Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2017

10 lợi ích từ trái đu đủ xanh

10 lợi ích từ trái đu đủ xanh

Đu đủ xanh thịt màu trắng, có vị thanh, là nguồn vitamin C tuyệt vời (62mg vitamin C/100g), cộng với kali, chất xơ và chứa ít calo. Hơn nữa, đu đủ xanh chứa hàm lượng cao pectin, rất tốt cho tiêu hóa.

1. Giảm viêm sưng

Đu đủ xanh có chứa các thành phần chống viêm sưng nên bạn có thể chế biến loại quả này trong các món ăn như nộm, xương hầm ngũ quả để chữa bệnh thấp khớp, viêm khớp xương mãn tính, gout và hen suyễn.

2. Làm sạch ruột

Đu đủ xanh chứa nhiều chất xơ, khi đi qua đường ruột chúng có thể làm sạch ruột bằng cách lấy đi những chất độc gây ung thư trong thành ruột ra khỏi cơ thể.

3. Nhuận tràng

Đu đủ xanh được coi là thuốc nhuận tràng tự nhiên bởi chúng hỗ trợ tiêu hóa, chữa táo bón, tụ máu ở hậu môn và tiêu chảy mãn tính.

4. Phòng ngừa bệnh tim mạch

Đu đủ xanh có chứa 3 chất chống oxy hóa giúp ngăn ngừa sự oxy hóa của cholesterol gây ra các bệnh tim mạch và đột quỵ.

5. Giảm chứng viêm phổi

Vitamin A trong đu đủ xanh có thể hỗ trợ chống viêm sưng phổi, đặc biệt ở những người hút thuốc và hút thuốc thụ động.

6. Cân bằng dịch vị dạ dày và chữa khó tiêu


Enzym papain trong đu đủ xanh rất tốt cho người bị thiếu dịch vị dạ dày, thừa dịch dạ dày, rối loạn tiêu hóa, hội chứng ruột kích thích.

7. Giúp kinh nguyệt đều


Uống nhiều nước ép đu đủ xanh có thể giúp tử cung hoạt động tốt hơn và giúp chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ hoạt động đều đặn.

8. Chữa mụn và vảy nến

Nước ép đu đủ xanh cũng rất tốt trong việc chữa trị các bệnh và rối loạn về da như vảy nến hay mụn nhọt. Khi gặp vết thương, đu đủ có thể giúp phòng chống viêm sưng có mủ bằng cách đắp thịt đu đủ xay (bỏ vỏ) lên vết thương. Để giúp da khỏe, mịn, bạn cũng có thể dùng nước ép đu đủ xanh để đắp mặt.

9. Chữa u uất, dễ cáu

Ngâm đu đủ xanh vào giấm trắng, để trong một tuần, rồi lấy ra ăn 2 lần một ngày trong bữa ăn có thể chữa chứng trầm cảm, u uất và dễ cáu bẳn.

10. Chữa bạch hầu và các bệnh về cổ họng

Đơn giản để chữa sưng amiđan, triệu trứng của bệnh bạch hầu và các bệnh về cổ họng, bạn chỉ cần làm nước ép đu đủ xanh hòa với một ít mật ong và uống hàng ngày cho đến khi triệu chứng của bệnh không còn.

Chú ý:


Phụ nữ có thai không nên dùng đu đủ xanh vì tác dụng kháng estrogen của enzyme papain trong đu đủ xanh có thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi. Tuy nhiên, đu đủ chín hoàn toàn an toàn với phụ nữ mang thai vì hàm lượng papain ít đi, hơn nữa đu đủ chín chứa rất nhiều chất chống oxy hóa và các vitamin thiết yếu cho cơ thể.

Nhiều người có thể dị ứng với các thành phần trong thuốc nhuận tràng bao gồm trong đu đủ xanh. Do đó, bạn nên cân nhắc khi ăn hay dùng nước ép đu đủ xanh. Dị ứng có thể xảy ra khi bạn ăn đu đủ xanh kết hợp với chuối, sung, dứa, bơ, dưa vàng, quả kiwi và các loại hoa quả nhiệt đới khác. Để tránh dị ứng, bạn nên khứa vỏ đu đủ xanh cho ra hết nhựa trắng, rửa sạch và gọt vỏ sâu trước khi ăn hay làm nước ép.

Thứ Năm, 24 tháng 8, 2017

Bí quyết trồng đu đủ cho trái to đều

Bí quyết trồng đu đủ cho trái to đều

Đu đủ là loại cây ăn trái dễ trồng, mau lớn, cho nhiều trái và có hiệu quả kinh tế cao


Đu đủ trồng chủ yếu bằng hạt, vì nhanh, rẻ và tiện lợi. Vì thế, để có một vườn đu đủ trái dài, năng suất cao, đòi hỏi người trồng đu đủ phải quan tâm chăm sóc ngay từ khi gieo hạt. Chọn quả đu đủ to đều vừa chín ửng, bổ ra lấy hạt dùng rổ đãi chọn những hạt chắc phơi qua một nắng rồi đưa đi ươm. Khi hạt nảy mầm, cho vào bầu ươm 30 ngày cho cây cao khoảng 15 cm là đưa ra trồng.

Thông thường, cây được trồng thẳng đứng, nhưng qua thực tế theo cách này cây chỉ phát triển nhanh về chiều cao, mà lại chậm ra trái, nếu gặp mưa lớn dễ đổ ngã. Nếu khi trồng đặt bầu giống nằm dọc để thân đu đủ nằm nghiêng so với mặt đất 45 độ, mật độ vừa phải, khoảng 300 cây/sào là vừa, với cách trồng này, hạn chế cây phát triển chiều cao, trong khi bộ rễ khỏe và gốc cây to, chắc. Khi đu đủ ra trái gặp lúc trời mưa, gió vẫn không đổ ngã.

Hơn nữa, khi mới trồng nên đào hố sâu, rộng, bón lót cho từ 0,5-1kg/1 gốc phân chuồng hoai mục, sang tháng thứ 2-3 thì bón thúc mỗi gốc khoảng 50-100 gam phân NPK hòa tan trong nước, tưới vào dưới tán cây, cách xa gốc 20-30cm. Khi cây ra hoa hình thành quả, hạn chế bón phân – ở mức 100-200g. Chú ý vào mùa lạnh cần tưới ẩm thường xuyên, kết hợp phun oxyclorua đồng và phòng trừ rệp hại cây. Cần chú ý, quá trình chăm sóc chỉ dùng tay nhổ cỏ, không dùng cuốc làm đứt rễ, dẫn đến bị úng thủy, cây chết.

Với kinh nghiệm, cách trồng mới này, cây đu đủ cho thu hoạch, năng suất đạt quanh năm, hy vọng với phương pháp này bà con áp dụng, sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao.

(Theo kinh nghiệm của anh Nguyễn Thành Khải – nổi tiếng là nông dân trồng đu đủ giỏi tại thôn Phú Thạnh, xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn)

Giống Đu đủ lùn cao sản

Giống Đu đủ lùn cao sản

Viện Cây lương thực & cây thực phẩm đã chọn tạo, trồng thử nghiệm thành công và khuyến cáo nông dân trồng giống đu đủ lùn cao sản cho thu nhập cao


Giống có nguồn gốc từ nguồn nhập nội của Thái Lan,  sau khi trồng 5 – 7 tháng cho thu hoạch. Độ đóng trái thấp, từ 40 – 50 cm, nhiều cây chỉ cách mặt đất 20 cm nên rất tiện chăm sóc, thu hoạch và kéo dài chu kỳ kinh doanh, tăng hiệu quả kinh tế.

Tùy chế độ chăm sóc và mùa vụ, giống cho trái ở 2 dạng: Trái tròn và trái dài, trong đó tỷ lệ trái dài nhiều hơn, bán được giá cao hơn vì được nhiều người ưa chuộng. Trọng lượng bình quân 1,5 – 2 kg/trái, có trái nặng tới 3 kg.

Khi chín, vỏ trái có màu vàng tươi, ruột đỏ vàng như ruột gấc, tỷ lệ phần ăn được cao, tới trên 85%, ít hạt, ăn ngọt và thơm. Thịt dày, chắc, thuận tiện cho việc bảo quản và vận chuyển đi xa nếu thu đúng độ chín cần thiết.

Giống cho năng suất rất cao, tất cả các cây đều cho trái hầu như quanh năm, mỗi cây cho bình quân 50 – 60 trái/năm, sản lượng đạt tới 90 – 100 kg/cây/năm. Có thể thu xanh để làm rau (làm nộm, xào nấu), thu chín để ăn tươi, làm kem, làm mứt, chế biến nước quả…Với giá bán bình quân từ 7.000 – 10.000 đồng/kg tùy vụ, giống đu đủ lùn Thái Lan có thể cho thu hoạch trên 200 triệu đồng/ha/năm.

Để có thể đạt được năng suất và hiệu quả cao khi trồng giống đu đủ lùn mới của Thái Lan bà con cần chú ý một số điểm sau đây:

- Thời vụ trồng thích hợp: Trồng vụ xuân (tháng 1 – 2), thu quả vụ hè (tháng 8 – 9), vụ thu (tháng 7 – 8), thu quả vào dịp Tết Nguyên đán (tháng 1 – 2).

- Khoảng cách, mật độ trồng thích hợp: 2 x 3 m (60 cây/sào Bắc bộ).

- Giống thích hợp với nhiều loại đất, nhưng tốt nhất nên chọn những chân vàn, vàn cao, đất thoát nước tốt, giàu mùn trồng sẽ cho năng suất cao, chất lượng quả tốt mà cây kéo dài tuổi thọ do không bị úng ngập nước.

Những nơi đất thấp nên đắp mô cao 50 – 60 cm, rộng 80 – 100 cm để trồng hoặc đào mương sâu 30 – 40 cm, rộng 30 – 40 cm vừa để lấy nước tưới trong mùa khô, tránh úng ngập mùa mưa.

- Đu đủ có quả và cho thu hoạch liên tục trong năm, do đó cần cung cấp đủ lượng phân để cây luôn có đủ dinh dưỡng nuôi hoa, nuôi trái lớn, cho chất lượng tốt nhất.

Ngoài việc bón phân lót trước khi trồng (8 – 10 kg phân chuồng + 0,5 kg vôi bột + 0,5 kg supe lân cho mỗi gốc), cần bón thúc cho cây 3 lần trong năm: Lần 1 sau trồng 4 – 6 tuần, lần 2 khi cây ra hoa, đậu trái, lần 3 khi trái lớn.

Lượng phân tính cho 1 cây như sau: Năm thứ nhất 10 – 12 kg phân chuồng + 0,3 – 0,5 kg urê + 1 kg supe lân + 0,2 – 0,3 kg kali. Năm thứ hai 15 – 20 kg phân chuồng + 0,3 – 0,4 kg urê + 1 – 1,5 kg supe lân + 0,3 – 0,4 kg kali.

Đây là giống lai F1 nên bà con không tự để giống được mà phải mua giống ở những cơ sở uy tín để SX đạt năng suất cao, chất lượng trái tốt.

Thứ Hai, 21 tháng 8, 2017

Một số bài thuốc dễ thực hiện từ đu đủ

Một số bài thuốc dễ thực hiện từ đu đủ

Đu đủ có hàm lượng calo thấp và giàu dưỡng chất, vì vậy được xem là một lựa chọn hoàn hảo cho những người đang thực hiện chương trình giảm cân.



Đu đủ giúp làm lành các vết thương và tổn thương ở da. Loại trái cây này cũng được xem là thực phẩm giúp da tươi sáng và chống các nếp nhăn.

Đu đủ có các hợp chất chống viêm nhiễm, làm lành các chấn thương và các thuộc tính chống ung thư. Những người bị loãng xương, viêm khớp và phù nề nên ăn đu đủ thường xuyên. Một nghiên cứu cũng cho thấy đu đủ còn có tác dụng phòng ngừa ung thư

Muốn có mái tóc khỏe mạnh hãy ăn đu đủ thường xuyên, đu đủ hỗ trợ phát triển tóc và ngăn ngừa gàu

Đu đủ là một trong những biện pháp giải độc tốt. Ăn đu đủ tươi giúp loại bỏ độc tố ra khỏi cơ thể

Ngoài ra, đu đủ còn có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa và chống táo bón.

Một số bài thuốc dễ thực hiện từ đu đủ

Trị giun kim: Ăn đu đủ chín vào buổi sáng lúc đói, ăn liên tục 3-5 ngày.

Trị chứng ít ngủ hay hồi hộp: Đu đủ chín, chuối, củ cà rốt, mỗi thứ 100g xay trong nước dừa non. Thêm mật ong cho đủ ngọt, uống cách ngày.

Làm lành vết loét trên da: Trộn nước đu đủ chín với một chút bơ bôi lên vết loét có tác dụng làm se bí mặt và nhanh chóng làm liền vết thương.

Trị ho phế hư: Đu đủ xanh 100g, đường phèn 20g hầm ăn ngày 2 lần vào buổi trưa và tối, ăn trong 3-5 ngày.

Tạo sữa cho bà mẹ đang cho con bú: 1 trái đu đu non hầm với 1 móng giò ăn vào các bữa ăn hàng ngày.

Lưu ý:


Không nên ăn hạt đu đủ bởi trong hạt có chứa chất độc carpine sẽ làm rối loạn mạch đập, làm suy nhược hệ thống thần kinh.

Ăn nhiều đu đủ chín hằng ngày trong thời gian dài sẽ khiến phần da lòng bàn tay, bàn chân bị vàng. Hiện tượng này sẽ hết sau một thời gian ngừng ăn.

Đu đủ giàu đường nên cũng không dùng nhiều cho người đường huyết cao.

Đu đủ chín có tính nhuận tràng nên kiêng với trường họp đang đi ngoài hay đang uống các thuốc nhuận tẩy.

Ăn đu đủ nên hạn chế dùng lạnh vì bản thân đu đủ có tính hàn.

Phụ nữ mang thai không nên ăn đu đủ xanh vì có thể gây sảy thai.

Tác dụng thần kì của đu đủ

Tác dụng thần kì của đu đủ

Đu đủ ăn ngọt thơm, thấm vào đến tim phổi, tươi ngon vô cùng. Đu đủ hương vị độc đáo, ăn bổ, được người Trung Quốc mệnh danh là vua quả Lĩnh Nam. Quả đu đủ chín vàng, có hình dáng đẹp, ăn tươi hoặc chế biến để dùng điều trị bệnh dạ dày đều tốt.



