trong trái Cóc tại ÐH La Universidad del Zulia (Venezuela) cho thấy hợp chất polysaccharide trong gôm chứa galactose, arabinose, mannose,rhamnose, glucuronic acid và chất chuyển hóa loại 4-O-methyl.. (Carbohydrate Research Số 28-2003)

Vài phương thức sử dụng
Tại nhiều nơi trên thế giới, cóc còn được dùng làm thuốc chữa bệnh:
Tại Kampuchea: Vỏ của cây dùng phối hợp với vỏ chiêu liêu, mỗi thứ 4 mảnh nhỏ, cỡ ngón tay cái, sắc chung trong 2 lit nước, đến còn 0.5 lít, uống để trị tiêu chảy (chia làm 3 lần)

Tại Ấn Độ, cóc chua (Spondias pinnata) được gọi là ambra, jangli am. Vỏ cây dùng trị đau bao tử, kiết lỵ; hay nghiền nát trộn nước đắp trị đau khớp xương, và thấp khớp. Quả dùng trị yếu tiêu hóa do mật. Nước sắc từ lá dùng trị xuất huyết. Rễ dùng điều hòa kinh nguyệt.

Tài liệu sử dụng:
Medicinal Plants of india (SK Jain & Robert DeFilipps)
Whole Foods Companion (Dianne Onstad)
Fruit : A Connoisseur's Guide and Cookbook (Alan Davidson)
Fruits of Warm Climates (Julia Morton)