Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2017

Kỹ thuật xử lý măng cụt ra hoa theo ý muốn

Kỹ thuật xử lý măng cụt ra hoa theo ý muốn

Xử lý ra hoa cũng đòi hỏi trình độ. Vì tạo được đọt non phát triển chưa hẳn là ra hoa.


Đối với cây măng cụt, việc chuẩn bị đất cũng giống như các loại cây ăn trái khác, nhưng khoảng cách trồng phải từ 7 – 10 m, vì tàn lá lớn và cây sống lâu năm. Nếu trồng xen với dừa, thì nên trồng khoảng giữa 4 cây dừa là tốt nhất.

Khi trồng nên cắt bớt lá, nên trồng vào đầu mùa mưa. Có thể trồng xen với chuối, dừa để che mát. Muốn trồng thuần măng cụt, lúc đầu khi cây còn nhỏ nên xen những cây ngắn ngày để có thu nhập.

Rễ măng cụt tiếp xúc với đất kém, nên cần tưới và chăm sóc thường xuyên. Cây bị ngập nước dễ chết, cho nên cần thoát nước tốt vào mùa mưa.

Cây măng cụt rất ưa phân chuồng. Bón đạm để giúp cây tăng trưởng nhanh. Kinh nghiệm của những nhà vườn chuyên canh: Trong năm đầu có thể bón từ 50 gam đến 100 gam phân SA/cây hoặc 20-40 gam urê/cây vào một tháng sau khi trồng và từ 50-100 gam SA, hoặc 20-40 gam urê vào sáu tháng sau. Từ năm thứ hai sau khi trồng nên tăng dần lượng phân theo giai đoạn tăng trưởng. Khi cây bắt đầu cho trái, bón 500 gam phân NPK 20-20-15 một cây vào đầu và cuối mùa mưa. Lượng phân tăng khi cây lớn sẽ cho nhiều trái.

Cây trưởng thành có thể bón từ 2 kg NPK/năm. Những người có kinh nghiệm có thể bón 1,5 kg DAP/gốc vào cuối mùa mưa, kết hợp bồi sình rải lá và cỏ mục để cung cấp thêm dinh dưỡng cho cây.

Lúc đầu cắt bỏ cành yếu, nhưng cây cao từ 8 đến 10m thì cắt ngọn để giảm chiều cao, tạo tán ngang giúp cây cho trái nhiều.

Bệnh của cây măng cụt thường là sâu ăn lá, rệp dính hoặc nhện đỏ, bọ xích làm cây kiệt sức, bệnh đóm rong, chảy nhựa vàng. Các loại bệnh này đều có thuốc trị, chỉ cần nhà vườn lưu ý sẽ khỏi.

Thu hoạch trái đã chuyển màu đỏ là thuận lợi, vì có thể bảo quản được từ 7-10 ngày.

Hiện tại theo dự án của Bến Tre diện tích măng cụt của tỉnh đã lên tới 4.500 ha, trong đó 200 ha đang trong thời kỳ cho trái năng suất cao.

Hạn chế của trái măng cụt là trái bị sượng. Cách tốt nhất là thu hoạch trước mùa mưa. Đặc tính của măng cụt là ra hoa trên đầu cành đọt mới nên việc cho măng cụt ra hoa sớm, trước hết phải làm cho cây ra đọt non sớm và đồng loạt.

Xử lý cho trái nghịch vụ

Để cho mùa sau ra trái sớm và chất lượng, sau thu hoạch mùa trước cần làm mấy việc sau: Thứ nhất, bón 3 kg phân đầu trâu AT1 + 30 kg phân ủ hoai + 50 gam RICHO-MS/cây có tán 6-8 mét, tưới nước đều. Thứ hai là tỉa bỏ cành vượt, cành cấp một vượt ra khỏi khung tán và cắt bỏ những cặp lá đầu cành trên toàn bộ tán lá. Làm hai việc này càng nhanh càng tốt.

Hai tuần sau, dùng MS-THIORÊ hoặc FOOD-MS1 phun sương ướt đều tán cây. Sau hai đến ba lần phun, cây sẽ nhú đọt đồng loạt. Khi đọt non nhú được 01 tuần, dùng FOOD-MS1 phun hai lần, 10 ngày một lần nữa, giúp đọt lá phát triển mạnh chuẩn bị ra hoa.

Xử lý ra hoa cũng đòi hỏi trình độ. Vì tạo được đọt non phát triển chưa hẳn là ra hoa. Khi đọt non được 05 tuần tuổi, bón 02 kg phân đầu trâu AT2 + 02 kg HUMICH/cây. Muốn có hiệu quả nhanh, thì dùng 100 gam MS hòa nước xịt đều trên cây. Một tuần sau dùng FOOD-MS2 hoặc F-PO phun sương cho ướt đều hai mặt lá cây hai lần, cách nhau 07 ngày/lần. Làm vào đầu tháng 10 âm lịch để thu hoạch đầu tháng 04 năm sau.

Có hai cách bắt cây ra hoa sớm và đồng loạt: Thứ nhất, khi đọt non 09 tuần thì siết nước (tạo khô hạn, rút nước trong mương và phủ nylon trên mặt liếp. Khoảng 2-4 tuần thấy lá non có biểu hiện héo thì tưới thật nhiều, 5-7 ngày sau tưới lần nữa để mặt liếp đủ ẩm. Thứ hai, là khất gốc (khoanh vỏ). Cách làm này chỉ áp dụng cho những vườn khó tạo khô hạn, thì khi đọt được 9-10 tuần tuổi, khoảng ngày 15 tháng 10 (âm lịch), tiến hành khất gốc xung quanh thân. Chỉ khất phần vỏ, không được chạm vào gỗ trong thân, vết khất cách mặt đất khoảng 1 mét.

Sau khi lá tươi trở lại hoặc khấc gốc 2 hoặc 3 ngày là cho cây ra hoa đồng loạt bằng cách dùng thuốc kích thích ra hoa C.A.T + FOOD-MS2 phun sương đều hai mặt lá cây một lần. Khoảng 10-20 ngày sau khi tưới nước lại và phun thuốc, cây sẽ nhú chồi hoa. Từ khi hoa nhú đến hoa nở khoảng 30-45 ngày. Muốn đậu trái tốt, nên phun hai lần thuốc đậu trái C.A.T hoặc HCR cách nhau 10 ngày một lần.

Nuôi trái cũng là vấn đề quan trọng. Khi trái đậu hai tuần, bón 02 kg phân đầu trâu AT3 + 02 kg HUMICH/cây, chia làm hai lần. Muốn cho cung cấp nhanh dinh dưỡng nuôi trái thì bón 400 gam MS hòa với 04 lít nước xịt cho một cây. Đồng thời, dùng HCR phun hai lần, 07 ngày/lần. Sau đó dùng thuốc dưỡng trái + FOOD-MS4 phun 3-4 lần, 10 ngày một lần giúp cho trái to, chắc, ngon ngọt và hạn chế hiện tượng xì mủ, sượng

Chủ Nhật, 30 tháng 7, 2017

Giống và kỹ thuật trồng Măng Cụt

Giống và kỹ thuật trồng Măng Cụt

Cây măng cụt có thế trồng được quanh năm, nhưng thường được trồng vào đầu mùa mưa để giảm chi phí tưới cho vườn cây.


I. Chọn và nhân giống:

1. Chọn giống trồng: Hiện nay cây măng cụt chỉ có một giống. Tuy nhiên, vẫn có những cá thể có biểu hiện một số đặc tính tốt hơn trong quần thể cây trồng. Vì vậy, hiện nay khi nhân giống nên chọn những trái từ các cây măng cụt cho trái tốt.

2. Phương pháp nhân giống: Cây măng cụt có thể được nhân giống theo ba cách: gieo từ hạt, dùng phương pháp ghép ngọn hoặc tháp cành.

a. Trồng bằng hạt: Chọn trái to trên những cây cho trái tốt (nặng hơn 80g), từ trái này ta tiến hành chọn hạt to (trọng lượng hạt từ 1g trở lên)  vì hạt lớn tỷ lệ nảy mầm thường cao và số cây con lên từ các hạt có kích thước lớn tỷ lệ sống cao, tăng trưởng nhanh hơn từ hạt có kích thước nhỏ. Hạt đã chọn được ngâm vào nước để rửa sạch phần thịt và xơ bám, hạt được gieo thẳng trên líp ươm hoặc gieo trong bầu có chứa đất, tro trấu hoặc mụn xơ dừa, líp ươm hoặc bầu ươm phải được che mát và tưới nước thường xuyên. Hạt sẽ nầy mầm sau 20-30 ngày ươm, khi ươm nên xử lý nền ươm bằng các loại thuốc trừ kiến để tránh trường hợp kiến ăn hạt. Sức phát triển chồi tùy vào lượng chất dự trữ trong hạt.

Cây con nếu gieo trên líp thì nên cấy sớm vào bầu khi được 2 lá. Khi đôi lá đầu tiên già thì nhẹ nhàng đưa cây ra khỏi môi trường ươm trên líp, khi nhổ cây con ươm trên líp nhớ chú ý đừng cho gãy tách hạt ra khỏi cây con vì giai đọan nầy cây sống nhờ dinh dưỡng của hạt và cấy vào bầu ươm ( với kích thước bầu là 12x15cm). Cấy trễ lúc cây đã có nhiều lá sẽ dễ làm rễ cây tổn thương. Đến khi cây được một năm tuổi phải chuyển sang bầu lớn hơn (kích thước bầu nên là 17-25cmx40-45cm) để rễ măng cụt phát triển thuận lợi trong năm kế tiếp. Nên chọn vật liệu vô bầu thoát nước tốt, giàu dinh dưỡng, có thể dùng hỗn hợp như mụn xơ dừa; phân chuồng hoai; đất đập nhỏ theo tỷ lệ 3:1:1. Phải tưới nước đầy đủ, che bóng cho cây và tưới nhẹ phân NPK (15:15:15) 2 tháng một lần kết hợp với việc phun thuốc phòng trừ sâu bệnh để cây phát triển tốt.

b. Ghép ngọn, tháp cành: Phương pháp ghép ngọn, tháp cành đã rút ngắn thời gian cho trái cây măng cụt (3-4 năm tuổi). Tuy nhiên, cây ghép có tỷ lệ chết sau khi trồng cao hơn, số trái và trọng lượng trái thấp hơn. Do đó phương pháp nhân giống chủ yếu và phổ biến hiện nay trong sản xuất đối với măng cụt vẫn là gieo từ hạt. Tiêu chuẩn cây giống tốt: (đây là tiêu chuẩn do Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành). Cây giống phải đúng giống với yêu cầu về hình thái cây giống như sau:

- Cổ rễ thẳng. Vỏ cây không bị tổn thương đến phần gỗ.
- Đường kính thân cây (đo tại nơi cách mặt đất bầu ươm 2cm) chiều cao phải đạt từ 0,6cm trở lên.
- Bộ rễ phát triển tốt, có nhiều rễ thứ cấp. Rễ cọc không cong vẹo.
- Số lá: có 12 cặp lá trở lên.
- Các lá ngọn đã trưởng thành, xanh tốt và có hình dạng, kích thước đặc trưng của giống.
- Chiều cao cây giống (đo từ mặt giá thể bầu ươm đến đỉnh chồi) là 70 cm trở lên.
- Cây giống phải đang sinh trưởng khoẻ mạnh, không bị sâu bệnh, đặc biệt là không mang triệu chứng chảy nhựa vàng trên thân.

- Tuổi cây giống: Phải trên 2 năm từ khi gieo hạt.

II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc:

1. Đất trồng: Cây măng cụt trồng tốt ở vùng đất thịt, sét giàu hữu cơ tầng canh tác dày, thoát nước tốt, gần nguồn nước tưới, không bị nhiễm mặn.

2. Thời vụ trồng: Cây măng cụt có thế trồng được quanh năm, nhưng thường được trồng vào đầu mùa mưa để giảm chi phí tưới cho vườn cây.

A. Chuẩn bị vườn:

1. Đào mương lên líp: Ở những vùng thấp như Đồng bằng sông Cửu Long thì cần đào mương lên líp để tăng độ dày tầng canh tác, có hệ thống mương thông nhau để thoát nước, rửa phèn và cung cấp nước cho vườn khi cần thiết. Độ sâu và rộng của mương, líp là tùy thuộc vào điều kiện riêng của từng vườn, thông thường mương rộng 1,5-2m, sâu 1-1,2m; líp rộng 5-6 m (nếu trồng hàng đơn) và 7-8m (nếu trồng hàng đôi)

2. Đắp đê bao: Cần có hệ thống đê bao quanh cho từng vườn hoặc đê bao cho cả vùng có điều kiện tương tự nhau để bảo vệ vườn cây vào mùa mưa lũ,  có hệ thống tiêu thoát nước khi cần thiết.

3. Trồng cây chắn gió: Chọn các loại cây trồng có độ cao hợp lý, chắc gốc, khó đổ ngã trồng quanh vườn để làm cây chắn gió cho vườn cây măng cụt vì gió có thể làm  gãy nhánh,  hại lá và trái măng cụt.

4. Khoảng cách trồng:
Măng cụt là cây có tuổi thọ cao thân gỗ to nên cần trồng với khoảng cách xa nhau để vườn được thông thoáng, ít sâu bệnh. Có thể trồng với các khoảng cách như sau: Trồng  với khoảng cách 10 x 7m/cây; Trồng với khoảng cách 8-9 x 6-7 m/cây; Trồng  với khoảng cách 7 x 7m/cây. Nếu trồng dày thì phải đảm bảo tán cây không được giao nhau bằng cách tỉa cành tạo tán cho cây thường xuyên sau mỗi vụ thu hoạch.

