Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2018

Kinh nghiệm điều khiển sơri ra hoa

Kinh nghiệm điều khiển sơri ra hoa

Sơri là một trong số ít các loại cây trồng có thể chịu đựng và tồn tại được trong những điều kiện khắc nghiệt của môi trường như khô hạn, ngập úng, nước mặn, đất nghèo dinh dưỡng... Hiệu quả kinh tế khá cao so với một số cây trồng khác.


Cây sơri bắt đầu thu hoạch ổn định vào năm thứ 3, mỗi năm cho thu hoạch khoảng 8 đợt trái. Với mật độ 40 gốc/1.000 m2 năng suất từ 25 kg/cây, bình quân đạt khoảng 1 tấn trái/1.000 m2/năm. Bằng kinh nghiệm của mình, anh Trần Văn Hữu (ở ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thị xã Bến Tre) thực hiện cho sơri ra trái rải vụ tránh thu hoạch rộ cùng lúc rớt giá, tăng thêm lợi nhuận.

Phương pháp anh Hữu thực hiện như sau: Sau khi thu hoạch, tiến hành tỉa cành cho cây thông thoáng và nhận đủ ánh sáng, bón phân cho mỗi gốc 300 g NPK 16-16-8 kết hợp phun phân bón lá F.Bo ướt đều lên tán cây. Sau 10 ngày cây sẽ ra hoa đồng loạt, sau khi hoa nở rộ phun GA­­3, một gói cho bình 8 lít giúp cây đậu trái tốt.

Để cây sơri ra hoa sớm thì vào đầu mùa mưa (khoảng đầu tháng 4) tưới nước ướt đẫm cây, đồng thời dùng chế phẩm bón lá ra hoa C.A.T + F.Bo phun ướt đều tán cây hai lần (5 ngày một lần) cây sẽ ra hoa sớm và đồng loạt hơn vụ chính 15 ngày.

Còn muốn xử lý ra hoa trễ vụ thì khi cây ra hoa rộ vào đầu mùa mưa tiến hành làm cho hoa rụng bằng cách dùng cây chà quơ cho hoa rụng hoặc phun phân Urê, liều lượng 150 g/bình 8 lít. Sau khi hoa rụng xong bón cho cây một đợt phân rồi phun chế phẩm ra hoa C.A.T + F.Bo, phun ướt đều tán cây hai lần (7 ngày một lần) cây sẽ ra hòa đồng loạt và trễ hơn vụ 1; sớm hơn vụ 2 là 15 ngày.

Trên cùng một mảnh vườn, để hạn chế thu hoạch rộ một lần, nhà vườn có thể chia thành ba khu xử lý khác nhau.

Khu 1: Xử lý cho ra hoa đậu trái tự nhiên;

Khu 2: Xử lý ra hoa đậu trái trễ hơn khu thứ nhất 10 ngày;

Khu 3: Xử lý ra hoa đậu trái trễ hơn khu thứ nhất 20 ngày. Với cách phân bố này, nhà vườn sẽ hạn chế thu hoạch trái rộ một đợt.

Kỹ thuật làm sơ ri ra trái

Kỹ thuật làm sơ ri ra trái

Sơ ri một năm cho ra trái 2 vụ. Nhưng với kĩ thuật ngày nay một năm ta có thể cho ra hoa từ 6- 8 lần/ năm, tốt nhất là ta cho ra hoa khoảng 6 lần/ năm để cây có thời gian nghỉ và phục hồi năng lượng.



ĐẶC TÍNH CÂY SƠ RI:

- Ra hoa quanh năm, hoa chùm từ 4 - 8 hoa trên một cánh hoa.
- Sơ ri không kén đất trồng, phù hợp với những vùng đất cát pha hay đất phù sa cổ (đất feborit ). Lưu ý: Nếu trồng vùng đất sét hay đất phù sa, ta nên trồng trên mô cao để dễ xử lí hệ thống thoát nước cho tốt cây khỏi bị ngập úng và dễ xử lí ra hoa. Nhưng trong giai đoạn ra trái cây cũng cần nhiều nước, nếu thiếu nước trái sẽ không bóng và to.
- Ở Việt Nam thủ phủ trồng cây sơ ri nhiều nhất là: huyện Gò Công Đông Tỉnh Tiền Giang. Các vùng khác, vùng nào cũng có thể trồng được.

CHU KÌ

- Sơ ri một năm cho ra trái 2 vụ. Nhưng với kĩ thuật ngày nay một năm ta có thể cho ra hoa từ 6- 8 lần/ năm, tốt nhất là ta cho ra hoa khoảng 6 lần/ năm để cây có thời gian nghỉ và phục hồi năng lượng.
- Từ ngày ra hoa đến ngày thu hoạch trái chín, thời gian là 21 ngày (khoảng 3 tuần).
- Thời gian thu hoạch kéo dài từ 7 - 10 ngày mới hết trái trên cây (thời gian này có thể ít hoặc nhiều hơn, tùy thuộc vào một phần kĩ thuật xử lí đậu trái nhiều hay ít)

PHÂN BÓN:


- Giai đoạn 1: Cây phát triển, lượng phân N-P-K cân đối (có thể giảm K)
- Giai đoạn 2: Cây chuẩn bị làm trái, cân đối lượng phân N-P-K ( bằng nhau)
- Giai đoạn 3: Làm trái, tăng cường thêm K, vì giai đoạn này là giai đoạn quan trọng nhất đối với cây sơ ri. Nếu cây thừa đạm (N) thì cây sẽ tốt quá, cây sẽ phát triển lá không ra hoa và trái nhiều được. Vì vậy, ta nên tăng cường thêm hàm lượng K cao hơn thì cây sẽ ra hoa và đậu trái chất lượng hơn, trái sẽ ngọt hơn.

XỬ LÍ RA HOA:

- Cách 1: Nếu lần đầu tiên xử lí, ngưng nước ( cắt nước) một thời gian nhất định. Rồi ta tưới lại, phần này nhằm làm cho cây rụng bớt lá ( ức chế sinh trưởng) cây sẽ ra hoa nhiều hơn.
- Cách 2: Xịt KNO3 (nitrat kali) tỉ lệ kích thích ra hoa 250 gam/ bình 8 lit nước. Xịt từ 2- 3 lần, mỗi lần cách nhau 1 tuần.
Áp dụng 2 cách trên, cách nào cũng được, vì cây sơ ri chỉ xử lí ra hoa một vài lần đối với cây trồng ở dưới đất thì cây sẽ quen theo chu kì mà tự động ra hoa theo một thời gian nhất định (cây sơ ri bonsai trong chậu thì ta chăm sóc tốt, chỉ xử lí ra hoa khi nào cần thiết ).
Cách xử lí ra hoa này là kinh nghiệm của riêng tôi, chứ không phải theo bài bản hay sách vở gì cả. Trước kia tôi cũng áp dụng theo công thức sách vở nhưng tỉ lệ thành công không cao.
CHÚ Ý: Đây là giai đoạn quan trọng nhất nha!