Tương truyền, có một viên quan huyện triều Minh sinh hạ được ba cô con gái; mãi đến năm 42 tuổi, ông này mới có một cậu con trai, đặt tên là Đức Lâm. Cậu ấm được cả phủ quý như viên ngọc sáng. Ai ngờ Đức Lâm từ nhỏ đã gầy yếu, lắm bệnh, người như que củi, quặt quẹo luôn. Đến năm 13-14 tuổi, cậu ấm còn đi chưa vững, hay buồn nôn, kém ăn, uống nhiều thứ thuốc mà sức khỏe vẫn không khá lên được.

Mùa xuân năm ấy xảy ra chiến tranh, viên quan đánh không nổi thiên binh vạn mã của địch, chết nơi chiến trường. Cậu bé Đức Lâm theo mẹ lang bạt xuống vùng Lĩnh Nam, người mệt, bụng đói, bệnh tình ngày càng nặng hơn. Đêm đến, mẹ con tựa vào nhau ngủ thiếp đi. Về khuya, trăng lên cao, một cơn gió lạnh làm cho phu nhân tỉnh giấc. Bà thấy trên sườn đồi trước mặt có ánh vàng lấp lánh. Một ông tiên râu tóc bạc phơ cầm gậy, lúc chỉ sang phía đông, lúc chỉ sang phía tây. Mấy chục con hạc tiên tỏa ánh bạc bay lượn trên không trung, biến hóa đội hình theo cây gậy của tiên ông, nửa giờ sau thì biến mất. Phu nhân lấy làm lạ, phải căng thần linh đang thương tình mách bảo mẹ con bà?

Sáng sớm hôm sau, phu nhân cố sức cõng con trai đi về phía quả đồi. Lên đến sườn đồi, bà ngạc nhiên sững sờ khi thấy ở thung lũng mấy chục cây lạ chi chít những quả to bằng quả bầu, màu vàng óng. Một dòng suối trong chảy từ trên cao xuống, xung quanh cỏ hoa tươi tốt um tùm, mùi thơm ngào ngạt, chẳng khác nào nơi bồng lai tiên cảnh. Đang đói mệt, bà bèn đặt Đức Lâm xuống, hái lấy một quả chín vàng ăn. Hương vị ngọt thơm, lần đầu tiên trong đời được nếm làm cho phu nhân tỉnh táo hẳn. Bà đưa một miếng vào miệng con và hai mẹ con cứ thế ăn no nê. Ngày hôm sau, bà dựng lều tại đó, hết ăn tươi lại nấu chín thứ quả đó. Sau hơn 10 ngày, bệnh tình con bà đã lui hẳn. Sau vài tháng ăn đu đủ, Đức Lâm đã leo được lên núi đốn củi, giúp mẹ làm lụng, cơ thể cậu rắn chắc khỏe mạnh, cao lớn hẳn lên. Phu nhân kể lại sự việc này cho dân chúng. Một đồn mười, mười đồn trăm... Truyền thuyết trên chứng tỏ đu đủ đúng là thứ quả có giá trị, ăn ngon và chữa được nhiều bệnh.

Theo "Trung dược đại từ điển", đu đủ chứa một loại kiềm có tác dụng phòng chống ung thư và sát trùng, diệt khuẩn. Men protein trong đu đủ giúp tiêu hóa protein, chữa rối loạn tiêu hóa và viêm dạ dày mạn tính, chân gối mỏi... Nhựa đu đủ xanh làm tiêu tan các tổ chức mô bị hoại thư. Ngoài ra, lá đu đủ giã nát đắp vào mụn nhọt, vết loét có tác dụng điều trị nhất định.

Người Quảng Đông đặc biệt thích ăn món đu đủ hầm với đường phèn. Cách làm đơn giản: chỉ cần 1 quả đu đủ chín, gọt vỏ, thái miếng, đựng trong bát to, tra đường phèn, hầm cách thủy. Món này ăn rất ngon, có hương vị đặc trưng, già trẻ ăn quanh năm đều được. Việc ăn nó thường xuyên trong mùa xuân, hè có tác dụng thanh tâm, nhuận phế, giải nhiệt, giải độc. Ăn vào mùa thu, đông có tác dụng nhuận táo, ấm dạ dày, bổ tỳ vị, dưỡng gan, giảm ho, nhuận phổi, tan đờm.

Một số bài thuốc chữa bệnh bằng đu đủ:

- Viêm dạ dày: Đu đủ 30 gam, táo tây 30 gam, mía 30 gam, sắc uống.

- Tỳ vị hư nhược: Đu đủ 30 gam, củ mài 15 gam, sơn tra 6 gam, gạo nếp 100 gam, nấu cháo ăn ngày 2 lần (sáng - chiều).

- Đau lưng mỏi gối: Đu đủ 30 gam, ngưu tất 15 gam, hoàng kỳ 10 gam, đỗ tương 15 gam, câu kỳ tử 10 gam, cam thảo 3 gam, sắc uống.

- Ho do phế hư: Đu đủ 100 gam, đường phèn 20-30 gam, hầm ăn.

- Mụn nhọt: Lá đu đủ giã nát, đắp.

6 công dụng tuyệt vời của quả đu đủ với sức khỏe

6 công dụng tuyệt vời của quả đu đủ với sức khỏe

Ăn đu đủ vì nó không chỉ là loại quả có hương vị thơm ngon mà còn là phương thuốc quý giúp bạn luôn khỏe mạnh.


Đu đủ là loại quả nhiều dinh dưỡng rất tốt cho sức khỏe của chúng ta. Đu đủ chín chứa 90% nước, 13% đường, không có tinh bột, nhiều caretenoid acid hữu cơ, các loại vitamin A, B, C, protein; 0,9% chất béo, xenlulo; 0,5% canxi và các chất đạm chống oxy hóa… Nó có những công dụng tuyệt vời như:

Bảo vệ trái tim của bạn

Vì đu đủ chứa nhiều chất chống oxy hóa như vitamin C, E và A, nên nó có thể ngăn ngừa quá trình oxy hóa cholesterol, hạn chế các mảng bám vào thành mạch máu, gây tắc nghẽn mạch và làm máu không lưu thông được nên nó rất tốt cho những ai có nguy cơ bị xơ vữa động mạch.

Vitamin E và C có trong đu đủ có thể kết hợp để tạo thành enzyme ức chế quá trình oxy hóa tạo ra các cholesterol xấu (LDL) điều này rất tốt cho hệ tim mạch của chúng ta.

Ngoài ra, đu đủ còn giàu chất xơ nên có thể làm giảm mỡ máu. Riêng acid folic có trong đu đủ có khả năng chuyển hóa homocysteine (1 loại phân tử acid amin có khả năng làm gia tăng nguy cơ bị xơ vữa động mạch) thành các acid amino cần thiết khác như cysteine hoặc methionine hạn chế nguy cơ bị nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não.

Giúp hệ tiêu hóa thêm khỏe mạnh

Đu đủ chứa rất nhiều chất xơ, vì thế thường xuyên ăn đu đủ có thể giúp cải thiện hệ tiêu hóa, thoát khỏi chứng táo bón, thậm chí có khả năng ngăn ngừa bệnh ung thư ruột kết.

Có thể hiểu đơn giản là, đu đủ sẽ “tóm gọn” các loại độc tốc đang tồn tại trong ruột rồi đẩy chúng ra ngoài như một loại thuộc nhuận tràng dạng nhẹ vì thế ruột kết được bảo vệ tốt hơn khỏi những nguy cơ bị nhiễm bệnh.

Ngoài ra, các dưỡng chất có trong đu đủ như: folate, vitamin C, beta-carotene, vitamin E cũng được coi là có khả năng giảm thiểu bệnh ung thư ruột kết. Vì vậy, tăng cường ăn đu đủ là cách đơn giản giúp bạn bảo vệ hệ tiêu hóa của mình.

Ăn thỏa thích vẫn giảm cân

Đu đủ là loại trái cây tuy ngọt nhưng một 100g đu đủ chỉ chứa không đầy 32kcal nên việc ăn đu đủ không làm bạn bị tăng cân như các loại trái cây nhiều đường khác.

Ngoài ra, nếu bạn ăn 100g đu đủ thì bạn sẽ bớt thèm ăn cơm và các món ăn giàu calories khác. Vì vậy, bạn nên ăn đu đủ trước các bữa ăn chính để hạn chế lượng thức ăn nạp vào cơ thể.

Tuy giảm béo bằng đu đủ rất tốt, nhưng bạn cũng không nên ăn quá nhiều vì chúng sẽ khiến bạn vàng da. Bạn hãy ăn hàng ngày nhưng nên nhớ chỉ với số lượng vừa đủ.

Tăng cường sức đề kháng và chống viêm nhiễm

Một lượng lớn vitamin C và A có trong đu đủ có thể giúp hệ miễn dịch trong cơ thể bạn hoạt động tốt hơn. Nếu ăn đu đủ hằng ngày, bạn có thể giảm thiểu việc mắc các bệnh của hệ miễn dịch như: cảm, cúm, viêm tai...

Vitamin C, E và betacarotene có trong đu đủ cũng có thể giúp cơ thể phòng tránh khỏi hiện tượng viêm nhiễm để bạn khỏe mạnh hơn. Khả năng kháng viêm của đu đủ được phát huy tốt hơn nhờ 2 hợp chất papain và chymopapain có trong nó. Đây được coi là 2 loại enzyme tiêu hóa protein hiệu quả, có tác dụng làm giảm quá trình viêm nhiễm và làm lành các chấn thương.

Trị bệnh rụng tóc

Đu đủ chứa rất nhiều vitamin A do đó có tác dụng nuôi dưỡng mái tóc, thúc đẩy quá trình mọc tóc, giảm tóc xơ, khô đặc biệt khi được kết hợp với sữa tươi không đường hoặc mật ong, không chỉ dừng lại ở việc trị rụng tóc mà còn mang lại mái tóc chắc khỏe, óng mượt, mềm mại. 

Cách sử dụng:

- Bước 1: chuẩn bị 1 quả đu đủ chín, mật ong vừa đủ hoặc sữa tươi

- Bước 2: nạo đu đủ và nghiền nhuyễn với mật ong hoặc sữa tươi

- Bước 3: bôi hỗn hợp này lên mái tóc, mát xa da đầu, gội lại tóc bằng nước sạch sau 30 phút

Thực hiện hằng ngày để cảm nhận sự khác biệt từ mái tóc. Chỉ sau 1 tháng, tóc giảm rụng, chắc khỏe, mềm mại.

Cải thiện vẻ gợi cảm cho vòng 1

Đu đủ xanh được xem là loại quả giúp “tăng size”  đôi gò bồng đào 1 cách hiệu quả nhất. Đu đủ có chứa chất enzyme chính là tác nhân giúp “đồi núi” nở nang. Hơn nữa, hàm lượng lớn Vitamin A trong đu đủ sẽ giúp cơ thể tổng hợp các hợp chất có tác dụng làm săn chắc và nở nang khuôn ngực của bạn.

Đu đủ xanh hầm lẫn xương sườn, đậu đỏ hoặc đậu ván... kích thích phát triển tuyến sữa và các mô mỡ vùng ngực. Loại quả này còn có tác dụng tốt cho những bà mẹ nuôi con bú. Bạn có thể thay đổi cách chế biến: xào, nấu, luộc, hầm với các loại thịt (gà, bò, lợn, chim câu...) để giúp ngon miệng hơn. Thường xuyên ăn đu đủ xanh sẽ tăng số đo vòng một đáng kể.

Thuốc tránh thai tự nhiên không tác dụng phụ
Phụ nữ Ấn Độ, Sri Lanka, Pakistan chọn phương pháp ăn đu đủ xanh như một biện pháp tránh thai tự nhiên đơn giản và hữu hiệu nhất từ rất nhiều năm nay. Họ ăn đu đủ xanh hằng ngày trong thời gian không muốn có bầu và ngừng ăn khi có ý định sinh con. Trên thực tế, cách tránh thai này tỏ ra khá hiệu quả trước khi có các biện pháp phòng tránh và thuốc tránh thai như ngày nay và chúng không hề có tác dụng phụ.

Năm 1993, các nhà khoa học thuộc Viện đại học Sussex (Anh) đã tìm thấy chất papain (có nhiều trong nhựa đu đủ xanh) có khả năng ngăn cản quá trình thụ thai ở phụ nữ. Họ đưa ra hai giả thuyết để lý giải về điều này như sau:

- Thứ nhất, chất papain có trong đu đủ xanh có tác dụng ức chế hormone progesterone và làm ngăn cản quá trình thụ thai.

- Thứ hai là chính tác dụng làm mềm thịt của chất papain này đã phá huỷ màng tế bào của phôi thai.

Phương pháp trồng Đu đủ

Phương pháp trồng Đu đủ

Đu đủ dễ trồng, ưa đất thoát nước, được trồng ở khắp nơi để lấy quả ăn. Trồng 8 tháng đã cho quả.



Đu đủ - Carica papaya, cây ăn quả, họ Đu đủ - Caricaceae. Thân trụ, cao 8 – 10 m, không phân nhánh, mang một chùm lá ở ngọn. Lá to, mọc cách, không có lá kèm, cuống dài, rỗng, gân lá hình chân vịt, phiến chia 8 – 9 thuỳ sâu. Hoa vàng nhạt, mọc thành chùm ở kẽ lá, hoa thường đơn tính khác gốc nhưng có khi tạp tính (cùng một gốc có cả hoa đực, cái và lưỡng tính). Quả mọng, ruột rỗng, mang nhiều hạt. Cây có nhiều ống nhựa mủ chứa chất papain, có thể có ancaloit là cacpain.

1. Một số giống và kỹ thuật chọn giống Đu đủ

1.1 Giống

Đu đủ có nhiều loại giống khác nhau nhưng phổ biến nhất là các giống sau:

- Giống Hong Kong da bông: Cho năng suất cao, trọng lượng trái trung bình từ 2,5-3kg, vỏ dày, chống chịu khá với nhện đỏ và các bệnh do Virus. Thịt trái có màu vàng, hàm lượng đường từ 9-10%.