5. Trồng xen: Do cây măng cụt sinh trưởng chậm lâu cho trái và trồng với khoảng cách khá xa nhau nên trong những năm đầu để tận dụng diện tích đất và có thêm nguồn thu nhập có thể trồng một số cây ngắn ngày hoặc cây ăn quả sinh trưởng nhanh (như chuối, mận, ổi, cam…) làm cây trồng xen trong vườn măng cụt. Ngoài ra có thể trồng cây măng cụt xen trong vườn dừa nhưng không nên trồng quá dày mà phải đảm bảo đúng khoảng cách thì mới đạt hiệu quả kinh tế cao.

B. Kỹ thuật trồng và chăm sóc:

1. Chuẩn bị hố trồng và cách trồng: Hố được đào theo hình vuông với kích thước mỗi cạnh 60x60cm và sâu khoảng 60cm, trước khi trồng nên bón lót cho mỗi hố 0,5-1kg vôi, 100-200g phân NPK (16:16:8 hoặc 20:20:15), 10-20kg phân chuồng hoai và 10-20g thuốc sát trùng Regent. Nên đặt cây trên mô đất cao hơn mặt đất tự nhiên khoảng 10-20cm để hạn chế hiện tượng ngập úng giả tạo, cây con khi trồng nên đạt được 2 năm tuổi trở lên, cây có 1-2 cặp cành cấp 1 mới đưa ra vườn trồng. Đặt cây con cần thận trọng để bầu cây không bị bể, rễ không bị ảnh hưởng, lấp đất ngang mặt bầu, nên dùng ống nhựa bọc phần gốc nơi tiếp giáp mặt đất lên khoảng 20cm để tránh trường hợp cây măng bị chết do còng ăn hết phần vỏ ở gốc. Cắm cọc giữ cho cây khỏi đổ ngã, che bóng và tưới nước cho cây ngay sau khi trồng.

2. Che bóng khi cây còn nhỏ: Cây măng cụt là cây ưa bóng, cây con khó sống ngoài trảng nên cần được che mát trong 4-5 năm đầu vì ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp có thể làm cây chậm phát triển. Có thể che bằng tàu lá dừa, lưới che sáng, tre đang, giàn che phủ lá chuối hay rơm rạ hoặc trồng xen cây che bóng tạm thời như cây chuối để hạn chế 50-60% ánh sáng mặt trời ảnh hưởng trực tiếp đến cây nhất là trong hai năm đầu sau khi trồng ra vườn. Trồng chuối cách gốc măng cụt 1-2m về 4 hướng hoặc chỉ trồng ở hai hướng Đông và Tây.

3. Tủ gốc giữ ẩm: Ngay sau khi trồng nên dùng rơm rạ hoặc cỏ khô phủ mô trồng quanh cây một lớp dày khoảng 5-10cm và cách xa gốc khoảng 10-20cm,  trong mùa khô để giảm sự bốc thoát hơi nước.

4. Bồi bùn lên líp: Hàng năm, vào mùa nắng cần vét bùn ở mương lên bồi líp nhằm nâng cao mặt líp và cung cấp thêm chất dinh dưỡng cho cây. Nhưng chỉ bồi một lớp bùn mỏng khoảng 3-4cm .

5. Tưới nước: Măng cụt là cây có nhu cầu nước rất lớn đồng thời do hệ thống rễ cây không có lông hút và phát triển kém nên rễ măng cụt khi tiếp xúc với đất khó hút nước vì vậy cần tưới nước thường xuyên, nhất là trong giai đoạn cây con và cây đang mang trái.

a. Giai đoạn cây con: Phải tưới đầy đủ nước nhất là trong những tháng mùa khô để giúp cây mạnh khoẻ, nhanh phát triển. Tuy nhiên nếu cây con bị ngập úng sẽ chết nên cần chú ý thoát nước tốt cho vườn cây.

b. Giai đoạn cây ra hoa và mang trái: Cần tưới nước cách ngày cho cây nhất là lúc sau khi cây trổ hoa, đậu trái giúp hoa phát triển tốt, đậu trái nhiều và trái nhanh phát triển. Trong giai đọan cây mang trái nên chú ý tưới đều vừa đủ ẩm tránh trường hợp vườn quá khô lại quá ướt bất thường sẽ đưa đến hiện tượng rụng trái non, với một số kinh nghiệm của nhà vườn khi trái măng cụt hết giai đọan phát triển trái thì ngưng tưới nước, giảm mực thủy cấp trong mương và kết hợp với việc đậy gốc khi có mưa nhiều sẽ giảm đi hiện tượng mủ trái và sượng trái măng cụt .

6. Trừ cỏ dại: Trong những năm đầu khi cây chưa khép tán, cỏ dại sẽ phát triển mạnh, nên diệt cỏ bằng phương pháp thủ công hoặc dùng máy cắt cỏ.

7. Tỉa cành tạo tán: Tỉa cành tạo tán cho cây măng cụt phải được chú ý thực hiện sớm và thường xuyên để có được tán cây cân đối và cây cho năng suất cao sau nầy. Khi cây còn nhỏ, cần tỉa bỏ các cành mọc dày đặc, cành vượt mọc đứng trong thân, cành ốm yếu, cành bị sâu bệnh, chỉ giữ lại các cành mọc ngang, cành khoẻ mạnh để tạo cho cây có tán thông thoáng và cân đối. Khi cây đã cho trái, sau khi thu họach xong phải tỉa bỏ những cành bị sâu bệnh, cành già không còn khả năng cho trái, cành vô hiệu nằm trong tán cây. Đặc biệt phải thu tán cây không cho tán giao nhau bằng cách tỉa ngắn lại những cành ở mặt ngoài tán tùy vào điều kiện thực tế bà con có thể cắt ngắn hay dài làm sao cho tán cây tròn đều, không lồi lõm, không có các cành bị che khuất để đảm bảo cho sự phát triển của trái. Công việc tỉa cành tạo tán cần phải tiến hành ngay sau đợt bón phân lần thứ nhất và phải thực hiện xong trong thời gian một tuần để giúp cây có đủ dinh dưỡng ra chồi khỏe và đồng loạt.

8. Treo cành: Cây măng cụt có cành to nhưng lại rất giòn và dễ gãy, khi cây măng cụt mang trái nhánh thường có hiện tượng quằn xuống thỉnh thỏang thấy phần nhánh phía trên bị bung vỏ qua nhiều vụ nhánh bị gãy hoặc bị khô đi, do đó ở cây có cành phát triển tốt cần phải dùng dây nylon chắc để kéo cành lên, nhằm tránh gãy nhánh hư cành bằng cách cột một đầu dây vào cành và đầu còn lại cột vào thân cây chính. Việc treo cành là cần thiết nhất là trong mùa mưa bão trong giai đọan cây mang trái và trong vụ thu hoạch.

9. Bón phân: Cây măng cụt cho trái cách năm rất thường xảy ra, chủ yếu là do việc bón phân cho cây hầu như chưa được quan tâm. Quy trình bón phân để người trồng tham khảo như sau:

a. Giai đoạn cây con: Bón 5-10kg phân chuồng/cây/năm. Phân vô cơ ở giai đọan chưa cho trái có thể bón phân N:P:K 16-16-8 hoặc N:P:K 20-20-15.
Tuổi cây(năm) Liềulượng(kg/cây/năm) Số lần bón(lần/năm)
1 0,5 2 - 4
2 1 2 - 4
3 1,5 2 - 4
4 2 2 - 4

b. Giai đoạn cây cho trái:

- Lần 1: Ngay sau khi thu hoạch xong cần tỉa cành, tạo tán  bón 20-30kg phân chuồng hoai cho mỗi cây kết hợp với phân  phân vô cơ có hàm lượng đạm cao để giúp cây nhanh ra đọt mới. Bón phân chuyên dùng cho cây ăn trái AT1. Cũng có thể bón phân hữu cơ kết hợp với phân vô cơ theo công thức như sau N:P:K 16-16-8 hoặc N:P:K 20:20:10.

- Lần 2: Trước khi cây ra hoa 30-40 ngày, giai đoạn này nên sử dụng phân vô cơ có hàm lượng lân và kali cao. Tránh bón nhiều phân đạm sẽ làm cho cây ra lá giảm sự   ra hoa. Bón phân chuyên dùng cây ăn trái AT2 hoặc N:P:K 8-24-24

- Lần 3: Sau khi đậu trái lúc trái khoảng 2cm, bón phân có hàm lượng kali cao, bón phân với công thức N:P:K 13-13-21 hoặc AT3. Liều lượng phân:

+ Cây măng cụt có từ 10-15 năn tuổi có thể bón 0.5-1kg phân vô cơ/lần/cây.

+ Cây măng cụt lớn hơn 15-20 tuổi có thể bón 1-2kg phân vô cơ/lần /cây.

+ Cây măng cụt có tuổi lớn hơn 20-30 năm có thể bón 2-3 kg phân vô cơ/lần/cây.

+ Cây măng cụt có tuổi lớn hơn 30 trở lên có thể bón từ 3-4 kg phân vô cơ/lần/cây.

Tuy nhiên việc bón phân cho cây măng cụt về số lượng và công thức bón cũng có thể tăng giảm hoặc thay đổi tùy thuộc vào điều kiện đất trồng, đường kính tán, năng suất thu họach vụ trước và tình hình sinh trưởng của cây. Ngoài ra để góp phần nâng cao năng suất, phẩm chất trái còn có thể phun phân bón lá Growmore ( 20:20:20) 10g/8lít nước phun làm 3 lần mỗi lần cách nhau 1 tuần và bắt đầu phun vào 2 tuần sau khi đậu trái và cũng có ý kiến của nông dân cho rằng trong giai đọan trái phát triển cần bón thêm Ca(NO3)2 hoặc bón vôi Dolomite 2Kg/cây sẽ tăng được phẩm chất trái.

c. Cách bón phân: Đại đa số nhà vườn xới xung quanh gốc bón theo tán cây vì vậy việc bón phân cho cây măng cụt chưa phát huy hết hiệu quả khi sử dụng phân bón.  Cây măng cụt do đặc tính bộ rễ phát triển kém so với các loại cây trồng khác vì vậy hiệu quả nhất nên giới hạn bón phân ở 2/3 hình chiếu tán tính từ gốc trở ra. Tốt nhất nên đào rãnh chung xung gốc ở 2/3 tán, sâu 15-20cm rộng từ 20-30cm bón phân vào rãnh, lấp đất lại hoặc cũng có thể xới xung quanh cách gốc khoảng 40-50cm đến 2/3 tán cây bón phân vào và tưới nước đầy đủ sau khi bón .

Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch Măng Cụt

Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch Măng Cụt

Cây măng cụt có thể sinh trưởng ở nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là đất sét giàu hữu cơ, tầng canh tác dầy, thoát nước tốt và gần nguồn nước tưới.


 I. GIỚI THIỆU


Măng cụt thuộc cây ăn quả nhiệt đới được trồng nhiều ở Thái Lan, Mã lai, Phi luật tân, Indonêsia và Việt nam. Măng cụt là loại trái cây được nhiều người ưa chuộng và dược xem như là nữ hoàng của cây ăn trái nhiệt đới bởi lẽ dáng trái đẹp và chứa nhiều chất bổ dưỡng. Giá bán tại Nhật lên đến 3USD/ trái

(trọng lượng > 80g), còn ở Thái lan 2USD/ Kg. Ở Thái lan năm 1990 đã xuất khẩu được 1.482 tấn trái thì đếùn 1993 Thái xuất khẩu dến 2.652 tấn, diện tích trồng măng cụt ở Thái năm 1994 là 34.127 ha. Tuy vậy sản xuất trái đúng tiêu chuẩn mới là quan trọng, nghĩa là trái phải có trọng lượng

> 80g vỏ trái đẹp và trái không bị sượng cứng. Hiện nay măng cụt ở Việt nam chỉ cho trái khi cây trồng 8-10 tuổi hay lâu hơn nữa tuỳ vào phương pháp chăm sóc. sau đây là quy trình trồng và chăm sóc cây măng cụt nhằm mục đích cây cho trái vào lúc đạt 4-5 tuổi đối với cây ghép, 5-6 năm tuổi đối với cây trồng từ hạt ( cây con 2 năm tuổi trong vườn ươm) và nhiều trái có trọng lượng trên 80g để có thể xuất khẩu.

II. YÊU CẦU SINH THÁI:

1. Lượng mưa:

Cây măng cụt không thể sinh trưởng phát triển tốt ở vùng không quá khô hay quá ẩm. Cây yêu cầu lượng mưa thấp nhất phải là 1270mm/ năm.

2. Nhiệt độ- ẩm độ:

Nhiệt độ thích hợp cho cây măng cụt phát triển ở vào khoảng 25-35oC và ẩm độ không khí thấp nhất là 80%

3. Che bóng:

Trong những năm đầu trồng ra ruộng sản xuất cây măng cụt cần phải được che bóng để giảm bớt ánh nắng mặt trời trực tiếp đến với cây. Nếu không ánh sáng mặt trời có thể làm hư hại đỉnh sinh trưởng cây chậm phát triển.