THUỐC LÀM ĐẬU TRÁI

1/ Khi hoa vừa chớm nở, cánh hoa sẽ có màu hồng phấn hoặc hơi đỏ. Lúc này ta bắt đầu xịt lần 1
2/ Vì sơ ri ra hoa chùm từ 4 - 8 hoa/ cuống nên không bao giờ hoa nở đồng loạt cả. Cách một ngày sau ta xử lí xịt lần 2 và cũng lặp lại như thế lần 3 là OK.
3/ Khi ta thấy những cánh hoa lúc nở có màu hồng hoặc đỏ - giờ đã chuyển sang cánh hoa có màu trắng ngà là lúc ấy tỉ lệ đậu trái của cây sơ ri đã thành công (các bạn lưu ý rằng : bởi vì một cuống hoa có rất nhiều hoa nên hoa sẽ rụng bớt đi một phần hoa đực. Các bạn yên tâm đừng lo gì cả, một chùm hoa khi đậu trái còn lại 4-5 trái bẻ cũng mỏi tay rồi)

BÍ KÍP NÈ: CÔNG THỨC PHA THUỐC

- B1 (các bạn mua B1 nông dược loại nào cũng được, loại đậm đặc hoặc loại đã pha chế rồi GROW MORE)
- 2,4 DD: Thuốc khai hoang dạng nước (tỉ lệ pha: 1/1000) không nhất thiết phải nhiều đâu, chỉ cần có hơi thuốc 1 lượng nhỏ nhất định thì tỉ lệ đậu hoa đã thành công. Nên nhớ rằng: 2,4 DD là thuốc khai hoang nhưng hoạt chất chính là chất kích thích tăng trưởng tế bào, nếu các bạn dùng nhiều quá liều lượng thì trái sơ ri của các bạn sẽ bị dị dạng và chứa rất nhiều độc tố gây hại cho chúng ta.
CÁCH PHA THUỐC XỊT:
- Hai loại thuốc trên hòa chung lại với nhau theo tỉ lệ như sau: 100 ml B1 + 50 ml 2,4 DD ( nhiều quá để dành xịt, không sau cả)
- Mỗi lần xịt: 5 ml/ bình 8 lit.
- Khi trái đậu lớn bằng ngón tay út, khoảng 10 ngày sau nên xịt thêm thuốc dưỡng trái loại nào cũng được để trái to và bóng đẹp hơn.
Kinh tế lắm nha một 100 cây sơ ri chấp 200 cây nhản đó

Kỹ thuật trồng cây sơ ri

Kỹ thuật trồng cây sơ ri

Chọn cành sát mặt đất, vỏ chuyển màu nâu, bẻ gập ngước cho gãy phần lõi nhưng vẫn còn dính lại phần vỏ. Nhúng vết gãy vào dung dịch 2,4 D nồng độ 40-60 phần triệu và bó đất vào bọc nilon lại sau 1-5 tháng, cắt ra cho vô bầu đợi đem trồng mới.

1.Chọn đất và chuẩn bị đất
Sơri chủ yếu được trồng ở vùng Gò Công, trên đất cát giồng xa biển, đã đào ao lên nền vườn. Tiến hành cày hoặc cuốc lật 1-2 lần, sau đó phóng tuyến đào hố với khoảng cách 5 x 5m. Hố có kích thước 30 x 30cm + 5-7 kg phân hữu cơ 150g super lân.

2. Chọn giống và phương pháp nhân giống


Chọn cây 3-7 tuổi khỏe để làm giống.

a. Chiết cành:

Chọn cành sát mặt đất, vỏ chuyển màu nâu, bẻ gập ngước cho gãy phần lõi nhưng vẫn còn dính lại phần vỏ. Nhúng vết gãy vào dung dịch 2,4 D nồng độ 40-60 phần triệu và bó đất vào bọc nilon lại sau 1-5 tháng, cắt ra cho vô bầu đợi đem trồng mới.

b. Giâm cành:

Cắt các cành mới hoá nâu thành đoạn 20-25cm; nhúng vào dung dịch 2,4D nồng độ 40-60 phần triệu trong 15-20 phút. Sau đó đem giâm ở vườn giâm, khoàng cách giâm 12 x 12cm (70 cành/m2). Tưới nước giữ ẩm mỗi ngày.

Sau 1-5 tháng bứng cây cho vào bầu đem trồng.

3. Trồng và chăm sóc:

a. Thời vụ:

Tốt nhất nên trồng vào tháng 5-6. chậm nhất là qua tháng 7. sau khi trồng, dựng cây nọc để buộc cây sơri vào cho cây đứng thẳng.

Nếu có nguồn nước tưới trong mùa nắng, có thể trồng vào cuối tháng 10 đến hết tháng 11.

b. Làm cỏ, bón phân, xới xáo:

Trong thời gian cây chưa giao tán, cần làm cỏ định kỳ hoặc trồng xen rau màu để hạn chế cỏ.

Bón phân theo công thức sau: (g/cây)
 
Tuổi Urê Super Lân Kali Clorua
0 100 75 25
1 650 400 170
2 850 500 220
3 1000 650 250
4 1400 800 350
5 1800 900 450
6-7 2000 1200 500
8 trở đi 2200 1400 550



4. Phương pháp bón phân


- Cây chưa có trái

+ Bón Super lân 1 lần vào và dầu mùa mưa.

+ Bón thúc Urê và Kali chia làm 3 lần.

- Cây đã có trái:

+ Bón super lân 2 lần vào đầu và giữa mùa mưa.

+ Bón thúc Urê và Kali chia làm 5 lần theo 5 đợt hoa.

Mỗi đợt, Urê và Kali chia làm 2 kỳ: kỳ đầy lúc cây vừa đậu trái, kỳ sau ngay sau lúc thu hoạch rộ.

Kết hợp phân bón với xới xáo dưới gốc cây.

5. Tăng tỷ lệ đậu trái

Pha 2,4D (thuốc trừ cỏ lúa) nồng độ 40-50 phần triệu, cách pha:

+ Pha một muỗng canh đầy 2,4D trong một lít nước.

+ Pha một muỗng canh dung dịch trên trong 1 bình 8 lít nước. Phun ướt đều cây lúc cay trỗ hoa rộ.

6. Tưới vào mùa khô:


Nếu không tưới vào mùa khô, cây sẽ không ra hoa đậu trái.

Nếu có tưới, có thể thu hoạch trong mùa khô 1-4 vụ tùy vào khả năng.