- Giống Đài Loan tím: Năng suất rất cao, trái nhiều, trọng lượng trái từ 1,2-1,5 kg. Thịt trái có màu đỏ tím, chắc thịt. Hàm lượng đường từ 10-11%. Cây dễ bị nhện đỏ và các bệnh do Virus, nhưng vẫn có khả năng cho trái tốt trong những năm đầu.

- Giống EKSOTIKA: Cho phẩm chất ngon, thịt trái màu đỏ tía, chắc thịt, tươi đẹp, hàm lượng đường 13-14%, trọng lượng trái 0,5-1kg.

- Giống Sola: Có đặc điểm gần giống như EKSOTIKA nhưng thịt trái chắc hơn, thơm ngon hơn, hàm lượng đường 15-17%, trọng lượng trái  300-500g

- Giống Hồng Phi 786: Cây phát triển rất khỏe, cây có trái sớm, cây có trái đầu tiên lúc cây cao khoảng 80cm. Tỷ lệ đậu trái cao, một mùa 1 cây có thể đậu 30 trái trở lên, sản lượng rất cao. Trái lớn, trọng lượng trái từ 1,5-2Kg (có thể đạt 3kg/trái). Cây cái ra trái hình bầu dục, cây lưỡng tính cho trái dài. Da nhẵn bóng, thịt dày màu đỏ tươi, hàm lượng đường 13-14%, dễ vận chuyển.

1.2. Chọn giống

Tháp hay giâm cành đu đủ đều trồng được cả, nhưng trồng bằng hột thì dễ dàng và tiện lợi hơn vì trái đu đủ nhiều hột, mà hột lại tồn trữ dễ dàng. Hột vẫn còn nẩy mầm sau ba năm nếu đựơc tồn trữ nơi khô ráo và mát mẻ. Gieo hột càng tươi càng tốt.

- Chọn hạt: Từ trái thon dài, phát triển tốt trên cây mẹ khỏe, sạch sâu bệnh, trái phải đủ độ già trên cây, chỉ lấy những hạt đen ở giữa trái thả vào nước, vớt những hạt nổi bỏ đi, chỉ dùng những hạt chìm làm giống.

- Xử lý hạt: Vớt những hạt nổi bỏ đi, những hạt chìm làm giống có thể ngâm xâm xấp nước 1-2 ngày đêm trong chậu men, sau đó đãi sạch chất keo, chất nhớt bám vào hạt, chà tróc vỏ lụa bên ngoài hạt, đem phơi trong mát và cất giữ nơi khô ráo. Trước khi gieo cần xử lý hạt, dùng dung dịch Tốp-xin 1% để khử mầm bệnh, tiếp theo ngâm hạt trong Cacbonat natri 1% (NaHCO3) từ 4-5 tiếng đồng hồ, sau đó dùng nước rửa sạch là có thể đem gieo. Để hạt trong nhiệt độ 32-35°C để thúc mầm, khi hạt đã nứt nanh mới đem gieo để cây mọc đều và nhanh.

2. Thời vụ và đất trồng Đu đủ

2.1  Khí hậu

Cây đu đủ phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ấm và ẩm, lượng mưa 100mm/tháng, không bị che bóng mát. Đu đủ rất nhạy cảm với nhiệt độ và ẩm độ, khi nhiệt độ cao 30-35°C hoặc ẩm độ cao, lượng mưa nhiều 250-300mm/tháng, cây sẽ sinh trưởng kém, ít đậu trái. Nhiệt độ dưới 0°C làm cây chết, hư hại nặng nề. Nếu khi trái chín mà khí trời lạnh, không đủ nóng thì trái sẽ không ngọt. Đu đủ cũng cần nhiều mưa và mưa phân phối đồng đều. Nếu không mưa thì cần tưới nước, đu đủ mới cho nhiều trái. Thiếu nước mùa nắng, hoa sẽ ít đậu trái và trái non sẽ rụng nhiều. Tuy nhiên, nếu quá nhiều nước thì rễ, lá bị hư hại nhiều, cây phát triển chậm, yếu. Cây đu đủ không chịu đựng được gió to.

2.2 Đất đai

Đu đủ dễ tính có thể trồng trên đất có độ chua thích hợp pH từ 5,5-6,5. Đất trồng đu đủ phải giàu chất hữu cơ, tơi xốp, đất không hoặc ít phèn, thuận tiện cho việc tưới nước và thoát nước tốt khi có mưa lớn. Vùng đồng bằng phải lên líp thật cao và đường mương thoát nước phải sâu để dễ thoát nước. Chuẩn bị đất: Đất trước khi trồng nên đánh luống rộng 2-2,5m. Giữa các luống có rãnh sâu 30cm để thoát nước.

2.3  Thời vụ

Đu đủ có khả năng trổ hoa và đậu trái quanh năm, tuy nhiên để hạn chế sâu bệnh có thể bố trí trồng Đu đủ vào đầu mùa mưa (Tháng 4-5). Những vùng chủ động tưới tiêu trồng vào cuối mùa mưa (Tháng 10-11)

3. Kỹ thuật trồng chăm sóc Đu đủ

3.1 Ươm cây con

- Gieo hạt trên các luống:

Đất trên luống cần được làm kỹ, trộn đều 5-10kg phân hữu cơ hoai mục, 0,15-0,2kg Supe lân, 0,3-0,5kg vôi cho 1m2 đất luống. Hạt được gieo theo lỗ, mỗi lỗ 2-3 hạt, mỗi lỗ cách nhau 5-10cm, gieo hạt ở độ sâu 0,6-1cm, sau đó lấp đất và cần tủ một lớp rơm rạ, thường xuyên tưới hàng ngày cho đủ ẩm, khi cây con đã mọc tưới ít dần, cây có 2-4 lá thì 2 ngày tưới 1 lần. Khi cây cao khoảng 4-6cm (có 4-5 lá) là có thể bứng cấy vào bầu. Chọn những cây khỏe mạnh, kích thước trung bình, rễ chùm nhiều, nhặt mắt, gốc to, ngọn nhỏ để cấy vào bầu. Xếp các bầu cây vào khay, điều chỉnh giàn che để cây con có đủ ánh sáng cây sinh trưởng mới tốt, cây mọc thẳng và cứng cáp. Nên ươm cấy qua bầu để đạt được tỉ lệ sống cao.

- Gieo hạt trong bầu:


Dùng túi nilon kích thước 12 x 7cm (có đục lỗ thoát nước), lấy đất phù sa hay thịt nhẹ, làm đất nhỏ kỹ, trộn phân chuồng hoai mục với tỷ lệ 2 đất 1 phân cho vào đầy túi. Mỗi bầu túi có thể gieo hai ba hột để trừ hao khi hột ít nảy mầm, sâu bệnh phá hại hay để tỉa bớt cây đực, ấn nhẹ hạt vào trong bầu và phủ ít đất mịn lên trên. Gieo hạt xong cần tưới ẩm, thường xuyên tưới nhẹ mỗi ngày 1 lần, giữ ẩm cho đất ở mức 65-70%. Cần chú ý: sau khi hạt nảy mầm thành cây thì tưới thưa hơn vì lúc này cây chưa cần đến nước nhiều, tưới nhiều đất quá ẩm cây con dễ bị nhiễm bệnh.

3.2 Kỹ thuật trồng

- Hố trồng có kích thước chiều dài, chiều rộng và chiều sâu là 60 x 60 x 30cm. khoảng cách trồng: hàng cách hàng từ 2-2,5m, cây cách cây là 2m (khoảng 2.000-2.100 cây/ha). Sau khi đào hố, tiến hành bón lót. Mỗi hố bón 10-15kg phân chuồng, 0,5kg lân, 0,2kg kali, 0,5kg vôi bột. Trộn đều tất cả phân với đất mặt rồi lấp đầy hố trồng.

– Khi đu đủ trong bầu cao 15-20cm thì đem ra trồng, chỉ lấy những cây có thân hình tháp bút, lóng ngắn sít nhau, có lá màu xanh đậm, xẻ 4 thùy, biểu hiện của cây cái.

Đặt bầu cây giữa hố, dùng dao sắc rạch nhẹ gỡ bỏ bầu nilon (không làm vỡ bầu), vun đất quanh bầu, nén chặt gốc và tưới đủ ẩm cho cây. Dùng rơm rạ hay bèo phủ giữ ẩm cho đất. Khi cây bén rễ sinh trưởng tốt, cắm cọc ghì cây để giữ cây khỏi đổ ngã khi có mưa gió bão, khi cây lớn nới dần dây buộc ra.

- Khi cây cao 40-50cm (2,5-3 tháng tuổi) phải vun gốc bón thúc bằng phân tổng hợp NPK hay DAP, hay bón 100g urê + 300g super lân + 50g kali quanh gốc sau đó tưới nước cho phân tan để cây hút được chất dinh dưỡng. Khoảng 5-6 tháng sau khi đặt vào hố, cây đu đủ bắt đầu trổ hoa. Chỉ nên giữ lại các cây cái hay cây lưỡng tính mọc mạnh, tỉa bỏ các cây khác. Khi cây đã ra hoa, trái nên bón phân thêm một lần nữa, liều lượng phân bón như đã nêu trên. Khoảng 9-10 tháng sau khi trồng là đu đủ có trái và cây ra trái suốt năm. Đều quan trọng là gốc đu đủ phải luôn sạch cỏ, được tủ gốc để giữ ẩm thì đu đủ mới sai và to trái, vỏ căng, mã đẹp .

3.3 chăm sóc

Chặt bỏ và tiêu hủy những cây bị bệnh để tránh lây lan cho các cây khác. Đu đủ có bộ rễ ăn nông, cây dễ đổ ngã do gió, bão và khả năng chiụ úng ngập rất kém, vì vậy cần chú ý làm cỏ, vun gốc cho cây, chống đổ trong mùa mưa gió và khơi rãnh thoát nước trong mùa mưa, bão. Những nơi mùa khô kéo dài, thiếu nước cần có biện pháp tưới nước và giữ ẩm cho cây. Tốt nhất là tủ gốc bằng rơm rạ, cỏ khô để giữ ẩm. Những nơi lạnh cần bao quả. Để đạt năng suất cao cần thụ phấn bổ khuyết cho hoa. Khi cây mang quả nặng cần cắm cọc chống gió bão cho đu đủ, cắt bỏ lá già gần gốc, khơi rãnh thoát nước chống úng cho cây; làm sạch cỏ dại, xới xáo cho đất thông thoáng. Mùa khô cần ủ rơm rạ quanh gốc giữ ẩm cho cây. Năm sau, cây đu đủ thường phát triển kém đi, chọn để lại những cây khoẻ, loại bỏ cây yếu kém và trồng thế bằng cây con mới. Chế độ chăm sóc năm sau không khác gì năm đầu.

Thường cứ 30 – 45 ngày làm cỏ, tỉa hoa, tỉa quả, cành lá một lần. Nên dùng đất thịt mới ở ruộng cầy ải, đất bùn ao phơi khô xếp vào xung quanh gốc, hoặc đất phù sa thật tốt. Khi cây ra quả và hoa nhiều, cần thường xuyên tỉa bớt quả èo, hoa xấu, bỏ bớt những chùm quả quá dầy. Cây đu đủ nào cao trên 3m ở những nơi thoáng gió cần tỉa đốn ngọn (có nơi dùng nồi đất, gạch ngói úp lên ngọn đã cắt) cho cây đâm nhánh không vươn lên cao.

– Cắm cây cọc: Thông thường đu đủ đều trồng thẳng, khi gặp gió bão phải cắm cọc chống gió, dùng 3 cây cọc cắm chéo hoặc 1 cây cọc cắm thẳng và cột chắc cây đu đủ vào cọc. Vào thời kỳ cây đậu trái nhiều mà gặp gió bão có thể chặt bớt một số lá già gần gốc, để giảm bớt sức cản gió, chống đổ ngã hoặc gãy.

- Tỉa cành và hái trái: Sau khi xuống giống, nếu trên thân chính mọc ra nhánh con phải ngắt bỏ sớm. Vào thời kỳ đậu trái phải hái bỏ kịp thời những trái bị méo, bị sâu bệnh, những lá già héo chết phải ngắt bỏ luôn cuống lá.

- Tưới nước: Đu đủ là loại cây cần nhiều nước nhưng rất sợ úng. Do đó cần cung cấp đầy đủ nước cho cây vào mùa nắng và thoát nước tốt cho cây vào mùa mưa hoặc khi bị úng, lũ.

- Làm cỏ: Cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng và là nơi trú ẩn của sâu bệnh. Cần làm thường xuyên quanh gốc.

- Tủ gốc: Dùng rơm hoặc cỏ khô tủ quanh gốc vào mùa nắng để giữ độ ẩm và giữ nhiệt độ thích hợp cho cây.

3.4 Bón phân

Đu đủ có quả quanh năm, vì vậy cần phải bón phân để cung cấp dinh dưỡng cho cây nuôi hoa, quả. Ngoài việc bón lót trước khi trồng, cần bón thúc các loại phân hữu cơ, đạm, lân, kali trong đó chú ý đến lân, kali. Lượng phân bón cho 1 cây như sau :

- Năm thứ 1: phân chuồng 10-15kg + 0,3-0,5kg urê + 0,5-1kg lân super + 0,2-0,3kg kali sulfat

- Năm thứ 2: phân chuồng 15-20kg + 0,3-0,4kg urê + 1-1,5kg lân super + 0,3-0,4kg kali sulfat

- Các thời kỳ bón cho cây: sau trồng 1,5-2 tháng hoặc vào đầu mùa mưa (năm thứ 2) bón toàn bộ phân chuồng, 30% lân, 30% đạm. Khi cây ra hoa: 30% đạm, 30% lân và 50% kali. Sau khi thu quả lứa đầu (sau trồng khoảng 7-8 tháng) bón 20% đạm, 40% lân, 20% kali.

- Khi bón phân cần xăm đất, rải phân kết hợp với vun gốc lấp phân cho cây. Cũng có thể chia lượng phân ra bón nhiều lần. Các đợt bón kết hợp với làm cỏ vun gốc cho cây. Bón thúc 3 lần trong năm đầu: lần 1 sau trồng 4-6 tuần, lần 2 khi cây ra hoa kết quả, lần 3 khi quả lớn.