III. GIỐNG:

1. Giống trồng:

Do măng cụt là loại cây ăn quả không cần có sự thụ phấn để đậu trái, hạtï phát triển từ phôi cái, nên cây trồng từ hạt cũng có đặc tính giống như cây mẹ (Trừ các trường hợp đột biến có thể xảy ra). Cây măng cụt Việt nam và Thái lan chỉ có 01 giống, do đó nhà vườn nên mua giống của Việt nam để ít tốn kém

2. Nhân giống

a. Trồng bằng hạt: Chọn hạt to ( trọng lượng hạt > 1g) và ươm

hạt trong môi trường tro trấu hoặc muội sơ dừa. Khi cây con đạt 4-5 tháng tuổi mới chuyển sang bầu, đến khi cây được 01 tuổi lại chuyển sang bầu to hơn, lúc nầy bầu phải có kích thước 25cm x 45 cm để rể măng cụt phát triển thuận lợi trong năm thứ hai. Cả hai giai đoạn nầy cần chọn vật liệu thoát nước tốt, giàu dinh dưỡng làm bầu cho cây, có thể dùng hổn hợp như sơ dừa: phân chuồng: đất=3:1:1, tưới nước đều đặn và che mát cho cây.Cần tưới nhẹ phân 02 tháng/ lần theo công thức N:P:K = 15:15:15, kết hợp thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh nấm giúp cây phát triển tốt.

* Cách pha trộn phân để đạt tỷ lệ N:P:K = 15:15:15

+ Urea ( 46% N) : 3,2 kg.
+ Super lân ( 16,5% P2O5) : 9 kg.
+ Ka li ( 50% K 2 O ) : 3 kg.

Và theo tỷ lệ nầy mà pha trộn đến khi đủ lượng cần thiết.

b. Ghép ngọn: Chọn cây 2 năm tuổi để làm gốc ghép và chọn

cành tương xứng với gốc ghép ở những cây đã cho trái để làm cành ghép ( cành ghép có 3-4 cặp lá), ghép theo kiểu nêm rồi dùng bao nilon bọc kín cành ghép và nơi ghép. Sau khi ghép xong cần giử trong nhà có che bóng và chăm sóc như trường hợp cây ươm hạt, sau 2-3 tháng mới đưa ra ruộng sản xuất. Trồng bằng cây ghép cây sẽ cho trái khi đạt 5-6 tuổi tuỳ vào cách thức chăm sóc.

Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu ở Mã lai cho thấy cây ghép có tỷ lệ cây chết sau khi trồng cao hơn cây trồng hạt. Trọng lượng trái và số trái của cây ghép thấp hơn cây trồng hạt.

Tóm lại, cây măng cụt trồng bằng hạt tốt hơn cây ghép.

IV. THIẾT KẾ VƯỜN:

• Vùng đồng bằng Sông Cửu Long và những nơi có điều kiện tương tự : Đào mương lên liếp. Cần có hệ thống mương liếp thông nhau để thuận tiện trong việc di chuyển trên vườn cũng như cung cấp và thoát nước kịp thời cho vườn cây khi cần thiết.Có thể mương ,liếp có kích thướt như sau:

. Mương rộng 2m.
. Liếp rộng 5m.

• Đấp đê bao: Cần có hệ thống đê bao cho từng vườn hay đê bao cho từng khu vực có điều kiện tương tự nhau, để chủ động nước cho vườn cây.

• Vùng có địa hình cao như miền Đông Nam Bộ và những nơi có điều kiện tương tự : Cần thiết kế hệ thống rảnh thông nhau để tiêu thoát nước kịp thời khi có mưa bảo, nhằm tránh hiện tượng ngập úng cục bộ.

V. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1. Nơi trồng:

Cây măng cụt có thể sinh trưởng ở nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là đất sét giàu hữu cơ, tầng canh tác dầy, thoát nước tốt và gần nguồn nước tưới.

Măng cụt là loại cây đòi hỏi khí hậu nhiệt đới với nhiệt độ cao, ẩm độ cao, lượng mưa dồi dào.

• Khoảng cách trồng

Nên trồng măng cụt với khoảng cách 6-7m/ cây theo kiểu hình vuông. Mặc dù trồng dày nhưng tán cây không được giáp nhau, do đó phải tỉa cành tạo tán sớm và thường xuyên cho cây sau mỗi vụ thu hoạch.

• Chuẩn bị hố trồng

Hố được đào với kích thước 0,6m x 0,6m x 0,6m, bón lót 5-10 kg phân chuồng hoai kết hợp với 200g phân N- P- K/ gốc.

• Đặt cây con

Khi cây con đạt tiêu chuẩn mới đưa ra ruộng sản xuất (cây 2 năm tuổi có khoảng 12-13 cặp lávà 01 cặp cành cấp 1). Đặt cây vào hố lấp đất ngang mặt bầu, cắm cọc giử cây khỏi đổ ngã, tưới nước và che bóng cho cây ngay sau khi trồng.

2. Che bóng

Măng cụt là cây ưa bóng, đặc biệt trong 2 năm đầu. việc che bóng cho cây con là điều cần thiết ( giảm bớt 50-60% ánh sáng), trong giai đoạn cây con phải dùng mái che, khi trồng cũng nên che mát cho cây bằng vật liệu ( có thể dùng lưới che sáng hoặc dùng tre đan có khoản trống để cho ánh sáng di qua khoảng 50%) hay trồng chuối ở 4 hướng cách gốc măng cụt ít nhất 1m đến cuối năm thứ hai (trồng chuối ở 4 hướng và không nên trồng cây chuối sứ vì cây có bộ rễ phát triển mạnh và phân huỷ chậm khi đã bị cắt rời khỏi cây).

3. Bón phân


a. Giai đoạn cây con:

Mỗi năm nên bón 5-10 kg phân chuồng hoai cho mỗi cây và phân vô cơ theo công thức N:P:K = 15:15:15 ở giai đoạn cây chưa cho trái như sau:

Tuổi cây 1, bón 0,5kg, bón từ 2-4 lần
Tuổi cây 2, bón 1kg, bón từ 2-4 lần
Tuổi cây 3, bón 1,5kg, bón từ 2-4 lần
Tuổi cây 4, bón 2kg, bón từ 2-4 lần

• Ghi chú: Hổn hợp phân theo công thức N:P:K = 15:15:15.

b. Giai đoạn cây cho trái ổn định :


Đối với cây có đường kính tán 6- 8 m phân bón được áp dụng cho mỗi cây như sau:

+ Phân vô cơ bón làm 03 lần mỗi lần 3-4 kg .

+ Phân hữu cơ 20-30 kg

Lần 1: Ngay sau khi thu hoạch xong cần tỉa cành tạo tán và bón phân theo công thức:N:P:K = 20:20:10 kết hợp với 20- 30 kg phân chuồng hoai cho mỗi cây.

Cách pha trộn để đạt đúng với công thức N:P:K = 20: 20: 10.

. Phân ure 46%N 4,3 kg
. Phân Super lân (16,5% P2O5 12,1 kg
. Phân Kali (50% K2O 2,0 kg

và cứ theo tỷ lệ này mà pha trộn đến khi đủ lượng cần thiết để bón cho vườn cây.

Lần 2: trước khi ra hoa 30-40 ngày bón phân vô cơ có hàm lượng lân cao theo công thức N: P: K= 8: 24: 24.

Cách pha trộn phân để đạt đúng với công thức N: P: K= 8: 24: 24.

. Phân ure 46%N 1,7 kg
. Phân Super lân (16,5% P2O5 14,5 kg
. Phân Kali (50% K2O 4,8 kg

và cứ theo tỷ lệ này mà pha trộn đến khi đủ lượng cần thiết để bón cho vườn cây.

Lưu ý: trong giai đoạn này tránh bón nhiều phân đạm vì sẽ kích thích ra lá mới làm chậm quá trình ra hoa.

Lần 3: Bón lúc cây đậu trái xong (đường kính trái 2 cm) phân vô cơ theo công thức N: P:P: K= 13: 13: 21.

Cách pha trộn phân để đạt đúng với công thức N: P: K= 13: 13: 21.

. Phân ure 46%N 2,8 kg
. Phân Super lân (16,5% P2O5 7,8 kg
. Phân Kali (50% K2O 4,6 kg

và cứ theo tỷ lệ này mà pha trộn đến khi đủ lượng cần thiết để bón cho vườn cây.

Ngoài ra còn có thể sử dụng phân bón lá có tỷ lệ N: P: K= 20: 20: 20. Phun làm 5 lần mỗi lần cách nhau 1 tuần, bắt đầu từ tuần thứ 7 sau khi đậu trái.

Tóm lại, Liều lượng phân bón cho mỗi cây là tuỳ thuộc vào đường kính tán tình trạng sức khoẻ của cây. Đối với cây có đường kính tán 6-8m đang phát triển bình thường thì có thể bón phân vô cơ 3-4 kg/ cây/ lần, tức 9-12 kg phân vô cơ và 20-30 kg phân hữûu cơ / cây/ năm.

4. Tưới nước:

Măng cụt là cây có nhu cầu nước rất lớn, nhất là giai đoạn cây con và cây đang mang trái vì sau khi trổ (tháng 12 dương lịch) là thời kỳ không mưa. Nếu thiếu nước ở:

• Giai đoạn cây con thì cây chậm lớn.

- Giai đoạn cây đang mang trái thì trái nhỏ và giảm phẩm chất trái.

Do đó, cần phải tưới nước cách ngày cho cây nhất là ở giai đoạn sau khi trổ hoa, trái.

5. Tỉa cành tạo tán, cột cành:

Cần cắt bỏ những cành bên trong tán , cành mọc đan chéo nhau, Mục đích tỉa cành lá là tạo sự thông thoáng cho cây để ánh sáng đến được tatá cả các lá giúp quang hợp tốt và hạn chế được sự phát triển của rong rêu hại cây.

Khi cây còn nhỏ cần tỉa bỏ cành mọc dày đặc, cành vượt, cành đan chéo nhau ... để tạo cho cây có tán thông thoáng và cân đối sau nầy.

Khi cây đã cho trái vào mỗi cuối vụ trái cần tỉa bỏ cành bị sâu bệnh, cành già không còn khả năng cho trái, cành vô hiệu bên trong tán cây. Đặc biệt phải tỉa ngắn lại những cành ở mặt ngoài tán nhằm không cho tán cây giao nhau đồng thời kích thích cây ra đọt nhanh và nhiều hơn, công tác tỉa cành phải tiến hành ngay sau đợt bón phân lần 1 và công tác tỉa cành phải thực hiện xong trong một tuần sau khi bón phân. Dụng cụ tỉa ở giai đoạn nầy là loại kéo để cắt cành trên cao.

Ở cây có cành phát triển tốt hoặc cành chạm đất, cần thiết phải dùng dây kéo cành lên trên, nhánh măng cụt dòn dể gẩy nên cần dùng dây ni lông chắc để kéo cành nhằm tránh gẩy nhánh và chạm đất ( một đầu dây cột vào cành và đầu còn lại cột vào thân chính.

6- Xử lý ra hoa sớm:

Trái măng cụt đạt tiêu chuẩn xuất khẩu ngoài trọng lượng lớn hơn 80 g, màu sắc phải tươi láng. Muốn vậy cần thiết phải thu hoạch đại bộ phận trái trước mùa mưa để trái không bị chảy nhựa ra ngoài vỏ cũng như vào trong cơm trái, nghĩa là phải làm cho cây măng cụt ra lá non từ tháng 8-9 dl để cây trổ hoa vào tháng 11-12 dl.

Để vườn có trái sớm như mong muốn, sau khi thu hoạch xong cần bón phân, tỉa cành tạo tán sớm cho cây để giúp cây ra lá non sớm hơn (tháng 8-9 dl). Trường hợp cây không ra lá non sau khi bón phân thì có thể phun urea để kích thích cây ra lá non với liều lượng 100-200 g/20 lít. Khi đọt non đạt 9-10 tuần tuổi tiến hành tạo khô hạn cho cây trong khoản 3-4 tuần. Khi lá non có biểu hiện héo, hoặc đọt non bị móp lại thì tiến hành tưới thật đẫm 1-2 lần để kích thích cây ra hoa. Nếu cây chưa ra hoa thì tiến hành tạo khô hạn và tưới nước trở lại.

VI. THU HOẠCH, BẢO QUẢN:

Hái trái lúc trái có màu hồng, khi hái phải thật cẩn thận và tránh sự va chạm mạnh trên trái nhằm giảm đến mức thấp nhất sự xây xát. Nên dùng dụng cụ có túi vải để hái trái, tránh để trái rơi tự do trên mặt đất làm xay xát vỏ trái...

Bảo quản trái ở 130C chứa trái tròn túi plastic có đục lổ sẽ giử trái được 28 ngày.

Bảo quản ở 20 C giử được 21 ngày, nhưng nếu chứa trong túi plastic kín giử được 49 ngày.

Nếu trồng măng cụt được nhiều trái đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, thu hoạch sớm mỗi cây chỉ cần đạt 80Kg trái thì cây măng cụt đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhà vườn.

Bảo quản măng cụt bằng màng bao ORT 2000

Bảo quản măng cụt bằng màng bao ORT 2000

Các nhà khoa học TP Hồ Chí Minh vừa nghiên cứu thành công việc bảo quản măng cụt bằng loại bao gói Oxygen Transmission Rate. Kết quả, măng cụt được bảo quản tốt trong hai tuần, so với bảy ngày của các phương pháp khác.