Tuy nhiên, càng cho cây nghỉ, không ra hoa đậu trái 1,5-2 tháng/năm để dưỡng sức cây.

7. Điều chỉnh ra hoa trái đợt rộ:


Có 2 biện pháp:

a. Bơm nước (không bị nhiễm phèn, mặn) tưới dẫm cây vào tháng 4, trước khi có mưa đầu mùa 10-15 ngày, cây sẽ ra hoa không trùng đợt rộ.

b. Khi cây ra hoa đầu mùa mưa, hủy bỏ đợt hoa này bằng cách:

- Dùng chà quơ cho rụng hoa.

- Phun Urê nồng độ 2/100.

- Không phun 2,4D.

Sau đó, bón thúc 1 đợt phân, cây sẽ ra hoa đợt tiếp theo không trùng với đợt rộ.

8. Tỉa cành – tạo tán


+ Cây cao 0,3m: bấm đọt, chừa 3-4 cành tược khỏe mạnh.

+ Cây cao 0,8m: bấm đọt, chừa 4-6 cành tược trên mỗi cành tược cấp 1.

+ Khi cây cao 2-2,2m: luôn phát đọt không cho cây cao thêm.

Cây quá già, uốn cành xuống để dễ thu hoạch.

9. Phòng trừ sâu bệnh


- Rếp sáp, rệp muội: Khi phát hiện phun Methyl Parathion, Sherzol, Bi 58, Azodrin, diazinon,… nồng dộ 1/600-1/800. phun khi thu hoạch xong cây không còn trái.

- Sâu đục thân: Phòng bằng cách tạo tán cho vườn râm, chặt cành sau tiêu hủy, phun Bi 58.
Trung tâm thông tin tư liệu

Thứ Hai, 7 tháng 5, 2018

Quất hồng bì vừa ngon vừa chữa bệnh hiệu quả

Quất hồng bì vừa ngon vừa chữa bệnh hiệu quả

Từ đầu tháng 7, quất hồng bì đã vào mùa rầm rộ. Vị chua ngọt hơi the khiến loại quả này rất được lòng các chị em. Không chỉ là quả ăn, quất hồng bì còn có nhiều tác dụng chữa bệnh hiệu quả khác.


Hồng bì là loài cây được trồng ở nhiều tỉnh miền Bắc nước ta để lấy quả ăn. Cây còn có tên là “quất hồng bì”, “hoàng bì” , “kim đạn tử”, “do bì”, “do mai”, ... có tên khoa học là Clausena lansium, thuộc họ Cam quít. Đây là loại cây thân gỗ, cao khoảng 3 – 5 m.

Bộ phận làm thuốc gồm quả (được bổ dọc, phơi khô gọi là quất bì hay hồng bì); hạt của quả chín phơi khô, lá, vỏ rễ phơi khô.

Dân gian dùng toàn cây quất hồng bì làm thuốc. Theo Đông y, lá quất hồng bì vị cay, đắng, tính bình, có tác dụng giải thử (cảm nắng), cảm cúm, hạ sốt, long đờm và giảm ho. Còn quả có vị chua, tính bình, hơi ấm, có tác dụng giảm ho, long đờm, kích thích tiêu hóa và cầm nôn mửa. Vỏ thân cây hồng bì kết hợp vài vị thuốc khác dùng cho phụ nữ sau sinh.

Do vậy, hồng bì ngoài việc được trồng để lấy quả ăn, thì còn có thể sử dụng các bộ phận khác để chữa bệnh.

Cách chọn quất hồng bì: Để mua được quất hồng bì ngon, các mẹ nên chọn chùm có cuống còn tươi, quả to đều, màu vàng đậm, ăn sẽ ngọt chứ không chua gắt.

Cách trị bệnh từ quất hồng bì


Giải cảm, hạ sốt: Lá quất hồng bì tươi 30g, rửa sạch, phơi khô, sắc uống cho ra mồ hôi.

Chữa ho cho trẻ: Quả hồng bì tươi, hấp với đường, cho trẻ ăn ngày 3 lần sáng, trưa, tối. Sau vài ngày bệnh sẽ giảm nhanh chóng.

Chữa tốt bệnh ho gà: Quả phơi khô, bỏ hạt 50g, vỏ rễ dâu (tang bạch bì) 50g, củ sả 50g, củ bách bộ 50g, ô mai 50g, cát cánh 50g, hạnh nhân 50g, kinh giới 50g, cam thảo 50g, bạc hà 50g.

Tất cả sắc với nhiều lần nước. Lấy nước đặc, thêm đường nấu thành si rô. Mỗi lần uống 1 – 5 thìa tùy theo lứa tuổi và tình trạng bệnh nặng hay nhẹ.

Để kích thích tiêu hóa và phòng bệnh cho phụ nữ sau đẻ: Lấy vỏ thân hoặc rễ cây quất hồng bì 30g, rễ sử quân 20g, quả khế chua 20g. Các vị sao vàng, sắc đặc, chia uống nhiều lần trong ngày. Có thể dùng trong nhiều ngày liền.

Đau dạ dày, đau bụng co thắt: Dùng hạt hồng bì, phơi hay sấy khô = sao thơm, tán mịn ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 6-10g; chiêu bằng nước hoặc rượu nhạt.

Đau thắt dưới tim hoặc giun đũa chòi lên: Dùng quả hồng bì tươi, nhai và nuốt cả vỏ. Hoặc dùng 20g quả khô (hay 50g quả tươi) sắc nước uống vào lúc đói.

Chữa bị nấc: Dùng 15 – 20 quả quất hồng bì chín, dầm nát kết hợp với 1 thìa cà phê đường hoặc mật ong, hấp cách thủy, khi quả quả chín, dầm nát pha nước uống.

Cầm nôn mửa: Quả quất hồng bì tươi nhai cả vỏ, nuốt nước dần dần.

Bí tiểu tiện: Dùng lá hồng bì 4-5 lá, rượu 30-40ml, thêm nước sắc uống.

Chữa rắn cắn: Dùng hạt hồng bì nhai nát, nuốt nước, bã đắp lên nơi rắn cắn.

Công thức ngâm quất hồng bì:

Nguyên liệu: 1kg quất hồng bì; 1kg đường phèn

Cách làm

1. Rửa quất hồng bì với nước đun sôi để nguội, rồi đợi ráo nước.

2. Dùng kéo cắt cuống hồng bì. Chú ý không nên dùng tay bứt vì sẽ làm nát quả

3. Cho quất hồng bì vào lọ, phủ đường phèn lên. Buộc nút chặt lọ

4. Để ngâm trong vòng 3 tháng, lớp đường phèn tan đi ta sẽ có một hũ quất hồng bì ngọt thanh thơm mát

Lưu ý: Nhớ rửa hồng bì bằng nước đun sôi để nguội và khi ngâm, cho lớp đường phèn lên trên. Lớp đường ở trên sẽ giữ chặt hồng bì, không cho hỗn hợp nổi váng sau ngâm.