3.4 Phòng trừ sâu bệnh

Trong quá trình sinh trưởng, đu đủ có thể bị một số bệnh như sau:

– Bệnh phấn trắng: phòng trị bằng cách phun Anvil 0,2%, Rovzal 0,2%

- Bệnh cháy lá: gây cháy lá và làm cho lá biến màu, khô rụng. Phun Kitazin 0,2% có thể hỗn hợp với vôi.

- Bệnh do virus: Làm cho lá quăn, hoa rụng, lá vàng úa, cây còi cọc, có thể héo vàng dẫn đến chết. Bệnh do virus rất khó chữa trị. Tốt nhất là nhổ đi đem đốt hoặc chôn sâu. Gốc cây bệnh rắc vôi bột, bỏ một thời gian không trồng. Những nơi bệnh này cần tăng cường phòng chống và vườn cây được 2-3 năm nên chặt bỏ trồng lại cây mới.

- Bệnh thối cổ rễ: Hay xảy ra ở nơi ẩm ướt, nơi đất có mực nước ngầm cao thường bị ngập úng. Những nơi này trồng đu đủ phải lên líp cao và chú ý đắp gốc.

- Rệp sáp: Làm hại lá và quả non, những cây bị bệnh này dùng Bi 58 tỷ lệ 0,1-0,2% phun cho cây bệnh.

Để phòng tránh bệnh và khắc phục các tác hại trên, nên thực hiện tốt luân canh cây trồng, chọn giống kháng bệnh, bón cân đối NPK để cây khỏe, chống chịu bệnh tốt. Phát hiện sớm bệnh để phun thuốc. Cần lưu ý khắc phục các khâu sau:

- Ngoài việc chọn đất tốt, ít mùn rác bẩn để tránh tuyến trùng hại rễ, thoát nước mưa nhanh chóng vào mùa mưa, tiện cho việc tưới nước vào mùa nắng, vườn đu đủ cần được bố trí hướng khuất gió.

– Khi trồng đu đủ, cần bón lót nhiều phân hữu cơ. Càng nhiều phân, cây càng mập, lá xanh đậm, tạo điều kiện cho cây đạt năng suất cao. Ngoài ra, cây có tốt thì mới đủ sức để chống chịu với mưa gió và sâu bệnh sau này.

– Cần tưới giữ ẩm thường xuyên cho cây, không được để mặt đất khô trắng. Mỗi lần tưới, có thể tưới phun hoặc tát nước vào rãnh líp cho đất hút đủ nước. Mỗi tháng, kết hợp phun 2-3 lần boóc-đô hay Oxyclorua đồng. Các chất này vừa cung cấp canxi vừa cung cấp vi lượng, giúp cho cây tạo diệp lục tố.

4. Thu hoạch Đu đủ

Đu đủ sau khi trồng 7 tháng có thể thu hoạch quả xanh làm rau xanh, thu quả chín sau trồng 9-10 tháng. Cây đu đủ có thể thu hoạch quanh năm. Khi quả chín vàng (hay đỏ) từ 2/3 quả trở lên, trên quả đã xuất hiện các sọc vàng nhạt, lúc này vật chất khô trong quả đã tích lũy tối đa để khi làm chín, quả đạt chất lượng thương phẩm tốt. Khi thu hái trái (cây cao dùng thang) nên vặn từng quả một nhẹ nhàng. Quả chín đem xếp vào sọt, mỗi lớp quả có một lớp rơm. Trên cùng phủ kín rơm hay bao tải để 3-5 ngày vàng đều và sờ tay hơi mềm là có thể lấy ra ăn hay đem bán. Mỗi cây có thể cho thu hoạch trung bình 70kg quả, cây cho thu hoạch cao có thể đạt 100-120kg quả/cây.

Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017

Lợi ích của hạt đu đủ

Lợi ích của hạt đu đủ

Lâu nay, chúng ta biết đến nhiều tác dụng của thịt quả đu đủ. Tuy nhiên, bạn có biết rằng, hạt đu đủ không những không độc hại mà đang nhanh chóng trở thành một loại thực phẩm tốt cho sức khỏe với những dược tính của nó.



Đu đủ là loại trái cây nhiệt đới với hương vị ngọt ngào và được Christopher Columbus gọi là “hoa trái của các thiên thần”. Đu đủ có thể được tìm thấy quanh năm nhưng nhiều nhất vẫn là mùa hè và mùa thu. Trong bài này chúng tôi muốn gửi đến các bạn công dụng của hạt đu đủ, một khám phá thú vị.

Lợi ích sức khỏe

Cả đông và tây y đều nhắc đến công dụng của hạt đu đủ trong việc hỗ trợ tiêu hóa, bảo vệ thận, và giải độc gan cũng như ngăn ngừa sự lây lan của các loại mầm bệnh gây nhiễm trùng.

Hạt đu đủ có hàm lượng axit oleic và palmitic. Các loại axit béo có trong hạt đu đủ được cho là giúp cơ thể chúng ta phòng chống ung thư.

Hạt đu đủ cũng dùng để loại bỏ khỏi cơ thể các loại ký sinh trùng đường ruột nhờ hàm lượng enzyme cao, một chất phân giải protein giúp phân hủy ký sinh trùng và trứng của chúng cũng như các protein không tiêu hóa hết trong thực phẩm bạn ăn.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hạt đu đủ cũng có tác dụng kháng khuẩn và chống viêm mạnh mẽ ở hệ tiêu hóa và đặc biệt hiệu quả trong việc tiêu diệt E. colii, Salmonella, tụ cầu khuẩn, và bệnh nhiễm khuẩn khác.

Làm thế nào để ăn hạt đu đủ

Chúng ta có thể ăn thô với mục đích chữa bệnh hoặc chế biến vào món ăn bằng cách làm khô và nghiền hạt dùng thay cho hạt tiêu. Hạt đu đủ có hương vị rất giống với hạt tiêu đen và có thể dùng thay thế trong nhiều công thức nấu ăn. Bạn cũng có thê tích trữ để sử dụng lâu dài.

Bảo vệ tim mạch và chống viêm nhiễm từ quả đu đủ

Bảo vệ tim mạch và chống viêm nhiễm từ quả đu đủ

Đu đủ là một trong những nguồn giàu chất dinh dưỡng, chất chống oxy hóa, chất khoáng và chất xơ phong phú hơn hẳn các loại quả khác.


Đu đủ chín chứa khoảng 70% nước, 13% đường, không có tinh bột, có nhiều ca-rô-ten, a-xít hữu cơ, vi-ta-min A, B, C, Prô-tít, 0,9% chất béo, xen-lu-lô-zơ (0,5%), can-xi, phốt-pho, ma-giê, sắt, thi-a-min, ri-bo-fla-vin… Trong Đông y, đu đủ có tên mộc qua, tính hàn, vị ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, bổ tỳ.

Tuy nhiên, cần lưu ý tác dụng ngừa thai, gây sẩy thai của papain do hoạt tính của nó đối với progesteron của thai phụ.

1. Tác dụng bảo vệ tim mạch

Vì đu đủ có chứa nhiều chất chống oxy hóa như vitamin C, E và A. Các dưỡng chất này có tác dụng ngăn ngừa quá trình oxy hóa cholesterol, hạn chế các mảng tiểu cầu do quá trình oxy hóa cholesterol tạo ra bám vào thành mạch máu, gây tắc nghẽn mạch và làm máu không lưu thông được. Vitamin E và C của đu đủ kết hợp tạo ra hợp chất có có thể ức chế quá trình oxy hóa.

Đu đủ còn là loại quả giàu chất xơ nên có tác dụng làm giảm mỡ máu (cholessterol), riêng acid folic có trong đu đủ có tác dụng làm chuyển hóa homocysteine thành acid amino. . Nếu không được chuyển hóa thì homocysteine có thể gây phá hủy trực tiếp các mạch máu, thậm chí nếu cao, có thể gây bệnh đau tim hoặc đột quỵ.

2. Tăng cường cho hệ tiêu hóa

Chất xơ có trong đu đủ có thể “thu gom” các độc tố gây bệnh trong kết tràng và bảo vệ tế bào khỏe mạnh trước nguy cơ bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, trong đu đủ còn có chứa các dưỡng chất như: có tác dụng giảm thiểu bệnh ung thư kết tràng.Vì vậy, tăng cường ăn đu đủ cũng là biện pháp phòng ngừa ung thư kết tràng rất tốt cho mọi người.

3. Thuốc chống viêm nhiễm

Trong đu đủ có chứa hợp chất có tác dụng làm giảm quá trình viêm nhiễm và làm lành các chấn thương. Ngoài ra, đu đủ còn có chứa nhiều vitamin C, E và betacarotene nên có tác dụng phòng ngừa viêm nhiễm ở mức cao nhất, bởi vậy những người bị bệnh hen suyễn, thấp khớp thường được bác sĩ kê đơn cho dùng các dưỡng chất nói trên.

4. Tăng cường sức đề kháng

Vitamin C và A do đu đủ cung cấp cho cơ thể sẽ giúp hệ miễn dịch làm việc tốt hơn, nhất là nguy cơ phòng chống các loại bệnh thường xuất hiện khi giao mùa như: cảm, cúm, viêm tai…

5. Giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp

Vitamin C có trong thực phẩm, đặc biệt là trong đu đủ lại có tác dụng bảo vệ cơ thể trước nguy cơ mắc bệnh polyarthiritis, một dạng bệnh viêm khớp dạng thấp.

6. Tăng cường chức năng phổi

Những người nghiện hút thuốc lá hoặc phải sống trong môi trường có khói thuốc (hút thuốc thụ động) thì nên bổ sung thực phẩm giàu vitamin A, trong đó có đu đủ.

Cây đu đủ thức ăn - vị thuốc

Cây đu đủ thức ăn - vị thuốc

Trong Đông y, đu đủ có tên mộc qua, tính hàn, vị ngọt, thanh nhiệt, bổ tỳ. Toàn cây được dùng làm thức ăn và thuốc.


Tương truyền rằng đời Minh (Trung Quốc) có ông quan mãi mới sinh được  cậu con trai, nhưng cứ bị ốm yếu không có danh y nào chữa khỏi. Bà mẹ  đang đau buồn vì con thì được tiên báo mộng chỉ lên quả đồi có nhiều đu  đủ. Hai mẹ con ăn đu đủ thấy ngày càng khỏe mạnh. Từ đó quả đu đủ còn  được mang ý nghĩa tâm linh!

Dưỡng sinh theo mùa: Vào mùa xuân, hè ăn đu đủ có tác dụng thanh tâm  nhuận phế, giải nhiệt, giải độc. Vào mùa thu đông, ăn đu đủ có tác dụng  nhuận táo, ôn bổ, tỳ vị, dưỡng can, nhuận phế, chỉ khái, hóa đàm. Nghĩa  là đu đủ chín vào mùa nào ăn cũng tốt cho sức khỏe.

Dưỡng sinh chống lão suy: Đu đủ giúp cho các trường hợp da mai mái, thể  trạng không sung mãn, có các bệnh mạn tính: đu đủ chín 200g, chuối xiêm  300g, 2 thứ này xay trong nước dừa non, nạo 1 quả (loại dừa to) hoặc 2  quả (dừa xiêm nhỏ) uống hằng ngày. Nếu có mật ong, sữa ong chúa cho vào  càng tốt. Nên dùng nóng.

Chữa ít ngủ, hay hồi hộp: Đu đủ chín 100g, chuối 100g, củ cà rốt 100g.  Xay trong nước dừa non nạo. Thêm mật ong đủ ngọt, uống cách nhật.

Chữa giun kim: Đu đủ chín ăn vài miếng buổi sáng lúc đói. Ăn liền 3-5 ngày.

Chữa viêm dạ dày mạn tính (tỳ vị hư hàn), loét hành tá tràng. Đu đủ chín 30g. Táo tây 30g, mía 30g, sắc uống.

Chữa tỳ vị hư nhược: Đu đủ chín 30g, khoai mài 15g, sơn tra 6g, gạo nếp 100g. Nấu cháo ăn ngày hai lần.

Chữa ho do phế hư: Đu đủ chín 100g, đường phèn 20-30g hầm ăn. Công thức được người dân tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) hay dùng.

Chữa đau lưng, mỏi gối: Đu đủ xanh 30g, ngưu tất 15g, câu kỷ tử 10g, cam  thảo 3g. Sắc uống (có thể thêm hoàng kỳ 10g, đỗ trọng 15g).

Tạo dáng thon thả, nhuận da: Đu đủ chín 1 quả 0,5kg, sữa bò tươi 2 ly,  đường cát vừa đủ, đu đủ gọt sạch vỏ, bỏ hạt cắt miếng, cùng sữa cho vào  máy xay sinh tố cho nhuyễn, uống tươi.

Nhuận da dưỡng nhan sắc chống lão hóa: Đu đủ chín 1 quả 0,5kg, sữa tươi 3  ly, hạt sen 20g, bỏ tâm ngâm mềm cho nở, táo tàu đỏ 2 quả bỏ hạt, đường  phèn vừa đủ. Cho tất cả vào bát to chưng cách thủy độ 2 giờ thấy hạt  sen mềm là được. Ăn nóng.

Mỹ phẩm dùng ngoài: Ở nước ngoài người ta dùng đu đủ chín bỏ vỏ, hạt,  nghiền mịn làm mặt nạ lột da mặt, chữa mụn trứng cá (Paul Neinast  Dallas) da khô, nám da, v.v...

Giúp phụ nữ sau sinh nhiều sữa: Chân giò hầm với đu đủ xanh để có nhiều sữa.

Đu đủ xanh hầm với các loại thịt động vật làm cho thịt mềm kể cả loại già, loại dai.

Chữa đau gai cột sống: Hạt đu đủ đem xát cho sạch phần nhớt bao quanh,  lấy hột đen giã nát trong một túi vải đem đắp lên vùng đau của gai cột  sống, hoặc nơi biết có gai cột sống trên Xquang. Mỗi lần chỉ đắp tối đa  30 phút và theo dõi tránh bị bỏng. Ngày làm một lần liên tục trong 20-30  ngày để chữa gai cột sống, có người nói sau liệu trình đó sẽ khỏi bệnh  gai cột sống (hết đau hoặc hết gai?) cần nghiên cứu thêm.

Chữa ho hen:
Hoa đu đủ đực dân gian dùng chưng hoặc hấp cơm cho uống.