Măng cụt là loại trái khó bảo quản trong khi chuyên chở. Khi vỏ trái măng cụt chuyển sang mầu đỏ hoặc đỏ tím thì chỉ giữ bảo quản được 5-7 ngày. Để khắc phục nhược điểm này, Phân viện Công nghệ sau thu hoạch TP Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm bảo quản măng cụt bằng loại bao gói Oxygen Transmission Rate (ORT 2000). Đây là loại bao PE có thấm khí O2 với lưu lượng 2.000ml/m2/giờ đồng thời giảm lượng etylen đến mức nhỏ nhất, giữ khí CO2 trong bao bì và giữ độ ẩm tương đối trong bao bì luôn ổn định ở khoảng 90% không phụ thuộc môi trường bên ngoài, cùng với các hóa chất như dung dịch chuẩn NaOH, 0,1N, dung dịch Phenolphatalein 1%.
Nhóm nghiên cứu sử dụng một kho lạnh và các thiết bị khúc xạ kế (0-32%), máy đo nồng độ CO2, cân phân tích và máy đo độ cứng trái măng cụt. Trái măng cụt được thử nghiệm là loại trái ở độ chín, hái từ cây lúc sáng sớm (hoặc chiều mát), trái sau khi thu hoạch mầu đỏ chuyển sang mầu đỏ hoàn toàn. Trái măng cụt được làm sạch, sơ bộ, lau nhẹ bằng vải ẩm để loại bỏ vết bẩn và đất cát bám trên cỏ, đồng thời loại thải trái bị dập, chảy mủ, hư hỏng. Nhiệt độ sử dụng ở 5-10oC và 15oC. Kết quả cho thấy, giá trị cảm quan của trái măng cụt bảo quản ở 10oC, cao hơn so với ở nhiệt độ 5oC và 15oC.

Tóm lại, trái măng cụt bảo quản trong bao bì ORT 2000 có vỏ trái mềm hơn so với bảo quản bằng các loại bao gói khác (PE 20 lỗ, 40 lỗ) và không xử lý màng bao. Chế độ nhiệt bảo quản thích hợp nhất với ORT 2000 cho măng cụt là 10oC trong thời gian hai tuần, sang tuần thứ 3 và 4 (khoảng 30 ngày) trái không còn giữ giá trị cảm quan như ban đầu, chất lượng có kém đi, song vẫn giữ được độ vỏ cứng và điểm cảm quan cao nhất, cũng như giá trị dinh dưỡng tốt hơn so với ở 5oC và 15oC. Khi được bảo vệ trong màng bao ORT 2000, trái măng cụt có tỷ lệ thoát hơi thấp, do đó trong lượng trái không hao hụt nhiều.
Nguồn nhandan

Kỹ thuật trồng cây măng cụt - Garcinia magostana

Kỹ thuật trồng cây măng cụt - Garcinia magostana

Măng cụt không kén đất nhưng phát triển tốt nhất trên đất tơi xốp, dễ thoát nước, giàu chất hữu cơ. Măng cụt không thích hợp trên đất mặn hoặc nhiễm mặn.


I. ĐIỀU KIỆN SINH THÁI Đất trồng:

Măng cụt không kén đất nhưng phát triển tốt nhất trên đất tơi xốp, dễ thoát nước, giàu chất hữu cơ. Măng cụt không thích hợp trên đất mặn hoặc nhiễm mặn.

Nhiệt độ và ánh sáng: Măng cụt phát triển tốt ở nhiệt độ 25-35oC, không ưa trảng nên khit rồng cần phải che bóng cho măng cụt.

Nước: cần cung cấp nước đầy đủ trong mùa nắng và thoát nước tốt trong mùa mưa.

II. GIỐNG VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG

Măng cụt có thể được nhân giống bằng cách ghép đọt hoặc gieo hạt.

- Phương pháp ghép không đạt hiệu quả cao do cây con có tỉ lệ hao hụt rất lớn; cây ghép cho trái nhỏ và ít hơn so với cây trồng bằng hạt.

- Gieo hạt là phương pháp nhân giống phổ biến của măng cụt, măng cụt đậu trái không thụ phấn, hạt măng cụt được phát triển từ phôi cái nên cây trồng từ hạt có đặc tính giống như cây mẹ.

Cách gieo hạt: hạt măng cụt mau mất sức nẩy mầm, do đó không nên dự trữ hạt lâu. Chọn hạt to, nặng > 1g từ những trái mặng cụt chín. Rửa sạch hát va 2gieo vào bầu đất hoặc liếp ươm. Vật liệu của bầu hoặc liếp ươm là tro trấu, bột sơ dừa hoặc cát mịn trộn phân hữu cơ. Thường xuyên tưới nước giữ ẩm, 20-30 ngày sau hạt sẽ nẩy mầm.

Khi cây lớn thì chuyển sang bầu lớn chú ý không làm tổn thương rễ vì rễ măng cụt không có lông hút và rất yếu. Cây phát triển rất chậm, trung bình 2 tháng măng cụt mới cho 1 cặp lá. Khi được chăm sóc tốt, bón phân đầy đủ sẽ giúp cho măng cụt phát triển nhanh hơn.



III. KỸ THUẬT TRỒNG

1.Chuẩn bị đất:

Nên trồng măng cụt trên mô của đất liếp, có bờ bao cống bọng để thoát nước tốt trong mùa mưa, cung cấp đủ nước trong mùa nắng.

2. Mật độ khoảng cách:

Măng cụt có tán cây lớn, tán là sum xuê, do đó nên trồng thưa cây cách nhau 7-10m, mật độ 100-200 cây/ha, với khoảng cách trồng nầy cây sẽ giao tán sau 30 năm trồng.

3. Chuẩn bị mô:

Mô cần được chuẩn bị 1-2 tháng trước khi trồng. Mô hình tròn có đường kính 0,6 –0,8m, cao 0,3-0,5m tùy theo địa hình cao hay thấp. Đất mô nên trộn với 10-20 kg phân chuồng hoai và 200g phân NPK 15-15-15.
 
4. Kỹ thuật trồng:


Khi cây con được 2 năm tuổi thì đem đi trồng, lúc này cây có 12-13 cặp lá và 1 cành cấp 1, khoét lỗ trên mô vừa với bầu đất, nhẹ nhàng đặt cây vào, lấp đất ngang mặt bầu, cắm cọc giữa cây không bị đổ ngã. Khi đặt cây cần cẩn thận để không bị hư rễ.
 
5. Trồng cây che bóng và cây chắn gió:


Măng cụt không chịu được ánh nắng trực tiếp, do đó cần che bóng cho cây trong 4-5 năm đầu. có thể trồng xen măng cụt với chuối hoặc trồng dưới tán dừa (hạn chế trồng chuối sứ vì chuối sứ có bộ rễ phát triển mạnh nên sẽ cạnh tranh dinh dưỡng với măng cụt).

Cần trồng cây chắn gió cho măng cụt vì gió có thể làm hại lá và trái.

6. Tưới nước:

Bộ rễ măng cụt không có lông hút và phát triển kém cho nên cần cung cấp đầy đủ, thường xuyên cho cây trong mùa nắng và thoát nước tốt trong mùa mưa. Nếu thiếu nước cây sẽ chậm lớn. Đặc biệt giai đoạn sau trổ hoa, mang trái, nếu thiếu nước trái măng cụt nhỏ và có phẩm chất kém.

7. Tỉa cành, tạo tán:

Khi cành còn nhỏ cần tỉa bỏ các cành vượt, cành đan chéo nhau để tạo tán cho cây cân đối sau này.

Khi cây đã cho trái, sau thu hoạch cần tỉa bỏ cành sâu bệnh, giập gãy, cành vượt. Chú ý không tỉa quá nhiều làm cho gốc trơ trụi, ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào gốc sẽ gây hại cho cây. Để tạo tán cho cây lùn và tròn đều thì tiến hành cắt ngọn khi cây cao 8-10 m.

IV. BÓN PHÂN VÀ XỬ LÝ RA HOA

1. Bón phân


Cần bón cho cây 10-20kg phân chuồng/năm/cây vào đầu hoặc cuối mùa mưa. Ngoài ra, cần bón thêm phân NPK có hàm lượng N cao để giúp cây tăng trưởng nhanh.

- Giai đoạn cây chưa cho trái: năm đầu sau trồng bón 0,5kg/cây, các năm sau tăng dần lên mỗi năm 0,5kg. Có thế bón 2 lần trong năm, vào đầu và cuối mùa mưa.

- Giai đoạn cây cho trái ổn định: hàng năm bón cho cây phân chuồng và 10-12 kg phân NPK. Chia làm 3 lần bón:

+ Lần 1: sau thu hoạch bón toàn bộ phân chuồng = 3-4kg NPK 20-20-15.
+ Lần 2: trước khi ra hoa 30-40 ngày, bón phân có hàm lượng N thấp, P và K cao, mỗi gốc bón 3-4 kg DAP + Kali theo tỉ lệ 1:1.
+ Lần 3: sau đậu trái, khi đường kính trái 2cm, bón phân có hàm lượng K cao, để tăng phẩm chất trái. Mỗi gốc bón 3-4kg phân 20-20-15.

Tuy nhiên, mỗi lượng phân bón có thể gia giảm tùy thuộc vào tán cây, vào tình trạng sinh trưởng của cây, cây càng lớn lượng phân bón ngày càng tăng, năm trúng mùa bón nhiều hơn năm mất mùa. Nếu cây phát triển chậm thì tăng cường thêm phân Urea.

2. Xử lý ra hoa sớm:

Để măng cụt ra hoa sớm và bán được giá cao thì ngay sau thu hoạch tiến hành tỉa cành, bón phân để giúp cây sớm đâm tược non. Khi thấy cây chậm ra tược có thể phun thêm urea trên lá với liều lượng 50-100g/bình.

Khi đọt non được 9-10 tuần tuổi thì rút nước ra khỏi mương vườn và ngưng tưới trong 3-4 tuần, đến khi là có biểu hiện héo thì tiến hành cho nước vào mương và tưới đẫm trở lại: thực hiện 1-2 lần cây sẽ ra hoa. Nếu cây chưa ra hoa có thể tạo khô hạn lại lần 2.

V. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH

1. Sâu vẽ bùa:

Sâu non phá hại bằng cách đào những đường ngoằn ngoèo, ăn lớp biểu bì của lá làm cho lá bị biến dạng, mặt trên của lá bị khô, lá bị rụng. Bướm đẻ trứng trên là, làm nhộng trên những hầm ở lá.
Phòng trị: phun các loại thuốc như Vertimec, cyperan, polytrin, D.C. Tronplus, confidor.

2. Nhện đỏ:

Ấu trùng màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt, khi trưởng thành có màu đỏ. Nhện đỏ tấn công lên là và trái, chích cạp và hút nhựa lá và trái. Trên lá, vết thương tạo thành những chấm nhỏ li ti trên mặt lá, khi bị nặng vết chấm lan rộng và có màu ánh bạc, sau đó là có thể bị khô và rụng.

Trên trái, nhện thường sống tập trung ở phần cuống trái và đáy trái. Khi trái còn non, nhện chích và hút dịch ở lớp biểu bì là vỏ trái bị sần sùi.

Phòng bệnh: nhện đỏ thường lờn thuốc, do đó cần luân phiên các loại thuốc đặc trị nhện như: Comite, Trebon, Danitol,…

Hiện tượng chảy nhựa vàng: chưa xác định rõ nguyên nhân, có thể do bọ trĩ tấn công từ khi cây ra hoa đến sau đậu trái. Bọ trĩ làm cho trái bị chảy nhựa, làm giảm giá trị thương phẩm. Ngoài ra, 1-2 tháng trước khi trái chín nếu gặp mưa lớn và mưa liên tục cũng làm cho trái dễ bị chảy nhựa vàng, nếu nặng thì phần thịt trái bị đắng, không ăn được.

Phòng bệnh: phun các loại thuốc như Cyperan, Confidor, trebon, Regent, Comite,…
Ngoài ra, măng cụt còn có các loại côn trùng khác tấn công như rệp dính, bọ xít,…

3. Bệnh hại:

- Chết nhánh: do nấm Pastaliotopsis sp. Làm cháy là và chết nhánh nhỏ trên cây, bệnh có thể lây lan nhanh làm cho cây xơ xác.
Phòng trị bằng cách phun các loại thuốc trừ nấm như: Manzate, Rovral, Derosal, Daconil,…

- Bệnh đốm rong: do nấm Cephaleuros virescens tấn công lên nhanh, thân tạo thành các đốm đồng tiền màu vàng hoặc màu xám xanh
Phòng trị bằng cách cạo vết bệnh và bôi thuốc có gốc đồng hoặc vôi quét tường lên vết bệnh.

VI. THU HOẠCH

Khoảng 4 tháng sau khi hoa thụ phấn thì có thể thu hoạch, thu khi màu vỏ vừa chuyển qua màu đỏ, thu non lúc vỏ mới chuyển màu hồng thì cơm trong; thu già khi màu vỏ trái tím sẫm thì trái cứng. Ở Việt Nam cây 7 – 8 tuổi mới chỉ có 10 – 20 quả bói. Dùng sào tre làm lồng để thu quả, tránh giựt làm quả rớt xuống đất sẽ khó bảo quản sau này. Thu hái, chuyên chở cẩn thận. Khi tồn trữ lâu vỏ quả rắn lại, còn thịt quả có khuynh hướng chuyển qua màu nâu.
Trung tâm thông tin tư liệu

Thứ Năm, 27 tháng 7, 2017

Yêu cầu kỹ thuật trồng mãng cầu xiêm

Yêu cầu kỹ thuật trồng mãng cầu xiêm

Mãng cầu xiêm là trái đăc trưng ở miền nam có giá trị dinh dưỡng cao. Vì thế được mọi người ưa chuộng vậy trồng mãng cầu xiêm có khó? Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn bạn kỹ thuật trồng mãng cầu xiêm tỉ mỉ.


Thịt quả trắng, mùi dễ chịu, vị dịu, hơi ngọt, chua, có tính giải khát, bổ. Quả xanh làm săn da. Hạt se, gây nôn, sát trùng. Lá làm dịu. Người ta thường dùng quả để ăn. Thịt quả pha thêm nước và đường dùng xay sinh tố để giải khát, bổ mát và chống hoại huyết. Quả xanh phơi khô tán bột dùng trị kiết lỵ và sốt rét. Ngày nay người ta dùng mãng cầu xiêm làm thức ăn trái cây cho người bệnh tiểu đường và cao huyết áp.