Cây quất hồng bì – cách trồng và chăm sóc cây

Cây quất hồng bì – cách trồng và chăm sóc cây

Cây quất hồng bì là cây ăn quả mới độc đáo được trồng nhiều ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung để lấy quả ăn. Cây cho quả ngon và thơm, có vị chua chua ngọt ngọt. Ngoài việc trồng để lấy quả chúng còn có nhiều tác dụng chữa bệnh kể cả vỏ cho tới hạt. Ngoài ra, cây còn cho bóng mát có giá trị cảnh quan thiên nhiên thật đẹp.

Đặc điểm của cây quất hồng bì

- Là loại thân gỗ nhỏ, có chiều cao từ 8-10m.

- Cành non hơi ráp, sần sùi vì có nhiều tuyến.

- Cây có hoa màu trắng, mọc thành từng chúm. Còn lá thì mọc so le nhau.

- Qủa có hình cầu, có màu vàng đất, có lông và nhiều hạt.

- Qủa có vị chua nhưng rất thơm.

Cách trồng cây quất hồng bì

- Đào hố trồng cây: hố trồng có kích thước chuẩn là 60x60x60cm. Mỗi hố cách nhau khoảng 5m.

- Phân bón lót cho cây: Trộn lẫn đất với 5kg phân chuồng hoai mục, 1kg phân NPK cho xuống dưới hố. Sau đó, lấp đất lên khoảng 5cm để tránh rễ cây tiếp xúc trực tiếp với phân khi rễ còn yếu. Nên rắc một ít vôi bột xuống hố để khử mầm bệnh cho cây.

- Cách trồng cây quất hồng bì: Sau khi chuẩn bị hố trồng và phân bón lót trước đó 1 tháng thì tiến hành trồng cây. Đào một hố nhỏ rồi đặt cây con xuống. Trước khi trồng phải tháo bỏ túi nilon bọc ngoài bầu đất ra. Đặt cây nhẹ nhàng tránh làm đứt rễ. Lấp đất xuống rồi tưới luôn nước cho cây. Dùng cọc tre cố định cây, không để cây nghị nghiêng ngả.

Cách chăm sóc cây quất hồng bì


- Tưới nước: Sau 1 tháng trồng cây phải tưới nước đầy đủ. Vào ngày nắng thì tưới nhiều nước, mùa mưa thì xử lý thoát nước tránh tình trạng cây chết vì ngập úng.

- Bón phân cho cây: Đào rãnh rộng 20cm, sâu 20cm rồi rắc phân xuống, lấp đất. Sau đó, tưới nước lên đó. Lưu ý phải đào xa gốc cây khoảng 20cm.

- Phòng trừ sâu bệnh hại: Thường xuyên thăm nom vườn để phát hiện sâu bệnh sớm. Với bệnh loét sẹo, đốm lá thân và cành lớn, thân quả thì cần phun Rhidomil MZ 73 WP, score 250 ec, hay thuốc gốc đồng để trị bệnh. Ngoài ra, có thể sử dụng Basudin 10C để trị kiến, mối, bọ cánh cứng với cách làm như sau: trộn thuốc với cát theo tỷ lệ 1:10 rắc xung quanh gốc cây. Bên cạnh đó, cần phải cắt cành sâu bệnh bỏ đi tránh lây lan sang những cành khác.

Thu hoạch quất hồng bì

Nên thu hoạch vào lúc trời râm mát, khô ráo. Nếu vận chuyển đi xa thì phải lót rơm hoặc giấy giữa các lớp quả nếu đóng vào sọt. Sau khi thu hoạch xong thì cắt bỏ cành già, cành yếu, cành sâu bệnh.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây quất hồng bì

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây quất hồng bì

Cây quất hồng bì cho quả mọng có màu vàng, hình cầu, có lông và nhiều hạt, vị chua ngọt và thơm, có đường kính 15 mm, có lông, từ 1 đến 2 ngăn, chứa nhiều hạt, thịt quả thơm. Thu hoạch vào tháng 6 tới tháng 10

Cây thường được trồng từ Hà Tĩnh trải dài ra các tỉnh miền Bắc. Cây quất hồng bì phát triển khỏe, rất ít sâu bệnh, sớm cho quả.

Cây quất hồng bì giống được ươm sẵn trong các túi bầu nên thuận tiện cho việc vận chuyển cây giống và đảm bảo cây giống sống 100%.

1. Trồng cây:

- Đào hố trồng cây: Đào hố với khoảng cách 60 - 60 -60cm, lấy lớp đất ặt, băm nhỏ, trộn lẫn với 5kg phân chuồng đã ủ hoai mục, 1kg phân NPK cho xuống dưới cùng của hố, lấp đất thêm tầng 5cm, để rễ cây tránh tiếp xúc trực tiếp với phân khi rễ còn yếu.

- Mật độ khoảng cách: Tuỳ theo từng vùng đất xấu tốt mà bố trí mật độ khác nhau. Khoảng cách trung bình (5 x 6 m), mật độ 333 cây/ha. Có điều kiện thâm canh cao trồng dày khoảng cách (3 x 3,5 m), mật độ 800 – 1.000 cây/ha.

- Trồng cây: Hố thường phải đào trước khi trồng 15-30 ngày. Trộn đều toàn bộ lượng phân ở trên với lớp đất trên mặt, sau đó cho xuống đáy hố, tiếp theo lấp đất thành ụ cao so với mặt hố 15-20 cm. Tách bầu nilong bằng dao sắc tránh hiện tượng làm lung lay bầu quá mạnh. Vét một hố nhỏ đặt bầu rồi lấp đất vừa kín bầu và nén chặt. Sau đó cắm cọc chéo chữ X vào cây và buộc để tránh làm lay gốc làm chết cây.

2. Chăm sóc sau  khi trồng

+ Tưới nước:

Sau khi trồng xong cần phải tưới nước ngay. Nếu trời nắng hạn tưới 1lần/ngày đến khi cây hồi phục sinh trưởng. Sau đó tuỳ điều kiện sinh trưởng và thời tiết để tưới.

+ Cách bón phân : Đào rãnh hoặc hốc rộng 20 cm, sâu 15-20 cm xung quanh tán cây, rắc phân lấp đất, tưới đẫm nước.

Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2018

Phòng trừ dịch hại tổng hợp cho cây dâu tây

Phòng trừ dịch hại tổng hợp cho cây dâu tây

Áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM cho cây dâu tây


1. Biện pháp canh tác kỹ thuật: Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, cắt tỉa các lá già vàng úa tiêu hủy, luân canh cây trồng khác họ, chọn giống khỏe, sức đề kháng sâu bệnh tốt, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

Bón phân cân đối và hợp lý, tăng cường sử dụng phân hữu cơ sinh học, vi sinh. Chăm sóc theo yêu cầu sinh lý của cây. Kiểm tra đồng ruộng phát hiện và kịp thời có biện pháp quản lý thích hợp đối với sâu, bệnh

Thực hiện ghi chép nhật ký đồng ruộng

2. Biện pháp sinh học:  Hạn chế sử dụng các loại thuốc hóa học có độ độc cao để bảo vệ các loài ong ký sinh của ruồi đục lá, các loài thiên địch bắt mồi như nhện, bọ đuôi kìm…   Sử dụng các chế phẩm sinh học trừ sâu bệnh

3. Biện pháp vật lý: Sử dụng bẫy màu vàng, bôi các chất bám dính: dùng nhựa thông (Colophan) nấu trộn với nhớt xe theo tỉ lệ 4/6,  bẫy Pheromone dẫn dụ côn trùng

Có thể sử dụng lưới ruồi cao từ 1,5 -1,8 m che chắn xung quanh vườn hạn chế ruồi đục lá, sâu, côn trùng gây hại bay từ vườn khác sang

4. Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc phải cân nhắc kỹ theo nguyên tắc 4 đúng (đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng, đúng thuốc) và nhớ đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc trước khi dùng. Phun khi bệnh chớm xuất hiện

Chỉ sử dụng thuốc BVTV khi thật cần thiết và theo các yêu cầu sau:

+ Không sử dụng loại thuốc cấm sử dụng cho rau

+ Chọn các thuốc có hàm lượng hoạt chất thấp, ít độc hại với thiên địch, các động vật khác và con người

+ Ưu tiên sử dụng các thuốc sinh học (thuốc vi sinh và thảo mộc)

Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng, 12/2012

Quy trình kỹ thuật trồng cây dâu tây

Quy trình kỹ thuật trồng cây dâu tây

Ban hành kèm theo quyết định số 1251/QĐ-SNN, ngày 13/12/2012 của Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng V/v Ban hành tạm thời quy trình canh tác một số cây trồng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG CÂY DÂU TÂY

(Ban hành kèm theo quyết định số 1251/QĐ-SNN, ngày 13/12/2012 của Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng V/v Ban hành tạm thời quy trình canh tác một số cây trồng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng)

Phần I. Đặc điểm thực vật học và yêu cầu ngoại cảnh:

1. Đặc điểm thực vật học:

Thân: Thuộc loại cây thân thảo, sống đa niên, thân ngắn với nhiều lá mọc rất gần nhau. Chồi nách được mọc từ nách lá, tuỳ vào điều kiện môi trường và đặc tính ra hoa của từng giống, các chồi nách có thể phát triển thành thân nhánh, thân bò hoặc phát hoa.

Lá: Lá có hình dạng, cấu trúc, độ dày và lượng lông tơ thay đổi tùy theo giống. Hầu hết các giống dâu tây đều có lá kép với 3 lá chét, một số giống có lá kép với 4 hoặc 5 lá chét. Mép lá có răng cưa. Cuống lá dài, cuống lá thường có màu trắng khi lá còn non và chuyển sang màu đỏ của đất khi lá già.

Hoa: Phân chia thành nhiều nhánh, mỗi nhánh có một hoa. Hoa có 5 cánh tràng mỏng, màu trắng, hơi tròn. Hoa lưỡng tính, có 25-30 nhị và 50-500 nhụy. Dâu tây là loài giao phấn nhưng thông qua hình thức tự thụ phấn để gia tăng tần suất các gen mong muốn và tạo ra một số loài.

Quả: là một loại quả giả do đế hoa phình to, quả thật nằm ở bên ngoài quả giả. Quả có hình bầu dục, quả non có màu xanh lục, khi quả chín, quả có màu hồng hoặc màu đỏ tuỳ từng giống. Quả Dâu tây có mùi thơm, vị ngọt lẫn vị chua.

Rễ: Hệ thống rễ chùm, rễ phát triển ở độ sâu cách mặt đất khoảng 30cm.

2. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh:


Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển từ 18-22°C. Ánh sáng cần thiết cho cây dâu tây sinh trưởng và phát triển, cường độ ánh sáng mạnh thì mới sinh trưởng mạnh, thiếu ánh sáng thường ảnh hưởng đến khả năng ra hoa kết quả. Độ ẩm cần thiết cho sự phát triển của cây dâu tây trên 84%, ẩm độ không khí cao và mưa kéo dài thường gây bệnh cho cây. Cây dâu tây thích hợp với loại đất thịt nhẹ, hàm lượng chất hữu cơ cao, đất giữ ẩm nhưng thoát nước tốt. Đất có hàm lượng chất hữu cơ cao sẽ giúp cho cây dâu tây phát triển tốt, đạt năng suất cao và kéo dài thời gian thu hoạch quả.

Phần II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc:

1. Giống: Hiện nay, tại Lâm Đồng dâu tây sử dụng 2 cơ cấu giống chính là giống ngoài trời: Giống Mỹ đá, Mỹ thơm (Pajero), Langbiang… và giống trong nhà mái che: Giống Newzealand và giống Akihime.

Tiêu chuẩn lựa chọn giống xuất vườn:
Giống Độ tuổi(ngày) Chiều
cao cây (cm)
Đường kính cổ rễ (mm) Số lá thật Tình trạng cây
Dâu tây (cây  nuôi cấy mô) 30-60 3.5-12 1,5-2,5 6-12 Cây khoẻ mạnh, không dị hình, rễ chớm đáy bầu, ngọn phát triển tốt, không có biểu hiện nhiễm sâu bệnh
Dâu tây(cây từ ngó) 14-17 8-12 1,5-2,5 6-12 Cây khoẻ mạnh, không dị hình, rễ chớm đáy bầu, ngọn phát triển tốt, không có biểu hiện nhiễm sâu bệnh


Giống cây dâu tây hiện nay chủ yếu nhân giống vô tính theo 2 cách:

Cấy mô:
Cây con sẽ đạt được tiêu chuẩn tốt, độ đồng điều cao, phát huy ưu điểm của giống, sức sống khỏe, năng suất cao, sạch bệnh.

Tách cây con từ ngó cây mẹ:
Phương pháp này dễ làm, chủ động nhưng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của cây mẹ. Cây con không đạt tiêu chuẩn và sức sống như cây cấy mô. Chỉ nên lấy cây con từ tách ngó cây mẹ dưới 01 năm tuổi thì mới đảm bảo chất lượng giống.