Vị thuốc từ cây đu đủ đực

Vị thuốc từ cây đu đủ đực

Đu đủ có nhiều giống khác nhau, song với từng giống cũng có tới 3 loại đó là đu đủ cái, đu đủ đực loại này chỉ có hoa đực thành dải dài, không kết quả và đu đủ lưỡng tính là loại ra hoa thành dải dài, sau đó hoa kết quả nhưng bé như quả cau không lớn được, cả ba loại này đều có thể sử dụng làm thuốc trị nhiều bệnh; nhưng ở đây xin chỉ nói đến các loại thuốc được sử dụng từ đu đủ đực để mọi người cùng tham khảo.


1. Trị ho cho trẻ em

Lấy hoa đu đủ đực (loại vừa mới chớm nở) từ 10 – 20g. Sau trộn với đường kính hoặc mật ong càng tốt. Đem hấp cơm trong 15 đến 20 phút là được. Lấy ra dùng thìa nghiền nát nhuyễn, rồi chia ra 2 – 3 lần cho trẻ uống trong ngày. Chiêu cùng với nước sôi để nguội. Vài ba ngày sẽ khỏi.

2. Ho kèm theo mất tiếng (viêm họng thanh quản)

Hoa đu đủ đực 15g, lá hẹ 15g, hạt chanh 10g. Để tươi rồi nghiền nát cả 3 thứ, sau đó hòa với 20ml nước lọc, cho thêm chút mật ong hoặc đường kính cho uống 2 – 3 lần trong ngày. Cần uống như vậy 2 – 3 ngày liền.

3. Ho nhiều do viêm họng

Hoa đu đủ đực 15g, xạ can 10g, mạch môn đông (củ) 10g, húng chanh (tần dày lá) 10g. Cho tất cả các vị trên (đã rửa sạch) cùng chút muối ăn vào bát và đem hấp cơm chừng 15 – 20 phút. Lấy ra nghiền nát, rồi chia ra cho ngậm trong 2 – 3 lần trong ngày, cần nuốt từ từ cho thuốc tác dụng trực tiếp vào nơi họng viêm.

4. Trị ho gà

Hoa đu đủ đực 50g, dây tơ hồng 50g, rau má 35g, lá xương sông 20g, lá hẹ 15g. Tất cả sắc với 1.500ml nước, còn lại 500ml, thêm 75g đường kính, ngày uống 2 lần, mỗi lần uống 100ml.

5. Chữa đái rắt, đái buốt, đau niệu đạo, nước tiểu ít và đỏ

Hoa đu đủ đực (hoặc quả của cây đu đủ đực lưỡng tính) 40g, lá bạc thau 60g, đậu đen 40g, phác tiêu 4g. Sắc lấy nước đặc, chia 3 lần uống vào lúc đói bụng.

6. Chữa tưa lưỡi ở trẻ


Lấy quả đu đủ đực thái nhỏ phơi khô, tán bột mịn, cùng với gốc cây mây (lấy chỗ mọc khô ráo), rồi đốt thành than, tán bột. Trộn hai loại bột này với nhau với tỷ lệ 3 phần bột quả đu đủ đực, 1 phần bột gốc mây. Sau đó lấy tăm bông chấm thuốc bôi hàng ngày đánh trên lưỡi trẻ bị tưa.

7. Chữa rắn cắn

Rễ đu đủ đực 20g, lá xuyên tiêu 10g, hồng bì 5 hạt, tất cả giã nhỏ cho nước vào trộn đều gạn nước cho người bị rắn cắn uống. (Lưu ý chỉ sử dụng kết hợp hay đơn độc khi điều kiện của y tế không có, vì có những loại rắn cực độc có thể tử vong ngay chưa kịp đưa đến cấp cứu, trị liệu).

Thứ Tư, 16 tháng 8, 2017

Cách trồng cây đu đủ

Cách trồng cây đu đủ

Đây là một cây trái rất quen thuộc được trồng ở khắp mọi nơi, từ một vài cây quanh nhà, bờ đê đến xen canh cây lâu năm, hoặc có nơi trồng thành vườn chuyên.


Cây đu đủ tên La -tinh là Carica papaya L., nguồn gốc Trung Mỹ đã được nhà báo Oviedo người Tây Ban Nha mô tả năm 1526 ở bờ biển các nước Panama và Colombia. Rất có thể du nhập vào Việt Nam qua ngả Philiippines.

1. Đặc tính thực vật:


Đu đủ là một cây song tử diệp, nhưng thân không cứng và cũng không đâm nhánh, trừ phi đã bắt đầu già cỗi. Cây cao chừng 3-7m và ngọn có nhiều lá, cọng dài 60-70cm, mềm và rỗng ruột, gồm 7 phiến, rộng đến cả thước rưỡi. Thân đầy sẹo lá.

Đu đủ thường là cây đồng chu, nhưng đu đủ có thể xếp thành 3 loại trên phương diện giới tính: cây đực, cây lưỡng tính và cây cái. Vài cây đu đủ cũng có thể trổ cả ba loại hoa nói trên. Ngoài ra cũng có cây ra hoa không hẳn hoàn toàn đực, cái hay lưỡng tính mà lại pha lẫn nhiều ít đặc tính của ba loại hoa. Khuynh hướng thay đổi giới tính phần lớn do thời tiết gây ra  như khô hạn và thay đổi nhiệt độ. Nhiệt độ càng cao thì khuynh hướng sản xuất hoa đực càng lớn. Hoa đực ở cây đực màu hơi xanh lục, mọc từ nách lá trên những chùm dài, nhiều nhánh. Hoa cái ở cây cái lớn hơn, cuống rất ngắn, mọc rải rác hay hai ba hoa ở phần trên thân, sản xuất trái tròn, bầu dục hay hình trái lê, vỏ xanh hay vàng khi trái chín. Cây đực  không cho trái. Trái của hoa lưỡng tính được ưa chuộng hơn ở thị trường. Vì vậy, cần lựa chọn cây cho trái với loại hoa cái hay hoa lưỡng tính thích hợp. Nhà vườn không thể nào lựa chọn được, nếu chỉ gieo hột lấy từ trái thụ phấn tự do. Trái lại, nhà vườn có thể lựa chọn một cách khá chính xác cây nào là cái, cây nào là lưỡng tính bằng cách bao giấy hoa cái hay hoa lưỡng tính chưa nở, rồi tự lựa phấn để rắc tay (thụ phấn chéo) vào vòi noãn khi hoa cái hay hoa lưỡng tính nở. Những nghiên cứu về thụ phấn trên đu đủ cho biết rằng:

a- Thụ phấn hoa cái bằng phấn hoa đực thì một nửa số cây con sẽ là cây đực, một nửa sẽ là cây cái.

b- Dùng phấn hoa lưỡng tính để thụ phấn hoa cái thì một nửa số cây sẽ là cây cái, một nửa sẽ là cây lưỡng tính.

c- Hoa lưỡng tính tự thụ tinh hay thụ phấn chéo với phấn hoa lưỡng tính khác thì cho tỉ lệ một cây cái hai cây lưỡng tính.

d- Dùng phấn cây đực để thụ phấn hoa lưỡng tính thì một phần ba số cây sẽ là cây cái, một phần ba sẽ là cây đực, một phần ba sẽ là cây lưỡng tính.

Chiếu theo nghiên cứu này, phương cách b) và c) sẽ cho những cây con ra trái nhiều nhất. Nếu không làm thụ phấn bằng tay, nhà vườn cũng có thể để lại vài cây đực trong vườn thì đủ bảo đảm các hoa khác đều thụ phấn và ra trái.

2. Yêu cầu về khí hậu đất đai


Cây đu đủ rất ưa nắng và trời ấm áp. Nếu khi trái chín mà nhiệt độ khí trời lạnh, không đủ nóng thì trái sẽ lạt nhách. Đu đủ cũng cần nhiều mưa và mưa phân phối đồng đều. Nếu không thì cần tưới nước, đu đủ mới cho nhiều trái. Thiếu nước mùa nắng, hoa sẽ ít đậu trái và trái non sẽ rụng nhiều. Tuy nhiên, nếu quá nhiều nước, nhất là nước đọng thì cây mọc hay phục hồi chậm, yếu. Lá, rễ bị hư hại nhiều. Cây đu đủ cũng không chịu đựng được gió to.

Đu đủ có hệ thống rễ đuôi chuột và như vậy đòi hỏi đất nhẹ, nhiều mùn, thoáng khí. Đất có độ pH từ 6 đến 6,5 là thích hợp nhất. Tuy đu đủ được trồng bất cứ mọi nơi, nhưng muốn năng suất cao thì phải bón phân. Mỗi năm bón cho mỗi cây độ chừng 50kg phân rác mục, cây sẽ cho nhiều trái. Bón phân đạm cho đu đủ, lá sẽ xanh tươi. Bón phân lân, đu đủ sẽ mọc mạnh và kháng bệnh tật hơn. Bón phân kali, trái đu đủ sẽ giòn và ngọt hơn. Ở đất nghèo nên bón cho mỗi cây con, khi mới đặt vào lỗ, hay sau đó ít lâu khoảng 200 – 250g phân hỗn hợp 10-10-5 (trong đó 30% đạm nguồn gốc hữu cơ). Số lượng này bón hai tuần một lần và tăng thêm dần dần đến 500-600g, khi cây được 7-8 tháng. Sau đó chỉ bón hàng tháng là đủ bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng cho năng suất cao, trừ phi mưa to quá làm trôi phân đi thì phải bón lại phân ngay.

3. Nhân giống và trồng trọt

Tháp hay giâm cành đu đủ đều được cả, nhưng tốn công vô ích. Trái lại trồng bằng hột thì dễ dàng tiện lợi. Trái đu đủ đã nhiều hột, mà hột lại tồn trữ dễ dàng. Hột vẫn còn nẩy mầm sau ba năm nếu đựơc tồn trữ nơi khô ráo và mát mẻ. Gieo hột càng tươi càng tốt và nên chọn hột ở trái chín.Hột phải rửa sạch chất nhờn bao quanh trước khi gieo trên liếp ươm, ngoài nắng, thành hàng song song cách nhau 20cm. Hột nảy mầm đều đặn sau 10-15 ngày. Cũng có thể gieo hai ba hột trong bầu nhỏ để trừ hao khi hột ít nảy mầm, sâu bệnh phá hại hay để tỉa bớt cây đực.

Cây con được một tháng ở liếp ươm thì đem cấy ở vườn ươm ở khoảng cách 0,50 x 0,50m hay tốt hơn nữa cấy cây trong bao nhựa dẻo. Khi cây con cao 50cm thì đem trồng. Hố trồng có kích thước 0,60 x 0,60 x 0,60m là vừa.

Cây đu đủ lấy trái trồng ở khoảng cách 3,50 x 3,50m. Nếu trồng để lấy nhựa, lấy mủ thì ở khoảng cách gần hơn 2 x 2m hay 2 x 3m. Trồng hàng đôi 2 x 2m và cứ hai hàng lại chừa một khoảng cách là 4m thì có thể trồng xen kẽ cây khác ở giữa các hàng đu đủ.

Khoảng 5 – 6 tháng sau khi đặt vào hố, cây đu đủ bắt đầu trổ hoa. Chỉ nên giữ lại các cây cái hay cây lưỡng tính mọc mạnh, tỉa bỏ các cây khác. 9 – 10 tháng sau khi trồng là đu đủ đã có trái và cây ra trái suốt năm. Đu đủ có thể sống 20 năm. Nhưng mức sản xuất chỉ đáng kể trong 10 năm đầu. Mức năng suất khá là chừng 15 tấn/ha/năm thì có thể thương mại được. Trồng để lấy mủ thì chỉ khai thác được trong vòng ba bốn năm mà thôi.

4. Các giống đu đủ

- Ở miền Nam, trước tiên nên kể ra giống đu đủ ruột đỏ, dày, giòn, thơm ngon, nhưng ít ngọt, trồng nhiều ở đất giồng đồng bằng sông Cửu Long, giáp biên giới Campuchia. Đu đủ ruột đỏ gồm nhiều hoa lưỡng tính đậu trái và như vậy cây nào cũng có trái. Trái hình bầu dục, đầu nhọn, màu xanh, hơi vàng khi trái chín. Một giống đu đủ khác là đu đủ ruột vàng cũng tìm thấy ở đất giồng. Đu đủ này có nhiều cây đực. Trái nhiều , tròn nhưng ngắn  và có màu vàng khi trái chín. Hột cũng nhiều hơn, ruột mỏng và mềm nhũn, ăn hơi hôi.

- Một giống nữa ở miền Nam có ruột vàng hay vàng cam, trái hình bầu dục và ngọt nhưng ít thơm hơn đu đủ đỏ.

- Giống Solo nguồn gốc xứ Barbade ở Nam Mỹ nhưng được tuyển chọn ở Hawaii lâu ngày là giống duy nhất được thương mại hóa ở thị trường quốc tế. Các trái Solo đều phát sinh từ hoa lưỡng tính tự thụ phấn lấy, cỡ trái đều đặn, to vừa phải, hình quả lê tây và mùi vị được ưa chuộng. Đu đủ Solo đã được phổ biến nhiều ở Phi Châu. Trước đây có đem trồng ở Việt Nam. Ở Việt Nam, Solo có ruột màu cam. Hiện ở Hawaii còn có giống Solo cải thiện gọi là giống “Solo trời mọc” (Sunrise Solo), có ruột màu hồng lợt, nên du nhập trồng thử ở Việt Nam.

Vì có một di sản gen phức tạp, nên khó mà giữ cho đồng nhất một giống đu đủ có đầy đủ các đặc tính của giống nguyên sinh. Nếu để đu đủ thụ phấn tự do sẽ không lựa chọn được các cây đu đủ có loại hoa và loại trái nguyên dạng.

Áp dụng phương cách kiểm soát thụ phấn bằng tay như đã trình bày thì có thể duy trì lâu năm giống đu đủ gần đúng nguồn gốc được.