Mãng cầu xiêm ưa nóng vì thế được trồng ở miền nam việt nam chúng được ưa chuộng dùng làm các loại sinh tố và chữa bệnh rất hiệu quả.

Điều kiện trồng mãng cầu xiêm: Lượng mưa thích hợp cho mãng cầu xiêm là 1.800 mm, chịu hạn và lạnh kém hơn mãng cầu ta. Ðộ pH thích hợp từ 5,0-6,5. Ở vùng đất mặn hoặc nhiễm mặn có độ pH thấp và chịu ảnh hưởng của thủy triều người ta trồng mãng cầu ghép trên gốc bình bát, các nơi khác người ta trồng mãng cầu xiêm bằng hạt. Mãng cầu xiêm có thể trồng trên nhiều loại đất nhưng nó thích hợp trồng trên đất có tầng mùn hữu cơ dày, tơi xốp, thoát nước tốt. Đất có độ pH từ 5,6 – 6,5.

Nhân giống mãng cầu: Mãng cầu xiêm thường nhân giống bằng hạt, song nó cũng có thể trồng bằng cây đã lớn được bứng lên cẩn thận, bằng chiết cành, ghép mắt và ghép cành. Có thể gieo hạt trong các bầu hay trên líp đất có hơi pha cát. Gieo hạt sâu chừng 1cm và cách nhau 2 – 2,5cm. Che nắng cho hạt và tưới giữ ẩm thường xuyên.

Cách trồng:
Đào hố rộng 30 – 50cm, sâu 30 – 50cm, tùy cây lớn nhỏ. Nếu trồng luôn bầu cây thì hố phải rộng hơn nhiều so với kích thước của bầu để không ép rễ cây con. Lấp trở lại lớp đất mặt khi đặt cây con và tưới nước ẩm ngay. Cây mãng cầu xiêm nên trồng với khoảng cách 3 – 4m, trồng theo kiểu nanh sấu hoặc theo hàng.

Chăm sóc mãng cầu xiêm:  Để đảm bảo cây phát triển tốt, sau khi trồng bón thúc 2 năm đầu, mỗi năm bón 15kg phân hữu cơ hoặc phân chuồng hoai mục + 0,5kg NPK 16-16-8. Nếu dùng phân đơn thì bón khoảng 200g urea + 0,5kg super lân + 100g Kcl cho mỗi cây. Có thể tưới gốc bằng HVP 6-6-4 K-HUMAT hoặc Hum-K + Geniss + Phân bón lá Thiên Hải Ngọc để kích thích ra rễ mạnh.

Từ năm thứ ba trở đi, mỗi năm bón 15kg phân chuồng hoai + 300g phân urea + 1kg super lân + 200g kali cho mỗi cây, kết hợp tưới gốc bằng HVP 6- 6- 4 K- HUMAT hoặc Hum-K + Geniss + Phân bón lá để kích thích ra rễ và giúp cây hấp thu dinh dưỡng dưỡng mạnh hơn. Nên chia bón làm nhiều lần khi mang trái và đang thu hoạch. Có thể bón trực tiếp nếu bón theo kiểu rạch hàng quanh đường kính chiếu của tán cây thì ta nên chia làm 2 lần bón khi cây bắc đầu nuôi trái và đến khi ở cuối vụ thu hoạch, bón xong lấp đất và tưới nước cho phân hấp thu vào đất. Quá trình cây trưởng thành có thể sử dụng thêm các phân bón lá để giúp ra hoa, đậu trái tốt.

Muốn mãng cầu xiêm có nhiều trái

Muốn mãng cầu xiêm có nhiều trái

Khác với hoa của nhiều loại cây ăn trái, nhị cái của hoa mãng cầu xiêm lại trưởng thành trước nhị đực. Khi cánh hoa trong nở, nhị cái đã tươm mật sẵn sàng cho thụ phấn thì nhị đực vẫn chưa già để sẵn sàng tung phấn thụ cho nhị cái.


Khoảng 3-4 ngày sau, khi nhị đực già sẵn sàng tung phấn thì nướm của nhị cái đã bắt đầu héo. Chính vì sự “lệch pha” này mà qúa trình tự thụ phấn của hoa mãng cầu xiêm rất khó xẩy ra, như vậy mãng cầu xiêm đòi hỏi phải có thụ phấn chéo (nhờ côn trùng hay những tác nhân khác).

Nhưng hoa của mãng cầu xiêm lại không có mùi thơm để dẫn dụ côn trùng, cánh hoa lại dầy và khi nở lại hé ra rất ít, khiến cho các loài côn trùng rất khó chui vào. Mặt khác hoa lại mọc chúc xuống … nên rất trở ngại cho việc giúp sức của côn trùng, chỉ có kiến (chủ yếu là kiến đen) mới chui vào được để hút mật và qua đó giúp thụ phấn cho hoa. Do đó rất ít hoa được thụ phấn để đậu trái, những hoa không được thụ sẽ bị đen và rụng.

Mặt khác với cách thụ phấn trên đây, phấn sẽ không được phân bố đều trên nướm của nhị cái, chỗ nào không có phấn các múi ở đây sẽ không phát triển được, sẽ làm cho trái phát triển không đều, méo mó xấu xí như bạn đã thấy.

Để khắc phục tình trạng này bạn phải thụ phấn nhân tạo. Bằng cách chọn những hoa nhỏ, hoa có cuống nhỏ, hoa phát triển không cân đối, hoa ở ngoài chóp cành, hoa trên cành nhỏ… là những hoa thường khó đậu trái (nếu có đậu trái thì trái cũng nhỏ, chất lượng kém) để lấy phấn. Giữ lại những hoa to, hoa có cuống to, hoa phát triển cân đối, không bị sâu bệnh mọc ra từ thân, cành chính để thụ phấn tạo trái.

Khi thấy hoa cần lấy phấn sắp nở (cánh đã phát triển dài, có mầu trắng vàng, các cánh đã tách rời nhau, túi phấn của nhị đực đã chuyển dần từ mầu vàng đậm sang mầu xám nhạt (quan sát kỹ sẽ thấy các túi phấn hơi gồ ghề hơn so với trước đó) là có thể thu hái được. Thời gian thu hái hoa tốt nhất là vào buổi chiều mát. Sau khi hái, đặt hoa trên giấy trong một cái hộp kín để khỏi mất nước và không bị gió làm bay mất phấn. Sáng hôm sau bao phấn nứt thì tách bỏ cánh hoa, giũ cho túi phấn rơi hết xuống giấy, rồi dùng một que nhỏ (trên đầu có gắn bông gòn) chà nhẹ lên túi phấn để tách hạt phấn ra khỏi bao phấn (lượng phấn của một hoa có thể thụ cho 6-7 hoa cái).

Những hoa có ba cánh trong đã mở, nuốm nhị cái có mầu trắng, đầu nuốm đã tiết ra nhiều chất dính là thụ phấn được. Cách thụ phấn như sau: tay phải cầm cây cọ mềm chấm vào bột phấn, tay trái kẹp bông hoa muốn thụ phấn vào kẽ ngón tay, đầu ngón cái banh cánh hoa rộng ra, tay phải nhẹ nhàng quét lông của cây cọ (đã có dính sẵn phấn hoa) đều khắp nướm của nhị cái (nếu quét không đều, sau này trái sẽ bị lép, không mẩy đều).

Muốn có kết qủa cao, nên thụ phấn vào lúc 8-9 giờ sáng. Vào thời điểm ra hoa rộ khoảng 3-4 ngày thụ phấn cho vườn một lần. Nếu được thụ phấn nhân tạo cây sẽ đậu trái rất nhiều so với cứ để tự nhiên phó mặc cho cây “tự lo” (người có kinh nghiệm thụ phấn, tỷ lệ đậu trái có thể đạt tới 80-90%).

Phương pháp cho mãng cầu ra hoa rải vụ

Phương pháp cho mãng cầu ra hoa rải vụ

Cho mãng cầu ra hoa rải vụ bằng phương pháp bấm nhánh


Sử dụng phương pháp này có lợi thế là cây không bị mất sức nhiều do đó chi phí chăm sóc cũng giảm hơn so với phương pháp tuốt lá (giảm chi phí công suốt lá, phân bón vì cây không bị mất sức), số lượng trái ít hơn nhưng tỷ lệ trái đạt loại một cao ( loại từ 2-4 trái/kg chiếm khoảng 2/3 sản lượng), năng suất không thua suốt lá.


Mãng cầu là cây trồng truyền thống của nông dân xung quanh khu vực núi Bà Đen Tây Ninh. Những năm gần đây do có thị trường tiêu thụ nên diện tích mãng cầu tăng nhanh, nhất là ở xã Tân bình. Nếu để mãng ra hoa tự nhiên thì mùa khi thu hoạch sẽ vào thời điểm rộ của các loại cây ăn trái khác,  giá bán thường không cao nên hiệu quả kinh tế thấp. Nông dân Tây Ninh đã có nhiều kinh nghiệm làm cho mãng cầu ra hoa rải vụ và đã thu được lợi nhuận cao. Từ trước đến nay nông dân thường xử lý ra hoa trên cây mãng cầu bằng phương pháp làm rụng lá (suốt lá), hiện nay một số nông dân  áp dụng phương pháp bấm nhánh đã đạt hiệu qủa hơn. Sử dụng phương pháp này có lợi thế là cây không bị mất sức nhiều do đó chi phí chăm sóc cũng giảm hơn so với phương pháp tuốt lá (giảm chi phí công suốt lá, phân bón  vì cây không bị mất sức), số lượng trái ít hơn nhưng tỷ lệ trái đạt loại một cao ( loại từ 2-4 trái/kg  chiếm khoảng 2/3 sản lượng), năng suất không thua suốt lá.

Bấm nhánh tốt nhất nên bấm vào lúc khai thác trái vụ 2 (vụ đầu ta nên suốt lá), vì vụ hai trên nhánh cái có nhiều nhánh nhỏ, dùng kéo bấm tỉa những nhánh nhỏ vô hiệu, để lại những nhánh có màu da bò, và những nhánh này ta cắt chừa lại hai hoặc ba mắt mầm (khoảng 5cm), bấm rải đều cả cây và kết hợp bo tàn cho đẹp để dễ xịt thuốc sau này. Tỷ lệ bấm cành tuỳ theo thời vụ: tháng 4-7 (âm lịch) bấm khoảng 40-50%, tháng 7-9 (âm lịch) bấm 60-80%, tháng 10 trở đi cho đến mùa mưa bấm 100%.

Lưu ý: Theo kinh nghiệm của một số nông dân, khi bấm nhánh không nên sử dụng phân super lân + Kali, vì cây không mất sức đâm chồi mạnh dễ bị ra đọt mà không ra bông.

Ở  ấp Tân Hoà- Tân Bình – Thị Xã Tây Ninh, có anh nông dân Võ Văn Mẫn, là người đầu tiên áp dụng kỹ thuật bấm nhánh và anh đã thực hiện được khoảng 6 vụ, năng suất tương đương với phương pháp tuốt lá nhưng kích cỡ trái ở vườn mãng cầu của anh từ 2 – 3 trái/kg, vì vậy có giá trị thương phẩm cao và hiệu quả cao hơn phương pháp tuốt lá.

Trái mãng cầu thơm ngon bổ dưỡng

Trái mãng cầu thơm ngon bổ dưỡng

Mãng cầu xiêm có công dụng kháng khuẩn gây mầm bệnh và nấm gây bệnh. Rễ cây được dùng làm thuốc giải độc. Nước sắc cô đặc từ lá giúp ngừa viêm tấy rất hữu hiệu


Trái Mãng cầu xiêm không chỉ thơm ngon về khẩu vị mà còn chứa nhiều dưỡng chất có lợi cho cơ thể. Trong trái mãng cầu xiêm có nhiều carbohydrat, đặc biệt là đường fructose, vitamin C, B1 và B2, rất ít calori, chất béo và không chứa cholesterol. Trong 100 g Mãng cầu xiêm có 66 calori; 3,3 g chất xơ ăn kiêng; 20,6 g vitamin C; 1 g protein; 0,64 mg sắt; 27 mg phosphor; 29,6 acid ascorbic và 16,8 g carbohydrat. Các bộ phận như lá, rễ, hạt, cuống, vỏ, nạc… đều có tác dụng trong việc điều trị bệnh.

- Tác dụng kháng khuẩn, ngừa viêm tấy, điều trị vết thương: Chiết xuất từ vỏ cây, cuống, lá và rễ của cây Mãng cầu xiêm có công dụng kháng khuẩn gây mầm bệnh và nấm gây bệnh. Rễ cây được dùng làm thuốc giải độc. Nước sắc cô đặc từ lá  giúp ngừa viêm tấy rất hữu hiệu. Phần nạc dùng làm thuốc đắp lên vết thương giúp mau lành trong khoảng 3 ngày.

- Đề phòng cao huyết áp: Lá Mãng cầu xiêm được dùng để uống như trà giúp ngừa huyết áp.

- Chữa đau nhức các khớp: Nghiền nát lá đắp lên chỗ khớp bị đau nhức sẽ thấy hiệu quả rất rõ rệt.

- Ngừa giun sán: Hạt Mãng cầu xiêm nghiền nát uống giúp trị giun sán, ký sinh trùng (rễ cây cũng có tác dụng tương tự).