Giống trồng từ ngó: 66% và Giống trồng từ cây mô: 34%

2. Chuẩn bị đất: Chọn đất thịt nhẹ, cao ráo, thoát nước tốt. Cây dâu tây là đối tượng của nhiều loại sâu, bệnh, do đó biện pháp chọn đất, làm đất, xử lý đất phải chú trọng đúng mức để hạn chế nguồn bệnh ban đầu lây lan từ đất.

Vệ sinh đồng ruộng thu dọn tất cả tàn dư cây trồng trước, làm đất xử lý vôi và các loại thuốc sâu, thuốc bệnh.

3. Trồng và chăm sóc:


Luống trồng cao 20-25cm ở vùng đất thấp; 15-20cm ở vùng đất cao.

Trong nhà nylon: Trồng hàng 3 kiểu nanh sấu, luống rãnh 1,2m-1,3m; cây x cây: 35-40 cm, mật độ 40.000-45.000 cây/ha.

Ngoài trời: Trồng hàng 3 kiểu nanh sấu, luống rảnh 1,2m-1,3m, cây x cây: 40-45cm. mật độ 35.000-40.000 cây/ha.

Với khí hậu Đà Lạt nếu trồng mật độ dày sẽ dễ phát triển bệnh cây.

Trồng phải đặc cây thẳng với mặt đất, đào lỗ đủ sâu để lấp hết bầu rễ của cây, tránh làm vỡ bầu cây con.

- Ngắt chùm hoa, cắt tỉa ngó: Để cây sinh trưởng mạnh và ổn định trong giai đoạn đầu nên ngắt bỏ chùm hoa bói đầu tiên để tăng cường sinh trưởng và ức chế phát dục.

Trong giai đoạn thu hoạch, để trái lớn đều nên cân đối giữa khả năng phát triển của khung tán và số lượng hoa trái trên cây nếu nụ, hoa, trái ra nhiều cần tỉa bỏ những nụ, hoa, trái dị dạng và sâu bệnh.

Nếu không tận dụng ngó để nhân giống thì nên cắt bỏ toàn bộ ngó.

Giai đoạn đầu khi thân lá cây chưa phủ luống có thể để ngó với khoảng cách 15 cm (5-6 ngó/cây). Để tăng cường sinh trưởng cây ban đầu, hạn chế ngó đâm rễ phụ trên luống.

- Tỉa thân lá: Đảm bảo mật độ phân tán cây dâu cân đối nên để từ 3-4 thân/gốc. Do đặc điểm của giống, chế độ phân bón, thời tiết, chăm sóc khả năng phân tán, ra lá sẽ khác nhau. Tỉa bớt các lá già, sâu bệnh, lá bị che khuất tầng dưới. Chú ý không nên tỉa quá nhiều sẽ mất khả năng quang hợp của cây. Các bộ phận của cây sau khi cắt tỉa cần phải tiêu huỷ ở xa vườn trồng.

- Che phủ đất: Dùng tấm nhựa để che phủ mặt luống trồng dâu. Phương pháp này có các ưu điểm như sau: Giữ ẩm cho luống trồng, gia tăng nhiệt độ cho luống trồng (phủ nhựa đen) phù hợp cho sinh trưởng cây dâu đồng thời hạn chế một số nấm bệnh, cách ly trái tiếp xúc với đất hạn chế bệnh thối trái. Hạn chế cỏ dại và rửa trôi phân bón.

Hiện nay có 3 cách che phủ luống được áp dụng: Dùng nhựa PE (thích hợp cho trồng dâu trong nhà nylon). Dùng cỏ khô, tro trấu. Dùng cỏ khô kết hợp với lưới nylon trắng.

Tuy nhiên việc che phủ đất tại vùng đất thấp thường phát sinh sên nhớt.

Tưới nước: Sử dụng nguồn nước không bị ô nhiễm, nước giếng khoan, nước suối đầu nguồn, không sử dụng nước thải, nước ao tù, ứ đọng lâu ngày.

Đối với cây dâu nếu ẩm độ đất và ẩm độ không khí cao đều bất lợi đến sinh trưởng, cũng như sâu bệnh phát triển, tối ưu nhất với cây dâu là thiết kế hệ thống tưới ngầm, nhỏ giọt.

- Dàn che: Hiện có 2 kiểu canh tác cây dâu tây là trong nhà che nylon và ngoài trời, sản xuất cây dâu trong dàn che có ưu điểm như:

Hạn chế bệnh cây trong mùa mưa, tuy nhiên nếu thiết kế dàn che không đảm bảo chiều cao, thông gió không tốt thì độ ẩm sẽ tăng và bệnh sẽ phát triển mạnh đồng thời nhiệt độ sẽ gia tăng đột ngột tại một số thời điểm trong ngày ảnh hưởng đến sinh lý của cây.

Hạn chế ngập úng đất, ẩm độ gia tăng và rửa trôi phân bón khi mưa kéo dài hay mưa lớn trong vụ hè thu.

- Phòng ngừa dị dạng trái: Thời kỳ kết trái đầu tiên nếu phát hiện quả dị dạng lập tức hải bỏ và giảm bón lượng đạm.

Giai đoạn hoa nở rộ tránh phun xịt thuốc sâu bệnh với nồng độ cao.

Xem tiếp: Click Here

Cách trồng dâu tây trong chậu ra trái

Cách trồng dâu tây trong chậu ra trái

ạn muốn tự trồng dâu tây tại nhà nhưng chúng không ra trái? Vậy tại cách chăm sóc của bạn hay tại chúng không có đất sống? Bài viết dưới đây để biết được lý do.


Quả dâu tây: là một loại quả giả do đế hoa phình to, quả thật nằm ở bên ngoài quả giả. Quả có hình bầu dục, quả non có màu xanh lục, khi quả chín, quả có màu hồng hoặc màu đỏ tuỳ từng giống. Quả Dâu tây có mùi thơm, vị ngọt lẫn vị chua.

Tác dụng từ dâu tây: Dâu tây là một trái cây hầu như không có chất béo và chứa rất ít calo mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe của tất cả mọi thành viên trong gia đình bạn. Dâu tây là một nguồn vitamin C tuyệt vời, một nguồn mangan dồi dào, nguồn chất xơ, iốt rất tốt cho cơ thể và có lợi cho hệ tiêu hóa, giúp giảm cholesterol.