5. Công dụng khác của đu đủ

Trái đu đủ non xắt nhỏ đã thấy bán nhiều như giá đậu nành hay giá đậu xanh ở các siêu thị Trung Hoa hay ViệtNam, ở các tiểu bang Mỹ có nhiều người Á Đông. Rễ đu đủ cũng ăn được như cọng rau đắng. Sắc hoa đu đủ uống làm thuốc hạ nhiệt và bớt đau ngực. Phơi khô hoa đu đủ và tán ra bột có thể pha thành thuốc trị sán lãi. Lá chứa chất alcaloid gọi là carpaine thay thế được chất digitalin trị bệnh tim. Cuốn thịt quá cứng với lá đu đủ làm thịt mềm đi nhiều. Chích lá hay trái thì mủ chảy ra và đông đặc nhanh chóng. Mủ này chứa chất enzym mạnh là papain có đặc tính giống như pepsin làm tan các chất “thịt” albuminoid. Ở Sri Lanka, người ta khai thác papain bằng cách rạch dọc trái, ban sáng tinh sương với mảnh chai hay thẻ tre nhọn. Tránh cho papain đụng nhằm tay hay kim khí, ngoại trừ nhôm (aluminium), mỗi ngày mỗi trái cho 10g mủ chứa 12 – 15% chất khô. Một hecta đu đủ sản xuất khá cho chừng 200 kg papain mỗi năm. Cần 2 kg mủ tươi để cho 0,5 kg papain khô. Mủ tươi phải đem sấy khô ngay hoặc thêm một chút formol vào mủ tươi thì không bị thối hay bị phân hoá.

Đu đủ núi, trái cây vùng Nam Mỹ

Đu đủ núi, trái cây vùng Nam Mỹ

Trái Đu đủ núi không có hạt, nhân giống bằng cách giâm cành. Cây thường nhảy con ra quanh gốc, tách những nhánh con này ra, cắt thành từng đoạn dài 10 -20cm cắm thẳng những đoạn này xuống đất rồi tưới ẩm


Đu đủ núi (Babaco), còn gọi là trái Champagne ( Champagne fruit) vì mùi vị của nó giống rượu Champagne- chua chua, ngọt ngọt và thơm thơm! Cây có tên khoa học là Carica pentagona- vì trái có 5 cạnh. Đây là loài đu đủ được lai tạo giữa 2 loài đu đủ núi mọc hoang dại trên các vùng đồi núi cao của các xứ Peru, Colombia và Chile.

Đu đủ núi thích hợp nơi có độ cao từ 1.500m -> 3.000m với khí hậu bán nhiệt đới như ở Đà Lạt, các tỉnh phía Bắc và các vùng cao ở Việt Nam như Sapa.Hiện nay ngoài Nam Mỹ ra, Babaco còn được trồng rất nhiều ở California, Italy, miền Nam nước Anh, vùng đảo Channal Islands giữa nước Anh và Pháp, Úc, nhiều nhất là New Zealand.

Đu đủ núi cao đến 10m, nhìn giống cây Đu đủ, nhưng lá nhỏ hơn và có nhiều cây con nhảy ra quanh gốc như cây chuối. Babaco thích khí hậu bán nhiệt đới, nóng đến 36oC, thích nắng ấm.Cây có thể chịu lạnh đến 2oC, lá sẽ rụng bớt đi, nhưng sẽ hồi phục nhanh chóng khi trời ấm áp trở lại.

Cây Babaco sống đến 8 năm, chỉ ra toàn hoa cái, mỗi năm ra từ 40 đến 100 trái.  Tuy cây mang rất nhiều quả, nhưng cuống trái rất dài nên trái vẫn có đủ chỗ để phát triển chứ không bị chen lấn như cây đu đủ thường. Trái chín màu vàng tươi, dài 30cm, ngang 12cm, nặng từ 1-2kg. Trái  không có hạt và có thể ăn luôn cả vỏ. Trái chín có mùi thơm rất đặc biệt, như là mùi Dâu tây Đà Lạt quyện với mùi trái thơm, trái Kiwi và trái Đu đủ. Thịt bên trong màu trắng ăn hơi cứng chớ không mềm như đu đủ thường, rất nhiều nước, vị chua và ngọt ngọt như trái me chín.

Cây thích mọc ở đất cát, đất thịt thoát nước, đất nhiều dưỡng chất vì rễ đu đủ núi cần nhiều chất bổ để nuôi hằng đống trái trên cây. Đu đủ núi trồng trên đất úng nước rễ hay bị thúi. Tuy cây thích đất thoát nước, nhưng nên rải một lớp  rơm khô quanh gốc cây để giữ ẩm vì cây không thích đất khô.

Cách nhân giống đu đủ núi

Trái Đu đủ núi không có hạt, nhân giống bằng cách giâm cành. Cây thường nhảy con ra quanh gốc, tách những nhánh con này ra, cắt thành từng đoạn dài 10 -20cm ( đoạn có lá xanh ở trên hoặc đoạn không có lá đều dùng được). Cắm thẳng những đoạn này xuống đất đến 2/3 chiều cao, tưới nước. Ta có thể cắm vào đất cát, Trước khi giâm nên để những đoạn giâm này trong mát khoảng 1 tuần cho nhựa khô đi, sau đó mới cắm xuống đất để đoạn giâm không bị thúi , có thể dùng thuốc kích thích để đoạn giâm mau ra rễ.

Trái đu đủ núi có chứa nhiều sinh tố C. Trái đu đủ núi dùng để ăn tươi, cắt lát mỏng hoặc từng khúc vuông, rắc thêm đường và ăn lạnh, hoặc xay sinh tố. Thịt trái đu đủ núi chín hơi cứng và dai dai, có thể dùng để nấu ăn, cắt lát mỏng trộn gỏi, sấy khô hoặc làm mứt.

Trồng đu đủ áp dụng quy trình phun chế phẩm EM

Trồng đu đủ áp dụng quy trình phun chế phẩm EM

Sở KH-CN Vĩnh Phúc và Khoa Nông học, Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội vừa nghiên cứu thành công và khuyến cáo nông dân trồng đu đủ áp dụng quy trình phun chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EM nhằm làm tăng năng suất, chất lượng quả.


Phun chế phẩm EM cho cây đu đủ định kỳ 2 tuần/lần ngay sau trồng 1 tháng cho tới trước khi thu hoạch quả 1 tháng sẽ làm tăng năng suất, chất lượng quả, đặc biệt làm tăng thêm mức lãi

Thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Liên, Chủ nhiệm đề tài cho biết, đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc phun tới sinh trưởng, năng suất và chất lượng đu đủ” được thực hiện trên vườn thực nghiệm của Cty TNHH Phát triển nông nghiệp CNC Sơn Thái tại xã Vân Hòa, Ba Vì, Hà Nội (2009-2010) và Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KHCN Vĩnh Phúc (2011-2012) trên 3 giống đu đủ: Nông Hữu1, Hồng Phi 768 (nhập nội từ Đài Loan) và giống Lòng Vàng của địa phương.

Chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu (Effective Microorganis) EM thứ cấp được pha loãng với các nồng độ khác nhau (1/500, 1/1.000 và 1/1.500), phun lên cây định kỳ 2 tuần/lần, bắt đầu từ giai đoạn sau trồng 1 tháng, khi cây đã ổn định.

Kết quả theo dõi tại các điểm thí nghiệm cho thấy:


- Về sinh trưởng

Các cây được xử lý EM làm tăng khả năng quang hợp, cây sinh trưởng nhanh hơn, phát triển khỏe hơn, góp phần làm tăng năng suất cao hơn so với đối chứng không phun EM.

- Về năng suất thu hoạch


Ở nồng độ phun 1/1.000, 2 giống Nông Hữu 1 và Hồng Phi 768 đều tăng số quả trên cây, tăng khối lượng quả bình quân và năng suất thực thu cao nhất so với đối chứng không phun (giống Nông Hữu 1 thực thu 73/60,84 tấn/ha, tăng 12,16 tấn/ha; giống Hồng Phi 768 thực thu 67,62/59,38 tấn/ha, tăng 3,34 tấn; giống Lòng Vàng thực thu 64,87/49,22 tấn/ha, tăng 15,65 tấn ).

- Về chất lượng quả


Lượng đường tổng số và hàm lượng chất khô trên quả của 3 giống đu đủ nghiên cứu ở tất cả các nồng độ EM đều cho hàm lượng cao hơn so với đối chứng không phun, màu trái cũng đẹp hơn, ăn ngọt, ngon hơn đối chứng.

- Về hiệu quả kinh tế


Xử lý EM trên cả 3 giống đu đủ thí nghiệm làm lãi ròng tăng thêm. Mức lãi ròng tăng thêm cao nhất ở nồng độ 1/500 đối với giống Lòng Vàng (58,46 triệu đồng/ha), tiếp đến là giống Nông Hữu (44,82 triệu đồng/ha) và cuối cùng là giống Hồng Phi 768 (29,14 triệu đồng/ha) ở nồng độ phun 1/1.000.

- Về khả năng chống chịu bệnh

 Ở tất cả các nồng độ xử lý EM trên cả 3 giống thí nghiệm đều có tác dụng làm giảm tỷ lệ nhiễm các bệnh thán thư, phấn trắng, khảm lá virus và đốm hình nhẫn.

Theo khuyến cáo của nhóm đề tài, để đạt được hiệu quả cao khi áp dụng quy trình xử lý chế phẩm EM trong SX đu đủ ở quy mô lớn, ngoài việc tuân thủ quy trình đã ban hành, bà con cần chú ý thêm một số điểm sau đây

- Trồng đúng khoảng cách

Cây cách cây 2,5 m, hàng cách hàng 2,5 m để có mật độ 1.333 cây/ha.

- Thời gian xử lý EM thích hợp

Phun định kỳ 2 tuần/lần, ngay sau trồng 1 tháng, khi cây đã ổn định cho đến trước khi thu hoạch 1 tháng, tập trung vào các thời kỳ cây đang sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và nuôi quả lớn. Ngừng phun chế phẩm EM trước khi thu quả 1 tháng.

- Với các giống đu đủ thuần bản địa, nên phun chế phẩm EM với nồng độ pha 1/500, với các giống đu đủ lai F1 nhập nội nên pha nồng độ 1/1.000.

- Phun chế phẩm EM vào lúc sáng sớm đã khô sương hoặc chiều mát, tránh lúc nắng gắt, trời mưa.

Công dụng khác của cây đu đủ

Công dụng khác của cây đu đủ

Hoa đu đủ đực là một vị thuốc được dùng phổ biến để chữa ho. Khi dùng, hái hoa mới nở ngay tại nay, thường dùng tươi.


I. Tác dụng tuyệt vời của cây đu đủ


1. Thành phần dinh dưỡng:

Đặc biệt trong đu đủ lượng beta caroten nhiều hơn trong các rau quả khác. Beta caroten là một tiền chất của vitamin A, vào cơ thể sẽ được chuyển hoá thành vitamin A. Đây là một loại vi chất dinh dưỡng có vai trò là chống oxy hoá mạnh giúp chống lại một số căn bệnh ung thư, chống khô mắt, khô da và có tác dụng nhuận tràng. Trong 100g đu đủ chín chứa 2.100 mcg beta caroten.

Tuy nhiên nhu cầu beta caroten cũng cần vừa phải, nếu ăn quá nhiều, liên tục sẽ dẫn đến thừa và gây vàng da. Hiện tượng vàng da này sẽ mất nếu giảm lượng beta caroten ăn vào.

Ngoài ra trong đu đủ còn chứa nhiều vitamin. Đu đủ có thể cung cấp cho cơ thể các loại vitamin thiết yếu như vitamin A và vitamin C, trong 100g đu đủ có 74-80 mg vitamin C. Ở Ấn Độ người ta đã chiết xuất vitamin A từ quả đu đủ để sản xuất ra thuốc chống lại bệnh quáng gà ở trẻ em. Đu đủ còn có các vitamin B1, B2, các acid gây men và khoáng chất như kali, canxi, magiê, sắt và kẽm. Ăn đu đủ thường xuyên có tác dụng bổ máu, giúp hồi phục gan ở người bị sốt rét. Do có nhiều sinh tố C và caroten nên đu đủ có tác dụng chống oxy hoá, tăng sức đề kháng cho cơ thể.

2. Dưỡng sinh với đu đủ:

Đu đủ chín có quanh năm và mùa nào dùng cũng tốt cho sức khoẻ. Vào mùa hè, ăn đu đủ có tác dụng thanh tâm, nhuận phế, giải nhiệt, giải độc. Vào thu đông, đu đủ giúp nhuận táo, ôn bổ tỳ vị, dưỡng can, nhuận phế, chỉ khái, hoá đàm.

Đu đủ có tác dụng tốt cho những người chóng già, da mai mái, thể trạng không sung mãn, có các bệnh mạn tính. Dùng đu đủ chín 200g, chuối xiêm 300g, 3 thứ trên xay trong nước dừa non, uống hằng ngày. Đây là phép dưỡng sinh chống lão suy của người xưa.

Đu đủ chín coi là một món ăn bồi bổ và giúp sự tiêu hoá các chất thịt. Còn trong nấu ăn khi hầm các loại thịt, xương cứng người ta thường cho quả đu đủ xanh vào làm cho các thức ăn mau nhừ, nhuyễn, tiêu hoá tốt.

3. Làm đẹp với đu đủ:

Đu đủ rất giàu enzyme tự nhiên, dễ dàng thấm sâu vào làn da giúp đẹp da, mau lành các tổn thương trên da. Đu đủ cũng có tác dụng tẩy tế bào da chết, hồi phục sự tươi trẻ cho làn da.

Hỗn hợp massage da mặt từ đu đủ: Trộn đu đủ xay với một thìa dầu aloe vera và massage khắp cơ thể. Nên thực hiện đều đặn mỗi tháng 1 lần để tái tạo làn da.

Mặt nạ dành cho mọi loại da: Xay nhuyễn 1 quả đu đủ, 1 muỗng cà phê mật ong và chút nước cốt chanh. Đắp lên mặt 20 phút, rồi rửa sạch.

Với da mụn: dùng đu đủ chín bỏ vỏ và hạt, nghiền mịn làm mặt nạ lột da mặt, giúp chữa khỏi mụn trứng cá.

Quả đu đủ xanh nghiền nát với nước dùng bôi mặt hoặc tay để chữa chai chân và bệnh eczema.
Chú ý: Đặc tính tẩy tế bào chết ở đu đủ rất mạnh nên tránh dùng đu đủ trên các vùng nhạy cảm như vùng mắt, da non...

4. Chữa bệnh với đu đủ:

Trong đu đủ có chứa rất nhiều loại enzim, ví như enzim papain rất tốt cho tiêu hoá, giúp tiêu hoá các thức ăn giàu protein một cách dễ dàng hơn. Đối với những bệnh nhân mắc bệnh celiac (một loại bệnh mà không thể tiêu hoá protein trong lúa mì, hay gliandin) thì có thể ăn đu đủ xanh để chữa căn bệnh này.