- Đẩy lùi bệnh hen suyễn: Vỏ cây không chỉ giúp ngừa bệnh hen suyễn mà còn giúp an thần. Loại trà chế biến từ lá Mãng cầu xiêm giúp làm dịu thần kinh khi bị căng thẳng, đem lại giấc ngủ ngon. Người xưa thường dùng nạc và lá cây này như phương thuốc gia truyền giúp an thần.

- Chữa bệnh tiêu chảy, nôn mửa: Hoa Mãng cầu xiêm làm giảm chứng tiêu chảy mạn tính. Ngược lại, hạt có tác dụng chống nôn.

- Bồi dưỡng sức khỏe: Thành phần vitamin B, C của nạc Mãng cầu xiêm dùng để chế biến món kem và nước ép rất tốt cho cơ thể.

- Chữa bệnh đường niệu, sỏi thận: Nước ép Mãng cầu xiêm có tác dụng trị bệnh về đường tiết niệu, tiểu ra máu và bệnh đau gan. Nước sắc từ rễ hoặc lá còn non giúp trị bệnh sỏi thận.

- Chữa bệnh chàm: Lá Mãng cầu xiêm được dùng như bài thuốc làm giảm bệnh chàm trên da. Đặc biệt, phần lõi trái là món ăn tốt cho trẻ bị yếu bàng quang cũng như giúp ngừa tật đái dầm thường xảy ra ở trẻ nhỏ.

Kỹ thuật trồng cây mãng cầu xiêm

Kỹ thuật trồng cây mãng cầu xiêm

Cây mãng cầu xiêm chủ yếu được trồng ở Nam Bộ và rãi rác ở Nam Trung Bộ. Mãng cầu xiêm là thực phẩm qúi nhờ giàu chất khoáng: lân, canxi và rất nhiều Vitamin B 1, B2,P,C có vị chua ngọt rất ngon khi làm nước sinh tố rất thích hợp cho người Phương Tây nhưng không thích hợp với khẩu vị người Á Ðông.


Trái mãng cầu xiêm lớn hơn mãng cầu ta rất nhiều, nặng trung bình từ 1-2 kg có khi lớn hơn nữa, vỏ ngoài nhẵn chỉ phân biệt múi nọ với múi kia nhờ mỗi múi có một cái gai cong, mềm vì vậy còn có tên là mãng cầu gai. Nguồn gốc từ châu Mỹ Latinh, được trồng ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới không có sương.


I. Ðặc điểm sinh thái

Lượng mưa thích hợp cho mãng cầu xiêm là 1.800 mm, chịu hạn và lạnh kém hơn mãng cầu ta. Ðộ pH thích hợp từ 5,0-6,5. Ở vùng đất mặn hoặc nhiễm mặn có độ pH thấp và chịu ảnh hưởng của thủy triều người ta trồng mãng cầu ghép trên gốc bình bát, các nơi khác người ta trồng mãng cầu xiêm bằng hạt.

II. Giống và đặc điểm thực vật

Mãng cầu xiêm thuộc loại cây tiểu mộc cao 6-8 m, tán lá xanh quanh năm, hoa ở thân hay các nhánh già, hoa lớn. Hiện nay, ở Nam bộ có hai thứ mãng cầu: mãng cầu xiêm ngọt và chua. Thứ ngọt lá và quả thường nhỏ hơn thứ chua, giá cao hơn. Nhưng thứ chua có năng suất cao, dễ bán và làm mứt hay kẹo dễ hơn.

III. Kỹ thuật trồng

1. Nhân giống


Ðối với mãng cầu xiêm khi trồng tùy theo điều kiện đất đai cụ thể từng nơi mà chúng ta có thể ghép hoặc trồng bằng hạt. Nếu đất nhiễm mặn hoặc phèn mặn ngập nước theo thủy triều thì trồng mãng cầu ghép trên gốc bình bát. Các vùng khác thì trồng bằng hột hoặc chiết (sau 2-3 năm sẽ cho trái).

2. Khoảng cách trồng

Nên trồng khoảng cách 3 x3 m, một số nơi trồng 2,5 x2,5 m

3. Phân bón

Cần bón cân đối NPK nên chọn các loại phân 10-10-10 với loại phân trên năm 1 bón 100g, năm thứ 2 bón 400 g, năm thứ 3 bón 800g, năm thứ 4 bó 1,2 kg/cây. Khi cây lớn bon gia giảm từ 2-3 kg/cây/năm. Nếu đất xấu hoặc trên đất cát nên bổ sung thêm 10-20 kg phân chuồng /cây/năm. Chia làm 2-3 lần bón, sau thu hoạch (cuối mưa) và khi cây nuôi quả (đầu + cuối mùa mưa).

4. Thụ phấn bổ sung cho mãng cầu xiêm

Nhìn chung hoa mãng cầu có nhụy cái trưởng thành trước nên đòi hỏi thụ phấn chéo, hoa không có mùi thơm nên hấp dẫn ít côn trùng, cánh hoa dày và khi nở hé ra ít, hoa lại mọc chúc xuống . Thường côn trùng thụ phấn không đủ nên cần thụ phấn bổ sung bằng tay để tăng sự đậu quả. sự thụ phấn thiếu sẽ làm quả méo mó không nở phồng về các phía,hoa thiếu thụ phấn sẽ đen rồi rụng. Khi thụ phấn bổ sung bằng tay, hột phấn thường lấy ở những hoa bìa tán cây hay ở các cành nhỏ vì chúng ít có cơ hội phát triển thành quả lớn ,các cành nhỏ yếu không mang nổi quả tới khi thu hoạch. Lấy hoa có cánh đã hé, phần nhị đực có màu kem là tốt, thu hoa vào buổi chiều, để hoa vào một cái hộp nhỏ đậy kín cho khỏi mất nước, sáng hôm sau dùng một que nhỏ đầu cuốn bông gòn chấm vào hột phấn có màu vàng nhạt, tay phải cầm que có chấm hột phấn, tay trái kẹp hoa muốn thụ vào kẽ ngón tay, đầu ngón cái banh cánh hoa rộng ra, quét hột phấn lên nướm nhụy cái lúc này có màu trắng và ướt dính, quét đều và nhẹ nhàng. Hoa cần thụ nên chọn hoa chọn mọc ở thân hoặc những cành to, có cánh đang hé nở ra. Quả phát triển từ hoa được thụ thường to và nở đều. Cây sẽ sai quả hơn. Tất nhiên một lần chỉ thụ được một số hoa, như vậy phải làm nhiều lần, cách nhau khoảng 4 ngày.

5. Sâu bệnh hại chính


Sâu gây hại phổ biến nhất vẫn là rệp sáp và các loại rầy miệng chích hút khác, làm giảm chất lượng, sản lượng. Trị bằng nhiều loại thốc như BI 58, Applaud Mipcin,…

Rệp và rầy ngoài việc chích hút nhựa làm hại trái, còn tạo điều kiện thuận lợi cho một số bệnh xâm nhập, nhất là bệnh thán thư gây những vết hoặc đen.

Cách đề phòng: trồng thưa, giữ vệ sinh trong vườn không để cành lá bị bệnh vương vãi kể cả các loại trái cây khác cũng bị thán thư phá hại như ổi, xoài. Xịt thuốc benlat C, Kasuran BTN, Aliette 80 BTN,…

Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017

Kinh nghiệm trồng khế

Kinh nghiệm trồng khế

Thường xuyên giữ ẩm cho đất nền dưới bóng tán, nhưng không để ngập nước vài ba ngày liền sẽ dẫn đến rụng quả hàng loạt, chất lượng kém.


Đã hàng chục năm nay, vườn khế nhà ông Phạm Ngọc Mạnh ở thị trấn Nam Sách năm nào cũng bội thu, mặc dầu nhiều vườn kế cận năm được, năm mất mùa do bất lợi của ngoại cảnh (môi trường), do chủ nhân thích thì chăm bón, quên thì để "phóng sinh" v.v...

Nhìn những gốc khế ngọt, khế "rôn rốt", khế chua, cây nào cũng trĩu quả, quả nào cũng nây đều, bóng bẩy, không vết sâu bệnh v.v... nhiều người hỏi ông "bí quyết" trồng khế đều được ông hồ hởi trả lời ngay:

– Thứ nhất đó là phải nhân giống từ cây khế mẹ giống tốt (cho năng suất cao, phẩm chất tốt, sạch bệnh), nhân từ hạt bền cây hơn nhưng lâu cỗi, còn chiết (hoặc ghép lẫn các giống khế thì lấy gốc ghép là cây khế địa phương, cành hoặc mắt ghép là khế đặc sản có đủ các tiêu chuẩn trên).

– Trồng cây giống gốc bụ bẫm sẽ cho cành phát triển, cành la nhiều gần gốc sẽ cho sai hoa, đậu quả, quả lớn nhanh; gốc cách gốc khoảng 6m là vừa. Đất trồng khế phải tơi hả, xốp. Cần bón thêm phân chuồng hoai mục mỗi gốc lót từ 20 – 30kg, bón thúc đón hoa và đền quả trước và sau thu hoạch 4 – 6 tuần để bồi dưỡng và lại sức cho cây.

– Tuyệt đối không lạm dụng phân hóa học (nhất là đạm) vì rất dễ làm cho khế bị sâu bệnh, "tốt lá xấu hoa". Nguy hiểm nhất vẫn là sâu đục thân càng làm cho khế vốn ròn, tự gẫy khi mang quả, nguy hiểm cho người thu hoạch. Chỉ nên lót NPK vi sinh để bồi dục, cải tạo lý hóa tính cho đất mà thôi! (mỗi gốc không quá 3kg rải đều dưới bóng tán rồi xới xáo, kết hợp nhặt cỏ dại).

– Khi đường kính gốc từ 10cm trở lên, vỏ ngoài hóa bần thì quét nước vôi vào đó cho đến các cành la gần gốc để phòng chống sâu bệnh và tăng độ phản xạ ánh sáng giúp các lá khuất tán quang hợp tạo nhiều chất sống cho cây. Kết hợp với tỉa bỏ cành tăm để tập trung nhựa sống cho các cành "chủ".

Thường xuyên giữ ẩm cho đất nền dưới bóng tán, nhưng không để ngập nước vài ba ngày liền sẽ dẫn đến rụng quả hàng loạt, chất lượng kém.

Cách trồng cây khế Bonsai

Cách trồng cây khế Bonsai

Cây khế ngoài trồng lấy bóng mát và quả ăn còn được trồng làm cây bonsai đẹp với nhiều trái chín trĩu cành thể hiện sự sung túc, đầy đủ.


Cây khế bonsai thích hợp trồng làm cảnh sân nhà, sân vườn… Hoặc cây trồng chậu trang trí tiền sảnh, mặt tiền quán cà phê, nhà hàng… Cây khế bonsai rất được ưa thích và có giá trị.

Các cây khế Bonsai có đường kính từ 10 cm đến 20 cm, thích hợp trồng biệt thự, sân vườn. Các cây Khế có kích cỡ lớn hơn, từ 20 – 30 cm hoặc hơn 30cm, thường thích hợp trồng khu biệt thự, sân vườn cần trồng để có cây xanh cảnh quan phủ xanh ngay.

Yếu tố đất trồng


Loại đất phù hợp cho cây khế là nhiều mùn, dễ tiêu thoát nước, tơi xốp vì rễ khế dễ bị thối khi bị ngập úng. Độ pH của đất thích hợp là 5,5 đến 6,5. Cây khế rất cần nước trong giai đọan nuôi quả từ tháng 6 đến cuối năm, vì khô hạn sẽ làm quả bị rụng nhiều. Do vậy khi nuôi quả, phải đủ ẩm cho vườn khế nếu cần thì phải tưới.

Yếu tố nhiệt độ


Cây khế chịu được biên độ nhiệt độ rộng. Cây lớn có thể chịu được rét đậm, rét hại và nắng nóng. Ở nhiệt độ 22 đến 25oC, quả chín đẹp mã và vị thơn ngon, cho nên lứa quả chín vào cuối thu là tốt nhất.

Yếu tố nước

Thời tiết khô hạn từ tháng 6 đến cuối năm sẽ ảnh hưởng đến quá trình ra hoa kết quả của cây khế. Chính vì vậy, cần tưới nước thường xuyên cho chậu cảnhtrồng khế trong giai đoạn này. Một mẹo nhỏ để giữ ẩm cho cây khế của bạn là hãy đặt chậu cảnh dưới bóng râm của giàn dây leo hoặc những cây cảnh có tán rộng hơn. Như vậy, sẽ hạn chế được ánh nắng rọi trực tiếp vào cây khế, tránh làm hao hụt lượng nước.

Tỉa cành và bón phân khoa học

Cây Khế là loại cây ưa phân bón hữu cơ. Phân chuồng, kali, tro bếp, vôi bột là những loại phân bón thích hợp cho chậu cảnh trồng khế. Cần sử dụng thêm phân bón tổng hợp và điều tiết trong từng giai đoạn phát triển của cây khế.

Yếu tố ánh sáng


Khế không ưa ánh sáng chiếu thẳng, nhất là khế ngọt mà ưa bóng râm, cho nên trồng xen khế trong vườn có các cây cao, che bớt ánh nắng là rất tốt.

Phòng trừ sâu bệnh cho cây khế

Chưa có loại bệnh nấm, virus nào nguy hiểm đối với khế. Các loại sâu đáng chú ý là ruồi đục quả, sâu non thuộc bộ cánh phấn, đục vào quả và có thể ăn cả hoa và quả non.

Trong dân gian, cây khế Bonsai là loài cây gắn liền với đời sống dân dã được trồng ở các vùng thôn quê. Nó cũng là hình ảnh thân thuộc trong câu chuyện cổ tích đã đi vào tâm trí bao thế hệ.