Cách trồng và chăm sóc dâu tây:

Đất trồng: Bạn nên dùng loại đất tơi xốp, có thể dùng đất thịt và thỉnh thoảng xới đất cho cây. Có thể dùng đất tribat hoặc dùng đất thường trộn thêm phân bón và xơ dừa, chấu để đất tơi xốp lâu, luôn luôn ẩm, giữ ẩm tốt, nhiều chất dinh dưỡng, có thể bón phân bổ sung. Trước khi trồng cây có thể trộn thêm phân bón hoặc phân bón lót với số lượng ít để giúp cây có đà phát triển tốt. Có thể trộn thêm phân chuồng đã ủ hoai, sơ dừa, cho chấu cùng với đất để đất tơi xốp lâu hơn. Do tính chất ưa ẩm của cây dâu và quả thường mọc thấp nằm trên mặt đất nếu ta trồng bằng chậu tròn nên có thể phủ lên 1 lớp rơm trên bề mặt xung quanh gốc và phía dưới quả vừa giữ ẩm tốt vừa nâng đỡ cho quả.

Tưới nước:
Dùng nước thường tưới vào buổi chiều khi nắng đã tắt, tưới thật ẩm đất, nếu đất của bạn giữ ẩm kém có thể tưới thêm 1 lần vào buổi sáng. Có thể tận dụng nước vo gạo tưới cho cây, nước gạo sẽ lên men trong đất giúp cây phất triển tốt. Tuy nhiên chỉ tưới nước gạo nếu cây trồng được 1 tuần. Không tưới khi cây chưa bám rễ.

Chăm sóc: Mới trồng: Cây thường héo do mới tách hoặc do đứt rễ khi trồng, do vậy bạn nên dùng bìa, xốp, … che nắng cho cây trong vòng 2-3 ngày đầu. Nhớ thường xuyên tưới nước để giữ độ ẩm.

Ra hoa, quả: Bạn cần chú ý diệt kiến vì chúng tấn công cây rất nhanh, ăn hết quả kể cả khi quả còn xanh. Nếu trồng bằng chậu dài nên hướng cho quả ra phía thành chậu, quả sẽ phát triển đều và dễ theo dõi tránh sâu bọ.

Ra nhánh: Sau khi cây đã mọc ổn định và đủ chất cây sẽ ra mầm, khi mầm phát triển tốt mọc dài đến mức cần và đủ sẽ tự đâm rẽ để tạo cây con mới.

Ra quả: Ra quanh năm nhưng nhiều vào mùa mưa, do có độ ẩm cao. Chất lượng quả phụ thuộc chất đất, giống cây, cách chăm sóc, thời tiết. Quả mùa hè thường ngọt hơn nhưng nhỏ hơn.

Bạn có thể trang trí thêm cho những chậu dâu tây để cộng thêm tác dụng trang trí nhà. Chúc các bạn trồng được dâu tây như ý muốn!

Kỹ thuật trồng táo mèo năng suất cao

Kỹ thuật trồng táo mèo năng suất cao

Táo mèo được trồng ở vùng núi phía bắc, gần đây táo mèo được biết đến với công dụng tuyệt vời chữa được nhiều bệnh. Hơn nữa táo mèo có thể làm được si rô nên được mua về và sử dụng nhiều.

Táo mèo có vị chua, hơi chát, ít vị ngọt. Được trồng ở Sơn La, Hà Giang hay Mù Cang Chải. Loại táo này vỏ ngoài hơi sần, ráp, vỏ rất xanh.

Tác dụng của táo mèo: Tác dụng của táo mèo là điều trị các chứng rối loạn tiêu hóa do ăn nhiều thịt, dầu mỡ, trẻ em uống sữa không tiêu. Quả táo mèo có tác dụng giúp giảm cân, ăn uống ngon miệng, hạ mỡ máu, kháng khuẩn, bảo vệ gan, hạ lipid máu rõ rệt và giảm xơ vữa động mạch. Quả táo mèo có tác dụng giúp giảm cân, ăn uống ngon miệng, hạ mỡ máu, kháng khuẩn, bảo vệ gan, hạ lipid máu rõ rệt và giảm xơ vữa động mạch. Điển hình nhất là rượu táo mèo giúp tiêu hóa tốt với những ai ăn quá nhiều dầu mỡ và thịt động vật gây cảm giác chán ăn, ăn không ngon miệng.

Kỹ thuật trồng táo mèo:

Đất trồng: Cây phát triển mạnh nơi đất ẩm, tốt còn có tính chất đất rừng, thoát nước thích hợp trên đất feralit phát triển trên các đất khác nhau, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét nhẹ độ sâu tầng đất >50cm độ pH từ 5,5 -7.

Trồng cây: Tiến hành cấy cây con vào bầu khi trời dâm mát hoặc mưa nhẹ, tránh những ngày năng nóng. trước khi cấy cây cần tưới đất ướt đều trên luống gieo: cứ 1m2 tưới 4-6 lít nước, cây cấy sau khi nhổ phải để trong bát nước tránh khô dễ. Dùng que nhọn chọc một lỗ sâu 1-2cm ở giữa bầu, đặt cổ dễ ngang mặt bầu và dùng que ép chặt đất với rễ mầm. Sau khi cấy xong cần tưới và tạo dàn che cho cây, mức che khoảng 50-70% mặt luống.

Tưới nước: Thường xuyên tưới nước giữ ẩm đất, tuỳ tình hình thời tiết mà mà điều tiết chế độ tưới cho phù hợp. trong hai tuần đầu tưới một lần vào buổi sáng sớm và vào buổi chiều. Trước khi xuất cây vườn 15-20 ngày tuyệt đối không bón thúc và tưới nước hãm cây.

Bón phân: Từ tháng thứ 2 trở đi phải tiển hành kiểm tra khi dễ cọc phát triển ra ngoài đáy bầu, cần phải tiến hành đảo bầu và dùng kéo cắt phần dễ mọc qua đáy bầu. kết hợp phân loại cây tốt.

Tỉa cành: Có tình trạng cạnh tranh không gian dinh dưỡng chúng ta tiến hanh tỉa thưa từ 2-3 lần, tỉa những cây có chất lượng kém, bị sâu bệnh, cong queo, cụt ngon. cường độ tỉa thưa mỗi lần từ 10-15%.

Phòng và trị bệnh: Táo mèo thường bị hai bệnh thối dễ và thiếu dinh dưỡng khoáng. Với những bệnh này bạn thường xuyên kiểm tra và phun thuốc đúng thời điểm tránh cây bị chết.