Ở Ấn Độ, Srilanka và Malaysia, người ta dùng lá, hạt và quả đu đủ xanh để phá thai. Các công trình nghiên cứu cho thấy tác dụng phá thai có được là do chất nhựa papain, có nhiều trong quả xanh, lá, hạt đu đủ. Chất này khi vào cơ thể sẽ phá huỷ progesterol là một trợ thai tố. Quả đu đủ đã chín ít nhựa thì không còn tác dụng này nữa.

Ở Mỹ người ta đã chứng minh rằng quả đu đủ có thể chế biến thuốc để chữa bệnh lệch khớp xương hay có thể chế ra thuốc tiêm, có công dụng làm giảm đau do các dây thần kinh gây nên.

5. Một số chú ý:

- Không nên ăn hạt đu đủ bởi trong hạt đu đủ có chứa chất độc gọi là carpine. Với một số lượng lớn carpine sẽ làm bạn bị rối loạn mạch đập và làm suy nhược hệ thống thần kinh.

- Không ăn nhiều đu đủ chín hàng ngày trong thời gian dài vì sẽ khiến phần da lòng bàn tay, bàn chân bị vàng. Hiện tượng này hết sau một thời gian ngừng ăn.

- Loại quả này giàu đường nên cũng không dùng nhiều cho người đường huyết cao.

- Đu đủ chín có tính nhuận tràng, nên kiêng với những trường hợp đang đi ngoài hay đang uống các thuốc nhuận tẩy của Đông Tây y.

- Ăn đu đủ nên hạn chế dùng lạnh vì bản thân đu đủ có tính hàn.

II. Công dụng của đu đủ

1. Tác dụng bảo vệ tim mạch

Vì đu đủ có chứa nhiều chất chống oxy hóa như vitamin C, E và A, các dưỡng chất này có tác dụng ngăn ngừa quá trình oxy hóa cholesterol, hạn chế các mảng tiểu cầu do quá trình oxy hóa cholesterol tạo ra bám vào thành mạch máu, gây tắc nghẽn mạch và làm máu không lưu thông được. Vitamin E và C của đu đủ kết hợp tạo ra hợp chất có thể ức chế quá trình oxy hóa.

Đu đủ còn là loại quả giàu chất xơ nên có tác dụng làm giảm mỡ máu (cholessterol), riêng acid folic có trong đu đủ có tác dụng làm chuyển hóa homocysteine thành acid amino cần thiết như cysteine hoặc methionine. Nếu không được chuyển hóa thì homocysteine có thể gây phá hủy trực tiếp các mạch máu, thậm chí nếu cao, có thể gây bệnh đau tim hoặc đột quỵ.

2. Tăng cường sức khỏe cho hệ tiêu hóa

Đu đủ chín chứa khoảng 70% nước, 13% đường, không có tinh bột, có nhiều carotenoit, axit hữu cơ, vitamin A, B, C, Protit, 0,9% chất béo, xenlulôzơ (0,5%), canxi, photpho, magiê, sắt, thiamin, riboflavin...
Chất xơ có trong đu đủ có thể "thu gom" các độc tố gây bệnh trong kết tràng và bảo vệ tế bào khỏe mạnh trước nguy cơ bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, trong đu đủ còn có chứa các dưỡng chất như: có tác dụng giảm thiểu bệnh ung thư kết tràng. Vì vậy, tăng cường ăn đu đủ cũng là biện pháp phòng ngừa ung thư kết tràng rất tốt cho mọi người.

3. Thuốc chống viêm nhiễm

Trong đu đủ có chứa 2 hợp chất có tác dụng làm giảm quá trình viêm nhiễm và làm lành các chấn thương. Ngoài ra, đu đủ còn có chứa nhiều vitamin C, E và betacarotene nên có tác dụng phòng ngừa viêm nhiễm ở mức cao nhất, bởi vậy những người bị bệnh hen suyễn, thấp khớp thường được bác sĩ kê đơn cho dùng các dưỡng chất nói trên.

4.Tăng cường sức đề kháng
Vitamin C và A do đu đủ cung cấp cho cơ thể sẽ giúp hệ miễn dịch làm việc tốt hơn, nhất là nguy cơ phòng chống các loại bệnh thường xuất hiện khi giao mùa như: cảm, cúm, viêm tai...

5. Giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp
Vitamin C có trong thực phẩm, đặc biệt là trong đu đủ lại có tác dụng bảo vệ cơ thể trước nguy cơ mắc bệnh polyarthiritis, một dạng bệnh viêm khớp dạng thấp.

6. Tăng cường chức năng phổi

Những người nghiện hút thuốc lá hoặc phải sống trong môi trường có khói thuốc (hút thuốc thụ động) thì nên bổ sung thực phẩm giàu vitamin A, trong đó có đu đủ.

III. Sự kỳ diệu từ lá đu đủ

Chất chiết xuất từ lá đu đủ cũng như trà được làm từ lá đu đủ có thể giúp chống khối u. đu đủ có tác dụng chống các khối u cổ tử cung, vú, gan, phổi và tuyến tụy. Chất chiết xuất từ lá đu đủ giúp kích thích sản sinh các phân tử giúp điều hòa hệ miễn dịch.Ngoài ra, chiết xuất từ lá đu đủ không gây tác dụng phụ cho các tế bào bình thường.

IV. Hoa đu đủ đực có thể chữa ho

Hoa đu đủ đực là một vị thuốc được dùng phổ biến để chữa ho. Khi dùng, hái hoa mới nở ngay tại nay, thường dùng tươi.

1. Chữa ho viêm họng:

- Hoa đu đủ đực 15 g, xạ can 10 gr, củ mạch môn 10 g, lá húng chanh 10 g.
- Tất cả cho vào một bát nhỏ, thêm ít muối, hấp cơm rồi nghiền nát.
- Ngày ngậm 2 - 3 lần, nuốt nước dần dần, dùng 3 - 5 ngày.

2. Chữa ho kèm theo mất tiếng:

Hoa đu đủ đực 15 g, lá hẹ 15 g, hạt chanh 10 g, nước 20 ml.

Các dược liệu để tươi, nghiền nát với nước. Thêm ít mật ong hoặc đường kính, uống làm ba lần trong ngày.
Dùng 2 - 3 ngày.

3. Ho gà

- Hoa đu đủ đực 20 g (sao vàng)
- Vỏ quýt lâu năm 20 g
- Vỏ rễ dâu 20 g (tẩm mật sao lên)
- Củ bách bộ 12 g
- Phèn phi 12 g.
Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 3 lần.
Trẻ em 1 - 5 tuổi mỗi lần uống 1 - 4 g; trẻ 6 - 10 tuổi mỗi lần uống 5 - 8 g.

Thứ Hai, 14 tháng 8, 2017

Đặc điểm cây đu đủ

Đặc điểm cây đu đủ

Cây đu đủ, tên La-tinh là Carica papaya, có nguồn gốc trung Mỹ. Đây là một cây trái rất quen thuộc được trồng ở khắp mọi nơi, từ một vài cây quanh nhà, bờ đê đến xen canh cây lâu năm, hoặc có nơi trồng nguyên vườn.


1. Đặc tính thực vật:
Đu đủ là một cây song tử diệp, nhưng thân không cứng và cũng không đâm nhánh, trừ phi đã bắt đầu già cỗi. Cây cao chừng 3-7m và ngọn có nhiều lá, cọng dài 60-70cm, mềm và rỗng ruột, gồm 7 phiến, rộng đến cả thước rưỡi. Thân đầy sẹo lá.

Đu đủ thường là cây đồng chu, nhưng đu đủ có thể xếp thành 3 loại trên phương diện giới tính: cây đực, cây lưỡng tính và cây cái. Vài cây đu đủ cũng có thể trổ cả ba loại hoa nói trên. Ngoài ra cũng có cây ra hoa không hẳn hoàn toàn đực, cái hay lưỡng tính mà lại pha lẫn nhiều ít đặc tính của ba loại hoa.

Khuynh hướng thay đổi giới tính phần lớn do thời tiết gây ra tỉ như khô hạn và thay đổi nhiệt độ. Nhiệt độ càng cao thì khuynh hướng sản xuất hoa đực càng lớn. Hoa đực ở cây đực màu hơi xanh lục, mọc từ nách lá trên những chùm dài, nhiều nhánh. Hoa cái ở cây cái lớn hơn, cuống rất ngắn, mọc rải rác hay hai ba hoa ở phần trên thân, sản xuất trái tròn, bầu dục hay hình trái lê, vỏ xanh hay vàng khi trái chín.

Cây đực lẽ dĩ nhiên là không có trái. Trái của hoa lưỡng tính được ưa chuộng hơn ở thị trường. Vì vậy, cần lựa chọn cây cho trái với loại hoa cái hay hoa lưỡng tính thích hợp. Nhà vườn không thể nào lựa chọn được, nếu chỉ gieo hột lấy từ trái thụ phấn tự do. Trái lại, nhà vườn có thể lựa chọn một cách khá chính xác cây nào là cái, cây nào là lưỡng tính bằng cách bao giấy hoa cái hay hoa lưỡng tính chưa nở, rồi tự lựa phấn để rắc tay (thụ phấn chéo) vào vòi noãn khi hoa cái hay hoa lưỡng tính nở. Những nghiên cứu về thụ phấn trên đu đủ cho biết rằng:

- Thụ phấn hoa cái bằng phấn hoa đực thì một nửa số cây con sẽ là cây đực, một nửa sẽ là cây cái.

- Dùng phấn hoa lưỡng tính để thụ phấn hoa cái thì một nửa số cây sẽ là cây cái, một nửa sẽ là cây lưỡng tính.
- Hoa lưỡng tính tự thụ tinh hay thụ phấn chéo với phấn hoa lưỡng tính khác thì cho tỉ lệ một cây cái hai cây lưỡng tính.

- Dùng phấn cây đực để thụ phấn hoa lưỡng tính thì một phần ba số cây sẽ là cây cái, một phần ba sẽ là cây đực, một phần ba sẽ là cây lưỡng tính.

Chiếu theo nghiên cứu này, phương cách 2) và 3) sẽ cho những cây con ra trái nhiều nhất. Nếu không làm thụ phấn bằng tay, nhà vườn cũng có thể để lại vài cây đực trong vườn thì đủ bảo đảm các hoa khác đều thụ phấn và ra trái.

Đu đủ là loại quả bổ dưỡng, nó chứa tới 0,6% chất đạm, 0,1 chất béo, 8,3-8,5% chất đường, 20-60% vitamine B,C. Đặt biệt chứa tới 2.000-35.000 đơn vị vitamine A, cao gấp 10 lấn chuối, dứa, gấp 5 lần quả bơ, ổi và gấp đôi xoài. Trong quả đu đủ có rất nhiều men Papain này làm mềm xương thịt.

2. Khí hậu:

Cây đu đủ phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ấm và ẩm, lượng mưa 100mm/tháng, không bị che bóng mát. Đu đủ rất nhạy cảm với nhiệt độ và ẩm độ, khi nhiệt độ cao 30-35OC hoặc ẩm độ cao, lượng mưa nhiều 250-300mm/tháng, cây sẽ sinh trưởng kém, ít đậu trái. Nhiệt độ dưới 0OC làm cây chết, hư hại nặng nề. Nếu khi trái chín mà khí trời lạnh, không đủ nóng thì trái sẽ không ngọt. Đu đủ cũng cần nhiều mưa và mưa phân phối đồng đều. Nếu không mưa thì cần tưới nước, đu đủ mới cho nhiều trái. Thiếu nước mùa nắng, hoa sẽ ít đậu trái và trái non sẽ rụng nhiều. Tuy nhiên, nếu quá nhiều nước thì rễ, lá bị hư hại nhiều, cây phát triển chậm, yếu. Cây đu đủ không chịu đựng được gió to.

3. Đất đai

Đu đủ dễ tính có thể trồng trên đất có độ chua thích hợp pH từ 5,5-6,5. Đất trồng đu đủ phải giàu chất hữu cơ, tơi xốp, đất không hoặc ít phèn, thuận tiện cho việc tưới nước và thoát nước tốt khi có mưa lớn. Vùng đồng bằng phải lên líp thật cao và đường mương thoát nước phải sâu để dễ thoát nước. Chuẩn bị đất: Đất trước khi trồng nên đánh luống rộng 2-2,5m. Giữa các luống có rãnh sâu 30cm để thoát nước.

4. Thời vụ:

Đu đủ có khả năng trổ hoa và đậu trái quanh năm, tuy nhiên hạn chế sâu bệnh có thể bố trí trồng đu đủ vào đầu mùa mưa (tháng 4-5). Những vùng chủ động tưới tiêu trồng vào cuối mùa mưa (tháng 10- 11).

5. Giống:

Đu đủ có nhiều loại giống khác nhau nhưng phổ biến nhất là giống sau:

- Giống Hong Kong da bông: Cho năng suất cao, trọng lượng trái trung bình từ 2,5 - 3 kg, vỏ dày, chống chịu khá với nhện đỏ và các bệnh do virus. Thịt trái có màu vàng, hàm lượng đường từ 9 -10%.

- Đài Loan tím: Năng suất rất cao, trái nhiều, trọng lượng trái từ 1.2 - 1.5 kg. Thịt trái có màu đỏ tím, chắc thịt. Hàm lượng đường từ 10 -11%. Cây dễ bị nhện đỏ và các bệnh do Virus, nhưng vẫn có khả năng cho trái tốt trong những năm đầu.

- Giống EKSOTIKA: Cho phẩm chất ngon, thịt trái màu đỏ tía, chắc thịt, tươi đẹp, hàm lượng đường 13 - 14%, trọng lượng trái 500g - 1kg.

- Giống Sola: Có đặc điểm gần giống như EKSOTIKA nhưng thịt trái chắc hơn, thơm ngon hơn, hàm lượng đường 15 - 17%, trọng lượng trái  300 - 500g.