Đối với tín ngưỡng dân gian, những người kỹ tính thường chọn cây khế để trồng trong các nhà thờ họ, như là sự kỳ vọng về sự trường tồn, thịnh vượng cho cả gia tộc mình.

Cách trồng cây khế ngọt trong chậu tại nhà

Cách trồng cây khế ngọt trong chậu tại nhà

Trồng khế ngọt trong chậu hiện đang được nhiều người ưa chuộng. Bạn có thể bắt gặp những cây khế ngọt dù thấp nhỏ vẫn ra hoa, kết quả ngay cả khi được trồng trong chậu. Muốn có một cây khế ngọt để vừa làm cảnh vừa thu quả không khó, chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc sau:


1. Chọn thời vụ trồng thích hợp


Cây khế thường phát lộc vào mùa xuân, ra hoa vào đầu hạ và kết quả vào cuối thu. Vì vậy, thời điểm thích hợp để trồng khế trong chậu là vào vụ xuân hoặc vụ thu. Trồng và chăm sóc đúng thời vụ, cây sẽ cho hoa vào thời tiết ấm và khô. Tỉ lệ kết quả cũng vì thế mà tăng lên. Chọn thời vụ thích hợp sẽ giúp cây khế ngọt của bạn kết quả vào đúng vụ thu, là vụ cho quả chín đẹp và thơm ngon nhất.

2. Chọn đất trồng dễ tiêu thoát nước

Là loại cây có rễ dễ bị thối khi ngập úng, khi trồng cây khế ngọt  trong chậu – vốn là môi trường hạn chế lượng đất, bạn cần chọn đất mùn tơi xốp. Độ pH của đất thích hợp là 5,5 đến 6,5. Trước khi cho đất này vào nên lót một ít sỏi hoặc đá xuống dưới chậu cảnh để dễ thoát nước. Kinh nghiệm của nhiều người trồng khế lâu năm cho thấy mỗi năm nên thay 1/3 số đất trong chậu bằng đất mới để có đủ chất dinh dưỡng cho cây.

3. Điều hòa lượng nước tưới

Trồng trong chậu đồng nghĩa với việc khế rất khó tìm lượng nước ngầm trong lòng đất, vì vậy, bạn cần cũng cấp đủ nước cho cây trong những giai đoạn cần thiết. Thời tiết khô hạn từ tháng 6 đến cuối năm sẽ ảnh hưởng đến quá trình ra hoa kết quả của cây khế. Chính vì vậy, cần tưới nước thường xuyên cho cây khế trong giai đoạn này. Một mẹo nhỏ để giữ ẩm cho cây khế của bạn là hãy đặt chậu cảnh dưới bóng râm của giàn dây leo hoặc những cây cảnh có tán rộng hơn. Như vậy, sẽ hạn chế được ánh nắng rọi trực tiếp vào cây khế, tránh làm hao hụt lượng nước.

4. Tỉa cành và bón phân

Khế là loại cây ưa phân bón hữu cơ. Phân chuồng, kali, tro bếp, vôi bột là những loại phân bón thích hợp cho trồng khế. Cần sử dụng thêm phân bón tổng hợp và điều tiết trong từng giai đoạn phát triển của cây khế. Ngoài ra, sau vụ thu hoạch quả, trước khi khế ra hoa vụ mới cần cắt tỉa bỏ bớt những cành già, cành sâu bệnh, cành mọc chen chúc, cành yếu…Nếu cây khế có tán quá dày choán hết diện tích chậu nên tỉa bớt cho tán cây thông thoáng. Như đã nói ở trên, khế không ưa ánh nắng rọi trực tiếp nên cần cắt tỉa sao cho có khung tán rộng, cành phân bố đều trong tán. Như vậy sẽ tránh được ánh nắng trực xạ làm nứt vỏ và nám quả.

Để khế ngọt ra trái quanh năm

Để khế ngọt ra trái quanh năm

Cắt bỏ tất cả các cành trên cây càng tốt. Làm như vậy khế ngọt bị đau tức sẽ ra nhiều lộc ở các kẽ lá và các chùm hoa nhỏ li ti cũng sẽ mọc ra để cho quả


Khế ngọt ăn tươi như các loại trái cây khác, làm mứt, nước quả, …trái khế ngọt có tính nhuận trường, khích thích ăn ngon miệng và giải nhiệt. Khế giàu vitamin C (25 – 40 mg/100 g thịt quả), carotene (150 (g) và cho khoảng 25 – 35 calo/100 g phần ăn được. Để cây khế ra trái quanh năm, chúng ta có thể tham khảo cách làm sau :

Khế ngọt từ 3 năm trở đi đã cho quả khá nhiều, đây là thời gian bắt đầu sử dụng các biện pháp tác động.

- Chon thời gian tác động:

Sau khi thu hái hết lứa trái khế ngọt cuối cùng ta dọn vệ sinh quanh gốc, xới xáo nhổ cỏ đốn tỉa bỏ hết các cành con, cành còi cọc, cành mọc sát đất. Bón phân hồi sức cho cây bằng 10 – 15kg phân chuồng hoai mục, 1kg phân NPK. Tưới nước giữ ẩm thường xuyên

- Điều kiện thứ hai quyết định đến ra quả quanh năm của khế là cắt bỏ phần ngọn non của các cành khế đang phát triển chừng 20cm. Cắt bỏ tất cả các cành trên cây càng tốt. Làm như vậy khế ngọt bị đau tức sẽ ra nhiều lộc ở các kẽ lá và các chùm hoa nhỏ li ti cũng sẽ mọc ra để cho quả. Khi hoa đã ra ta tiếp tục thúc phân và tưới nước cho cây để nuôi quả.

Chú ý: Đối với cây to cao, nhiều cành lá ta chỉ chọn bẻ những cành to thấp, những cành nhỏ hơn bỏ lại rồi lại bẻ cho đợt tiếp theo.

Thứ Hai, 24 tháng 7, 2017

Quả khế cải thiện sức khỏe sau những cơn say

Quả khế cải thiện sức khỏe sau những cơn say

Y học cổ truyền của nhiều nước dùng khế để cải thiện sức khỏe sau những cơn say rượu bí tỉ và trị say nắng…


Quả khế có rất nhiều công dụng tốt cho sức khỏe mà không phải ai cũng biết đến. Trong khế chứa nhiều vitamin C, có thể ngăn ngừa và trị bệnh cảm, đồng thời giúp cơ thể tổng hợp chất collagen làm da mặt mịn màng, tràn đầy sức sống. Ăn khế rất có lợi với những người bị rụng tóc do chứa hàm lượng vitamin nhóm B cao, cần cho sự tăng trưởng của tóc…

Y học cổ truyền của nhiều nước dùng khế để cải thiện sức khỏe sau những cơn say bí tỉ và trị say nắng… Nước ép từ quả khế có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh chàm bằng cách thoa trực tiếp vào những vùng da bị ảnh hưởng. Người mắc bệnh đái tháo đường cũng có thể cắt quả khế ra và đun sôi với một chén nước ở lửa nhỏ đến khi còn lại khoảng nửa chén, chia ra uống 2 lần/ngày.

Đông y còn dùng hoa khế để trị bệnh sốt rét, lấy lá khô chữa ung loét đường tiêu hóa.

Lưu ý: Những người mắc các bệnh về thận cần tránh ăn khế vì khế có chứa nhiều oxalic acid. Chất này sẽ tích lũy ở những quả thận yếu ớt. Dấu hiệu nhận biết cơ thể không thích hợp để ăn khế là sau khi ăn khế từ 1-5 giờ, cơ thể cảm thấy buồn nôn, ói mửa, nấc cụt, mất ngủ…/.

Kỹ thuật trồng khế ngọt

Kỹ thuật trồng khế ngọt

Đất trồng khế ngọt nên chọn loại đất tốt, giàu mùn có nguồn nước tưới. Nếu ở vùng đồi thì chọn đất trồng ở chân đồi.


1. Thời vụ trồng:

Ở miền Bắc, vụ xuân là tốt nhất (tháng 2-3) và có thể là vụ thu (tháng 8-10). Kích thước hố: 0,6x0,6x0,6m. Nếu đất xấu 1,0x1,0x0,8m. Khoảng cách cây 5x6m hoặc 5x5m. Khế ưa bóng râm nên có thể trồng xen trong vườn xoài, mít, nhãn...

2.Chăm sóc:

- Chọn đất ẩm, nhiều màu và nhiều bóng râm: Chú ý cắt tỉa sao cho có khung tán rộng, cành phân bố đều trong tán không cho nắng rọi vào thân chính. Khi cây lớn, cành quá dày thì nên tỉa bớt cho tán cây thông thoáng: Bỏ bớt cành già, cành mọc chen chúc, cành sâu bệnh, cành yếu... Thời gian cắt tỉa thích hợp là vào sau vụ thu hoạch quả, trước lúc ra hoa.
- Mỗi năm sau đợt thu quả (cuối năm) bón cho mỗi gốc 20-30kg phân chuồng. Khi còn nhỏ bón cho mỗi cây 400-500g phân NPK (tỷ lệ là 10:12:7 hay 16:16:8). Cây bắt đầu cho quả có thể bón tăng thêm liều lượng 500-800g/cây (15:15:15). Chú ý tăng cường phân kali.
- Với cây lớn cho nhiều quả bón 3-4kg phân NPK hỗn hợp/cây, chia ra 3-4 lần trong năm. Cách nhau 3-4 tháng bón một lần. Phòng trừ sâu bệnh: Chưa có loại bệnh nấm, virus nào nguy hiểm đối với khế. Các loại sâu đáng chú ý là ruồi đục quả, sâu non thuộc bộ cánh phấn, đục vào quả và có thể ăn cả hoa và quả non. Thu hoạch: Sau khi ra hoa khoảng 100 ngày thì khế chín, tuỳ theo màu sắc quả biết được mức độ chín để thu hoạch cho phù hợp với nhu cầu thị trường. Khế là loại không chín thêm sau khi thu hoạch, do vậy không nên hái xanh. Quả khế dễ giập chỉ nên thu hoạch bằng tay, nếu trên cao thì thu hoạch bằng sào có gắn rọ ở đầu để hái.

3.Phòng trừ sâu bệnh:

Chưa có loại bệnh nấm, virus nào nguy hiểm đối với khế. Các loại sâu đáng chú ý là ruồi đục quả, sâu non thuộc bộ cánh phấn, đục vào quả và có thể ăn cả hoa và quả non.

4. Thu hoạch:


Sau khi ra hoa khoảng 100 ngày thì khế chín, tuỳ theo màu sắc quả biết được mức độ chín để thu hoạch cho phù hợp với nhu cầu thị trường. Khế là loại không chín thêm sau khi thu hoạch, do vậy không nên hái xanh. Quả khế dễ giập chỉ nên thu hoạch bằng tay, nếu trên cao thì thu hoạch bằng sào có gắn rọ ở đầu để hái.

Lợi ích đối với sức khỏe của quả Hồng ít người biết

Lợi ích đối với sức khỏe của quả Hồng ít người biết

Hồng là một loại cây ăn trái thuộc chi Thị (Diospyros). Quả hồng sắc vàng cam đến đỏ cam tùy theo giống; cỡ nhỏ đường kính dưới 1 cm cho tới cỡ lớn đường kính đến 9 cm. Dáng quả hình cầu, hình con cù, hay dạng quả cà chua bẹp. Đài hoa (calyx) thường dính với quả khi chín.


Loài hồng phổ biến nhất cho trái là hồng Nhật Bản (D. kaki). Trái chín thì ngọt, ít chua, thịt mềm, có khi bị xơ. Loài hồng này, nguyên thủy xuất phát từ Trung Hoa, là một loài cây thay lá, thường rụng lá khi ra quả (deciduous). Cây hồng sau được trồng khắp miền Đông Á, đến thế kỷ 19 thì du nhập vào California và châu Âu.

Giống (cultivar) hồng mòng (Hachiya) có dáng con cù với lượng tannin cao khi còn xanh nên vị chát. Phải đợi thật chín mềm mới ăn được.

Giống hồng giòn (Fuyu) có dáng hình bẹp. Lượng tannin tuy không kém giống hồng mòng nhưng trong quá trình chuyển từ xanh sang chín, giống hồng giòn mất tanin rất nhanh nên trái có thể ăn được sớm hơn khi còn giòn.

Để làm chóng chín, hồng mòng thường được đem rấm. Cách rấm có thể dùng ánh sáng, khí nóng, trấu, cồn, thán khí hay êtilen để ép chín. Một cách khác là đem ngâm nước tro để trái hồng biến chất, mất vị chát. Loại hồng này gọi là hồng ngâm.

Quả hồng có thể ăn tươi hay phơi khô. Hồng khô cần hai đến ba tuần phơi ngoài trời rồi sấy thêm trước khi thành phẩm.

Tại Hàn Quốc, hồng khô được dùng cất rượu, làm giấm

Hồng ngâm đã đi vào tục ngữ tiếng Việt với câu "Tiếc đĩa hồng ngâm cho chuột vọc". Ý muốn nói phí công, phí của tựa một vật quý như hồng ngâm mà để chuột làm hư mất.

Gỗ hồng (D. virginiana) được chuộng dùng làm gậy đánh golf cho tới đầu thế kỷ 20 khi gậy bằng gỗ bị thay thế bằng gậy đúc từ kim loại. Gậy thụt bida cũng hay dùng gỗ cây hồng.

Ngày nay gỗ hồng thường dùng làm cung bắn tên vì độ rắn của gỗ.

Hồng là loại trái cây rất phổ biến tại Việt Nam và được nhiều người ưu thích. Quả hồng không đơn giản là thứ quả tráng miệng thơm ngon mà còn là nguồn cung cấp vitamin và chất khoáng dồi dào như vitamin A, C; photpho, canxi, sắt... Hơn nữa, hồng còn có tác dụng chữa nhiều loại bệnh mà ít người biết đến.

Chống viêm, nhiễm trùng

Quả hồng chứa một lượng khá lớn chất catechin và polyphenol (chất chống oxy hóa). Các chất này có khả năng chống viêm rất tốt, nhờ đó, ăn hồng giúp hỗ trợ chống viêm cũng như nhiễm trùng mạnh.

Muốn có một đôi mắt sáng, bạn hãy bổ sung quả hồng vào thực đơn mỗi ngày. Nguồn vitamin A dồi dào từ quả hồng sẽ giúp cải thiện thị lực, tăng cường tầm nhìn cho đôi mắt. Ngoài ra, lượng sắt trong quả hồng còn giúp hỗ trợ sản xuất hồng cầu trong máu.

Chống ung thư


Vitamin A, shibuol, a-xít betulinic và các chất chống oxy hóa khác chính là các 'chiến binh' chống lại các gốc tự do trong tế bào - tác nhân gây tổn thương tế bào và dẫn đến căn bệnh ung thư.

Tăng cường hệ miễn dịch

Quả hồng tuy nhỏ nhưng lượng vitamin C có trong đó lại không hề nhỏ. Vitamin C chính là yếu tố ngăn ngừa các bệnh như cảm cúm, cảm lạnh, các bệnh nhiễm trùng phổi như hen suyễn. Vì vậy, ăn hồng thường xuyên giúp hệ miễn dịch của cơ thể khỏe mạnh hơn.

Tốt cho hệ tiêu hóa


Loại quả hồng vàng chứa chất tanin có chức năng điều tiết chuyển động của đường ruột, qua đó hỗ trợ điều trị các bệnh tiêu. Không chỉ vậy, quả hồng rất giàu chất xơ nên việc ăn hồng thường xuyên sẽ giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh hơn. Quả hồng xanh giã nát, cho thêm nước đun sôi để nguội, nước uống này chữa tiêu chảy rất hiệu nghiệm.

Hỗ trợ bệnh nhân tiểu đường


Bệnh nhân tiểu đường luôn phải đặc biệt chú ý đến chế độ ăn, tuy nhiên quả hồng lại là loại trái cây có thể ăn bất cứ lúc nào. Chìa khóa nằm ở lượng chất xơ phong phú của quả hồng, giúp người bị căn bệnh này giảm cảm giác thèm ăn và mức độ đói. Hơn nữa, loại trái cây này còn góp phần điều chỉnh lượng đường trong máu, rất tốt với bệnh nhân tiểu đường.

Tốt cho người bị huyết áp cao


Những người bị cao huyết áp cần phải tránh những loại thực phẩm có chứa nhiều muối. Hồng được biết đến là loại trái cây có lượng natri cực thấp, đồng thời chất shiboul có tác dụng làm hạ huyết áp nên bệnh nhân cao huyết áp có thể đưa hồng vào thực đơn hàng ngày.

Hỗ trợ giảm cân


Quả hồng chứa rất ít calo và chỉ cung cấp 31 g carbonhydrate trong tổng trọng lượng trung bình của một quả là 168 g. Do vậy, những người muốn giảm cân có thể sử dụng loại trái cây này để hỗ trợ quá trình giảm cân.

Chống xuất huyết tự nhiên


Người Nhật Bản thường sử dụng quả hồng để kiểm soát chảy máu do bị thương. Trong Đông y, vỏ, rễ, thân cây và tai quả hồng cũng được sử dụng trong các bài thuốc cầm máu.

Chữa nấc

Có nhiều bài thuốc chữa nấc đơn giản, dễ kiếm và khá rẻ tiền mà lại rất hiệu nghiệm chỉ từ những quả hồng. Có thể dùng tai hồng sao vàng, tán thành bột mịn rồi uống với rượu là có thể chữa khỏi nấc. Ngoài ra, có thể dùng tai hồng (100g), đinh hương (8g) và gừng tươi (5 lát) sắc lấy nước uống nhiều lần trong ngày cũng trị nấc rất hiệu quả.

Các bài thuốc này có thể trị dứt điểm bị nấc trong nửa ngày, lâu nhất là 3 ngày trong trường hợp bệnh đã kéo dài.

Lưu ý: Không nên ăn quá nhiều quả hồng bởi vì nó có chứa fructose, có thể có hại cho sức khỏe của bạn với số lượng quá mức.

Chọn quả hồng ngâm ngon, không hóa chất

Chọn quả hồng ngâm ngon, không hóa chất

Chọn hồng ngâm ngon, không hóa chất sẽ mang lại an toàn cho bạn. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết cách lựa chọn và phân biệt được những quả hồng thơm ngon, không bị ngâm hóa chất.


Lợi ích từ quả hồng ngâm


Hồng ngâm là loại quả ngon, chứa nhiều chất khoáng tốt cho cơ thể Hồng ngâm là loại quả ngon, chứa nhiều chất khoáng tốt cho cơ thể

Hồng ngâm ngoài cung cấp một giá trị năng lượng như nhiều trái cây khác thì trong loại trái cây này có khá nhiều khoáng chất tốt cho sức khỏe như mangan - chất khoáng vi lượng giúp điều hòa thần kinh, tăng cường sự phát triển của trẻ em.

Ngoài ra trái hồng ngâm còn có khá nhiều kali tốt cho những người bị cao huyết áp, làm việc trí óc và người hoạt động nhiều được hoạt động tốt hơn. Bên cạnh đó, quả hồng còn có kẽm, đồng và vitamin C, axit amin… rất tốt cho sức khỏe.

Cách chọn hồng ngâm ngon, không hóa chất

Có thể phân biệt hồng ngâm hóa chất bằng mắt thường có thể phân biệt hồng ngâm hóa chất bằng mắt thường

- Trên thị trường có 2 loại hồng ngâm. Loại hồng ngâm 1 là loại hồng ngâm vôi. Đây là loại mà khi bán vẫn còn 1 lớp vôi bám ở bên ngoài. Hồng này được ngâm bẵng nước vôi. Loại này ăn cũng không vấn đề gì nếu không phải là hồng Trung Quốc.

Loại hồng ngâm thứ hai nhìn như trái hồng xanh, ăn giòn và ngọt. Đây thường là loại hồng ngâm Đà Lạt vậy nên, bạn nên lựa những trái hồng già. Sau khi mua về, bỏ vào bao nylon cột kín lại, bỏ vào thùng nước ngâm khoảng 7,8 ngày vớt ra ăn. Hồng ăn lúc này sẽ ngọt và giòn mà không chất bảo quản.

- Ở nhiều chợ, bạn có thể thấy có loại hồng ngâm còn được lọc sạch cuống và được rửa kỹ càng rồi mới đem bán. Nhìn qua, bạn cảm giác loại hồng này an toàn. Song thực chất bạn không nên mua loại hồng này vì thực chất thuốc bảo quản đã được sử dụng cho hồng ngâm từ trước đó rồi.

- Để biết hồng có chứa hóa chất hay không, bạn có thể quan sát nũm quả hồng ngâm bằng mắt thường. Nếu như quả hồng đã bị phun thuốc bảo quản thì nũm quả hồng thường xuất hiện những vùng trắng.

- Khi mua hồng về nhà, nếu quả hồng ngâm không được phun thuốc sẽ xuống mã rất nhanh. Ngay cả khi để tủ lạnh sau 1 - 2 ngày, chúng vẫn có dấu hiệu bị thâm đen, nũm mềm, giảm vị ngọt. Ngược lại, nếu quả hồng bị phun thuốc thì thời gian bảo quản thường lâu hơn.

- Vì khó phân biệt bằng mắt thường nên khi bà nội trợ nên mua hồng ngâm ở những địa chỉ uy tín. Bạn nên mua hồng quả bé, tuy nhìn không ngon mắt nhưng ăn khá ngon. Khi để quả hồng tới hôm sau cũng thấy chín hoặc hỏng dần.

- Tuy hồng ngâm là một loại quả ngon và bản chất của nó khá bổ dưỡng, nhưng cũng nên ăn hạn chế trước khi chưa biết rõ thực hư. Đặc biệt, trước khi ăn, nên rửa sạch vỏ rồi gọt, gọt kỹ rồi tiếp tục ngâm nước muối để lọc bớt được chất độc hại ít nào hay ít đó.

Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2017

Công nghệ bảo quản và sấy hồng

Công nghệ bảo quản và sấy hồng

Công nghệ này được áp dụng bảo quản cho hai loại hồng dấm đỏ và hồng ngâm, quả hồng vẫn giữ được màu sắc, mùi vị, trạng thái tự nhiên gần như ban đầu, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm được đảm bảo.


Nâng cao chất lượng chế biến


Sau gần 3 năm nghiên cứu, chế tạo, cuối tháng 10 - 2003, Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch (Bộ NN&PTNT) đã đưa ra ứng dụng mô hình công nghệ máy bảo quản và sấy hồng phục vụ cho bà con nông dân 2 tỉnh Thừa Thiên- Huế và Hòa Bình. Đây là một công nghệ tương đối hiện đại có khả năng sấy hồng với sản lượng và quy mô lớn, đảm bảo được chất lượng tự nhiên của hồng.

Hai loại công nghệ trên đã được KS Hoàng Kim Phượng cùng các cộng sự thuộc Phòng Nghiên cứu chế biến nông sản của Viện tiến hành nghiên cứu từ năm 2001. Theo KS Phượng, trước đây, việc bảo quản và sấy hồng thường được các hộ nông dân làm theo phương pháp thủ công là chính, nên thời gian bảo quản cũng như chất lượng sấy còn rất thấp. Mô hình bảo quản và sấy hồng đầu tiên đã được Viện lắp đặt tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên- Huế. Hai công nghệ được trình bày dưới đây là những thiết bị lần đầu tiên được ứng dụng tại nước ta.

Công nghệ bảo quản hồng


Công nghệ này được áp dụng bảo quản cho hai loại hồng dấm đỏ và hồng ngâm. Các bước tiến hành bảo quản như sau: thu hoạch hồng xong, lựa chọn quả, tiến hành tẩy rửa, đưa hồng nhúng vào chất bảo quản, sau đó hong khô và đóng túi (khi đóng túi phải sử dụng chất hấp thụ Ethylen- R3), cuối cùng đem xếp lên giàn bảo quản. KS Phượng cho biết: nếu tiến hành sấy theo quy trình này, thời gian bảo quản sẽ được nâng lên 45- 60 ngày (tuỳ giống) so với 15- 20 ngày nếu sấy bằng phương pháp thủ công. Ưu điểm của thiết bị bảo quản này là ở nhiệt độ thường, quả hồng vẫn giữ được màu sắc, mùi vị, trạng thái tự nhiên gần như ban đầu, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm được đảm bảo, đặc biệt tổng tổn thất trong quá trình bảo quản giảm xuống còn dưới 15%.

Để bảo quản hồng được tốt, trong quá trình bảo quản cần chú ý nguyên liệu bảo quản phải tươi tốt, không sâu bệnh, quả đạt độ già khi thu hái (vỏ quả màu xanh chuyển sang xanh vàng). Sử dụng chất hấp thụ R3 và chất chống nấm Bendo đúng liều lượng (2,5 gam R3/kg quả, 1,5 gam Bendo/lít nước). Nếu bảo quản với liều lượng như trên sẽ đạt kết quả tốt, dư lượng chất kháng sinh trong thịt quả hạ xuống còn dưới 1ppm. Ngoài ra, phải luôn giữ cho kho bảo quản sạch sẽ, môi trường thoáng mát, tiệt trùng.

Sấy hồng bằng hệ thống máy sấy gián tiếp

Theo KS Hoàng Kim Phượng, hiện nay ở nước ta mới có vùng nguyên liệu hồng từ Đà Lạt đã cho ra sản phẩm hồng sấy từ quả hồng dấm đỏ, kỹ thuật sấy tại đây vẫn rất thủ công, do sấy trực tiếp trên lò than, nên chất lượng vệ sinh không được đảm bảo. Máy sấy hồng mà các nhà khoa học của Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đưa ra lần này là một hệ thống máy sấy gián tiếp với năng suất 200kg/mẻ. Đặc biệt hệ thống có thể sấy được một số giống hồng trước đây chưa thể thực hiện bằng lò thủ công như hồng Nhân Hậu ở Huế, hồng Thạch Thất ở các tỉnh phía Bắc. Quy trình sấy hồng được tiến hành theo các bước sau. Trước tiên là khâu chọn nguyên liệu, hồng sấy phải tươi, đem dấm chín, lựa chọn những quả đạt tiêu chuẩn, rửa sạch, sau đó gọt sạch vỏ, xếp đều lên khay và sấy. Hồng được sấy xong ép tạo thành hình rồi tiếp tục đem sấy lần 2, mang hồng ra để nguội và đóng gói. Trong quá trình sấy, cần lưu ý quả hồng phải cứng, vỏ quả đang ở màu vàng đỏ. Nhiệt độ sấy luôn luôn duy trì ở mức 650C, khi sấy phải thường xuyên nắn, ép hồng để tạo hình. Theo PGS- TS. Trần Đức Dũng- Trưởng phòng Nghiên cứu chế biến nông sản, Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, sau khi ứng dụng tại Huế cho thấy, sản phẩm hồng sấy đạt chất lượng rất cao, nếu có đủ điều kiện trong thời gian tới Viện sẽ tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh công nghệ và ứng dụng rộng rãi ở nhiều địa phương khác.