- Giống Hồng Phi 786: Cây phát triển rất khỏe, cây có trái sớm, cây có trái đầu tiên lúc cây cao khoảng 80cm. Tỷ lệ đậu trái cao, một mùa 1 cây có thể đậu 30 trái trở lên, sản lượng rất cao. Trái lớn, trọng lượng trái từ 1,5Kg - 2Kg, (có thể đạt 3 kg/ trái). Cây cái ra trái hình bầu dục, cây lưỡng tính cho trái dài. Da nhẵn bóng, thịt dày màu đỏ tươi, hàm lượng đường thông thường khoảng 13-14%, dễ vận chuyển.

Kỹ thuật trồng phủ bạt đu đủ Hồng Phi 786

Kỹ thuật trồng phủ bạt đu đủ Hồng Phi 786

Dùng bạt phủ nông nghiệp trồng Đủ đủ là một biện pháp kỹ thuật mới, người sản xuất nên áp dụng, chọn trồng những giống đủ đủ có năng suất cao, phẩm chất tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao


Việc dùng màng phủ nông nghiệp (bạt plastic) phủ lên mặt luống rồi mới trồng cây đu đủ có thể hạn chế được rệp truyền virus cho cây, hạn chế cỏ dại, ổn định nhiệt độ đất, thúc đẩy cây phát triển, vào mùa khô giữ được độ ẩm đất, giảm lượng nước bốc hơi, khi trời mưa tránh cho đất bị xói mòn gây tổn thương bộ rễ và nước mưa thấm xuống đất gây nên quá ẩm và phân bị rửa trôi…

Dùng bạt phủ nông nghiệp trồng Đủ đủ là một biện pháp kỹ thuật mới, người sản xuất nên áp dụng, chọn trồng những giống đủ đủ có năng suất cao, phẩm chất tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Xin giới thiệu kỹ thuật trồng đu đủ hồng phi 786 bằng phương pháp dùng bạt phủ:

I. Đặc tính của giống Hồng Phi 786:

Cây phát triển rất khỏe, cây có trái sớm, cây có trái đầu tiên lúc cây cao khoảng 80cm. Tỷ lệ đậu trái cao, một mùa 1 cây có thể đậu 30 trái trở lên, sản lượng rất cao. Trái lớn, trọng lượng trái từ 1,5Kg – 2Kg, (có thể đạt 3 kg/ trái). Cây cái ra trái hình bầu dục, cây lưỡng tính cho trái dài. Da nhẵn bóng, thịt dày màu đỏ tươi.

Thời vụ gieo trồng:

- Miền Bắc: vụ Xuân trồng vào tháng 2 – 4 hoặc vụ Thu cuối mùa mưa (Tháng 9 – 10).

- Miền Nam: trồng vào đầu mùa mưa (Tháng 4 – 5). Những vùng chủ động tưới tiêu trồng vào cuối mùa mưa (Tháng 10 – 11 ).

- Miền Trung: vụ Xuân trồng vào Tháng 12- 1, vụ Hè Thu trồng tháng 5-6.

II. Gieo hạt ươm cây :

1. Vườn ươm :

Hạt đu đủ có thể gieo trong bầu đất, trên luống hoặc trực tiếp vào các ụ đất đã được chuẩn bị để trồng. (Gieo trong bầu đất: Bầu đất có kích thước 12cm x 15cm. Đất + phân chuồng hoai mục trộn đều theo tỉ lệ 2 : 1).

Gieo trên luống: Đất làm kỹ cần 5-10kg phân hữu cơ hoai mục, 0,1-0,15 kg Supe lân, 0,3 –0,5 kg vôi rải đều, trộn lại trên 1m2

2. Gieo hạt :

Chọn hạt giống tốt. Ngâm trong nước 4 - 5 giờ vớt ra, ủ trong nhiệt độ 30 – 320C từ 4–5 ngày thì nứt mầm. Chọn những hạt nảy mầm gieo vào bầu đất, sâu 0,5–1cm. Gieo trên luống từ 7–10 ngày hột nảy mầm, khi cây được 5–7 lá (30 –50 ngày) thì có thể trồng.

3. Chọn đất :

Chọn đất ở vùng cao, thoát nước tốt, hoặc vùng đất đồi, nếu trồng ở vùng đồng bằng phải lên luống thật cao và đường mương thoát nước phải sâu. Đất giàu chất hữu cơ là lý tưởng nhất. Độ pH thích hợp từ 6 – 6,5

4. Làm đất, trồng :

* Mật độ, khoảng cách:

- Hàng x hàng: 2-2,5m; cây x cây: 2m; Mật độ: 2.000-2.100 cây/ha.

- Lượng giống cần cho 500 m2 : 2 – 2,5 gói (1 gram/gói, ~ 65 hạt/gói)

- Đất cày sâu lên luống cao, mặt luống rộng 1m, cao 0,4 – 0,5m, cây cách cây khoảng 2m, căn cứ vào khoảng cách để đào lỗ, bón phân lót rồi trộn đều với đất và đắp bằng. Cây đu đủ trước khi xuống giống 1 ngày phải tưới nước đầy đủ, lấy cây trong bầu ra rồi trồng xuống đất ngay thẳng, mỗi hốc trồng 1 cây, sau đó tưới nước. Đối với mặt luống dùng màng phủ nông nghiệp thì hố đào vừa túi bầu (khoảng 15 x 20 cm)

Mỗi hố cần: 5kg phân chuồng; 300g NPK (15-9-17+TE), 300g Supe lân, 250g bao hạt vàng, 200g vôi.

* Lượng phân bón lót/100 cây (khoảng 500 m2):

Phân chuồng: 500 kg; NPK (15-9-17 +TE): 30 kg; Supe lân: 30 kg; 25 kg bao hạt vàng; vôi: 20 kg

* Kỹ thuật trồng: Lấp đất phủ qua phần cổ rễ, nén chặt xung quanh. Tưới nước, giữ ẩm.

III. Chăm sóc

1. Cắm cây cọc: Thông thường đu đủ đều trồng thẳng, khi gặp gió bão phải cắm cọc chống gió, dùng 3 cây cọc cắm chéo hoặc 1 cây cọc cắm thẳng và cột chắc cây đu đủ vào cọc. Vào thời kỳ cây đậu trái nhiều mà gặp gió bão có thể chặt bớt một số lá già gần gốc, để giảm bớt sức cản gió, chống đổ ngã hoặc gãy.

2. Tỉa cành và hái trái: Sau khi xuống giống, nếu trên thân chính mọc ra nhánh con phải ngắt bỏ sớm. Vào thời kỳ đậu trái phải hái bỏ kịp thời những trái bị méo, bị sâu bệnh, những lá già héo chết phải ngắt bỏ luôn cuống lá.

3. Bón phân thúc: Cây đu đủ ra hoa đậu trái quanh năm, cần bón bổ sung phân cho cây để cây có thể đậu trái liên tục.

Sau đây là lượng phân bón dùng cho cây 1 năm: 0,4 - 0,5 kg urê + 0,5 - 1 kg supe lân + 0,2 - 0,3 kg kali sulfat (hoặc kali clorua) + 0,2 - 0,4 Canxinit hoặc Nitra bo.

Cách bón:

- Lần 1: Sau trồng 1,5-2 tháng, bón 1/3 đạm + 1/3 lân.

- Lần 2: khi cây ra hoa, bón 1/3 đạm + 1/3 lân + 1/2 kali + 1/2 Canxinit hoặc Nitra bo.

- Lần 3: Khi thu quả lứa đầu (sau trồng 6-7 tháng) bón hết đạm, lân, kali , Canxinit hoặc Nitra bo còn lại.

Cây 2 năm: Phân chuồng 5 – 10 kg + 0,3 - 0,4 kg urê + 0,5 – 1 kg supe lân + 0,3-0,4 kg kali sulfat (hoặc kali clorua).

Có thể qui ra phân NPK (15-9-17) +TE chuyên dùng cho rau ăn quả của C.ty phân bón Năm Sao) để bón thúc cho đu đủ.

Ghi chú: Ở những vùng đất thiếu Borax, cứ 100 cây đu đủ bón 0,25 – 0,5kg Borax.

4. Phòng trừ sâu bệnh:

a) Bệnh khảm: do côn trùng chích hút truyền nhiễm: nhện đỏ, rệp…

Mặt luống trồng phủ màng phủ nông nghiệp có thể hạn chế rệp.

Chăm sóc quản lý để cây đu đủ phát triển khỏe và nhanh, tăng cường sức kháng bệnh.

Vệ sinh vườn, phun các loại thuốc trừ côn trùng môi giới gây bệnh. Bệnh nặng phải hủy bỏ cây.

b) Nhện đỏ: Phun thuốc Ortus, Silsau, comite, Danitol, Kelthane…

c) Rệp, rầy: Vệ sinh vườn, phun các loại thuốc: Supracide, Regent, …

5. Thu hoạch: khi quả đã có vệt vàng trên vỏ quả (sau khoảng 2-3 tháng sau khi ra hoa) thì thu hoạch.

Kỹ thuật trồng đu đủ Đài Loan

Kỹ thuật trồng đu đủ Đài Loan

Giống đu đủ Đài Loan được trồng ở nước ta chủ yếu là giống lai F1 nên không thể lấy hạt trong quả của cây vườn nhà để trồng mà phải mua hạt giống trực tại công ty giống.


Giống đu đủ Đai Loan là giống đu đủ mới được nhập vào trồng ở nước ta trong thời gian gần đây. Do có nhiều ưu điểm: cây thấp trung bình 1,5-2,5m, sinh trưởng khỏe, ít bị nhiễm bệnh khảm, có ti lệ cây cái cao... nên nhanh chóng được trồng phổ biến khắp cả nước. Ở miền Nam giống đu đủ Đài Loan (giống đu đủTrạng nguyên ) được trồng nhiều ở các tỉnh miền Đông và Tây Nam Bộ.

I. Kỹ thuật gieo ươm cây giống

- Ngâm ủ hạt giống: Chọn hạt giống có tỷ lệ nảy mầm cao, ngâm hạt vào nước, loại bỏ các hạt lép lửng, chỉ lấy các hạt chắc mẩy chìm dưới nước. Ngâm hạt trong nước ấm 3 sôi 2 lạnh trong 5 giờ rồi tiến hành ủ hạt trong bao tải đay ẩm. Thời gian ủ 4-5 ngày, hàng ngày nhặt các hạt nứt nanh nảy mầm mang gieo.

- Làm bầu gieo cây giống: Dùng túi nilon kích thước 12x7cm (có đục lỗ thoát nước), lấy đất phù sa hay thịt nhẹ, làm đất nhỏ kỹ, trộn phân chuồng hoai mục với tỷ lệ 3 đất 1 phân cho vào đầy túi. Mỗi bầu túi gieo một hạt, ấn nhẹ hạt vào trong bầu và phủ ít đất mịn lên trên. Gieo hạt xong cần tưới ẩm. Xếp các bầu cây vào khay, để ở nơi có mái che nắng mưa cho cây, nếu có điều kiện gieo trong nhà lưới là tốt nhất.

Tưới hàng ngày cho cây đủ ẩm bằng bình bơm, khi cây có 2-4 lá thật thì 2 ngày tưới 1 lần, điều chỉnh giàn che để cây con có đủ ánh sáng, cây sinh trưởng mới tốt, cây mọc thẳng và cứng cáp. Làm sạch cỏ và phòng trừ sâu bệnh hại cho cây con. Khi cây có 4-5 lá thật, cao 15-20cm có thể xuất vườn. Đu đủ Đài Loan cho năng suất cao và chất lượng quả rất tốt, song là cây giống lai F1 nên hạt không dùng để gieo làm giống được.

II. Kỹ thuật trồng

Có thể trồng đu đủ vụ xuân (tháng 3-4) hay vụ thu (tháng 9-10). Đu đủ sau trồng 2,5 tháng thì ra hoa, sau trồng 7 tháng thì cho thu hoạch quả xanh, thu hoạch quả chín thì sau 9 tháng.

Trồng đu đủ theo hố, kích thước dài/rộng/sâu là 60/60/30cm, khoảng cách trồng 2,5x2m (khoảng 2.000 cây/ha). Sau khi đào hố, tiến hành bón lót. Mỗi hố bón 10-15kg phân chuồng, 0,5kg lân, 0,2kg kali, 0,5kg vôi bột. Trộn đều tất cả phân với đất mặt rồi lấp đầy hố trồng.

Đặt bầu cây giữa hố, dùng dao sắc rạch nhẹ gỡ bỏ bầu nilon (không làm vỡ bầu), vun đất quanh bầu, nén chặt gốc và tưới đủ ẩm cho cây. Dùng rơm rạ hay bèo phủ giữ ẩm cho đất. Khi cây bén rễ sinh trưởng tốt, cắm cọc ghì cây để giữ cây khỏi đổ qua mưa gió bão, khi cây lớn nới dần dây buộc.

III. Chế độ chăm sóc

Bón thúc 3 lần trong năm đầu: lần 1 sau trồng 4-6 tuần, lần 2 khi cây ra hoa kết quả, lần 3 khi quả lớn. Mỗi lần bón 200g urê, 100g lân, 200g kali. Hoà toàn bộ phân vào nước, tưới xung quanh và cách gốc 30-40cm. Khi cây mang quả nặng cần cắm cọc chống gió bão cho đu đủ, cắt bỏ lá già gần gốc, khơi rãnh thoát nước chống úng cho cây; làm sạch cỏ dại, xới xáo cho đất thông thoáng. Mùa khô cần ủ rơm rạ quanh gốc giữ ẩm cho cây. Năm sau, cây đu đủ thường phát triển kém đi, chọn để lại những cây khoẻ, loại bỏ cây yếu kém và trồng thế bằng cây con mới. Chế độ chăm sóc năm sau không khác gì năm đầu.

Trong quá trình sinh trưởng, đu đủ có thể bị một số sâu hại như rệp sáp, bọ nhảy, bọ xít, nhện đỏ... phá. Có thể phun Decis 2,5 ND (nồng độ 0,1%), Trebon (1%) khi mật độ sâu hại cao. Các bệnh hại đu đủ như virus xoăn ngọn đốm vàng, bệnh phấn trắng, bệnh thán thư... Để phòng tránh bệnh nên thực hiện tốt luân canh cây trồng, chọn trồng giống kháng bệnh, bón cân đối NPK để cây khoẻ, chống chịu bệnh tốt. Phát hiện sớm bệnh để phun Daconil, Topsin hay Zineb, Mancozeb (đối với các bệnh nấm phấn trắng hay thán thư).