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2018

Kỹ thuật trồng cây óc chó

Kỹ thuật trồng cây óc chó

Gần đây quả óc chó được mọi người khá ưa chuộng, bởi lợi ích của chúng. Quả óc chó được mọi người săn lùng ở nước ngoài, vì thế nó được nhập khẩu nhiều. Nhưng ít ai biết rằng ở Việt Nam cũng trồng được cây óc chó


Trái óc chó hay còn gọi là trái hồ đào, đông y gọi là nhục đậu khấu được coi là vị thần của các loại cây trái.  Quả óc chó to, rất cứng có vỏ ngoài màu lục và nạc, dễ hóa đen khi chà xát, có 2 van bao lấy hạt với 2 lá mầm to, chia thùy và nhăn nheo như nết của óc động vật. Óc chó có hai loại chính. Loại thứ nhất thường ra vào mùa thu, loại quả này có màu nâu vàng trơn, vỏ rất cứng và dày hình thuôn. Loại thứ hai còn gọi là óc chó tuyết, ra vào mùa đông, loại này có màu nâu vàng chấm đen, hình dáng tròn bẹp một phía. Lá của cây óc chó có thể hái quanh năm, còn quả thu hái vào tháng 9, tháng 10 đập vỏ ngoài để lấy nhân bên trong.

Óc chó chữa bệnh gì?: Nhân hạt óc chó có vị ngọt, tính ấm; có tác dụng làm mạnh sức, béo người, đen tóc, trơn da. Ở Trung Quốc, nó được xem như có tác dụng ôn bổ phế thận, định suyễn nhuận tràng. Người ta cho là nhân hạt rất bổ dưỡng vì có nhiều protid, có thể chống tràng nhạc, nhuận tràng, trị ỉa chảy, trị giun, dẫn lưu hệ da và bạch huyết. Ngoài ra, nhân óc chó còn được dùng để dùng chữa thận hư đau lưng, hư hàn ho suyễn, đại tiện khó khăn, đau chân tay.

Ngoài ra, từ xa xưa, ở các nước phương Tây, hạt óc chó dùng trị các loại bệnh như tràng nhạc, bệnh ngoài da, lao phổi, đái dầm, ký sinh đường ruột. Lá tươi dùng làm thuốc đặc hiệu chữa bệnh thuộc tạng lao, tràng nhạc, các bệnh về da như tróc lở, ghẻ ngứa, phát ban da. Nó cũng có tính giảm áp lực và giảm Glucose – huyết nhẹ.

Ở Việt Nam, cây óc chó được trồng chủ yếu ở một số vùng biên giới như Sa Pa (Lào Cai), Phó Bảng, Đồng Văn (Hà Giang), Cao Bằng… Cây óc chó là loại cây sống lâu năm, có thể cao tới 30m, vỏ nhẵn và có màu tro. Lá cây óc chó dài tới 40cm, kép lông sẻ, thường có từ 7 đến 9 lá chét, không cuống, hình trứng thuôn hoặc tròn dẹt một phía, khi vò ra có mùi hăng đặt biệt. Hoa đơn tính, màu lục nhạt; hoa đực xếp thành đuôi sóc thõng xuống; hoa cái xếp 2 đến 5 cái ở cuối các nhánh.

Kỹ thuật trồng cây óc chó:

Đây là một loại cây kén đất, khí hậu nên rất khó trồng, ở Việt Nam chỉ trồng được một số nơi, bạn cần chú ý trước khi trồng:

Điều kiện đất: Óc chó phát triển tốt nhất về đất đai màu mỡ và thẩm thấu, độ pH trung tính – pH 7.

Hố trồng óc chó: hố trồng sâu khoảng 10 cm so với chiều dài của rễ cây.

Thời gian trồng:  tốt nhất được trồng vào mùa thu hoặc với khí hậu Việt Nam bạn có thể làm trong mùa xuân.

Óc chó là cây được mọi người ưa chuộng bởi giá trị dinh dưỡng của hạt, nếu nhân rộng mô hình trồng óc chó sẽ thu được hiệu quả kinh tế cao.

Kỹ thuật trồng bon bon nhiều trái

Kỹ thuật trồng bon bon nhiều trái

Vùng trồng bòn bon phải có nhiệt độ trung bình 27 độ C và chênh lệch ít giữa các tháng, lượng mưa phải trên 100mm. Bòn bon không chịu được nước úng, bòn bon ưa những nơi mát mẻ, như ở ven rừng, không có ánh nắng chói chang, không nhiều gió, đặc biệt là khi ra hoa kết quả.


Trái bòn bon hình tròn, đường kinh khoảng 5cm, vỏ dẻo. Cơm bòn bon màu trắng đục, có khi gần như trong suốt, chia thành 5-6 múi. Mỗi múi có một hột. Vị bòn bon hơi chua, khi chín thì ngọt hơn. Hột bòn bon rất đắng, khó tách khỏi cơm nên người ăn có khi nuốt luôn cả múi để tránh nhằn hột. Bòn bon chín vào mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10.

Trái bòn bon còn có các tên gọi khác như trái nam trân, trái trung quân, ở miền bắc gọi là dâu da đất, miền nam gọi là bòn bon, ở Quảng Nam thì gọi là lòn bon. Có tác dụng tuyệt vời đối với sức khỏe con người. Trong 100 g bòn bon có chứa khoảng 2 g chất xơ, cung cấp 8-11% lượng chất xơ cần thiết hàng ngày cho nữ giới và 6-8% cho nam giới. Một chế độ ăn giàu chất xơ cũng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, cải thiện hệ thống tiêu hóa, ngăn ngừa táo bón.

Cây bòn bon có dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao vì thế để có kỹ thuật trồng bòn bon bà con cần chú ý:

Điều kiện trồng cây bòn bon: Vùng trồng bòn bon phải có nhiệt độ trung bình 27 độ C và chênh lệch ít giữa các tháng, lượng mưa phải trên 100mm. Bòn bon không chịu được nước úng, bòn bon ưa những nơi mát mẻ, như ở ven rừng, không có ánh nắng chói chang, không nhiều gió, đặc biệt là khi ra hoa kết quả.

Cách trồng bòn bon:

Khoảng cách cây và hàng trồng Bòn bon thích hợp nhất là 6 m x 6 m. Ở vùng đất phì nhiêu có thể trồng  khoảng cách 7 m x 7 m hoặc 8 m x 8 m. Nếu trồng xen với cây ăn quả khác như sầu riêng, chôm chôm thì nên để khoảng cách 10 m theo khoảng cách trồng sầu riêng, chôm chôm. Bòn bon là loại cây ăn quả cần có bóng râm mát. Do đó người trồng cần có kế hoạch chuẩn bị bóng râm mát trước khi trồng chúng. Cây cho bóng mát phù hợp nhất là cây chuối. Trồng chuối thời gian đầu cần theo dõi đừng để chuối đẻ cây con nhiều, rậm rạp, để mỗi góc từ 2-3 cây là vừa.

Chăm sóc cây bòn bon:


Các loại phân bón: 5 năm đầu khi cây chưa ra quả bón mỗi cây 100 – 200g phân NPK 16-12-8-11+TE 3 lần trong năm, mỗi năm tăng thêm 50g, Khi cây bắt đầu cho ra hoa đậu trái thì dùng phân  NPK 12-12-17-9+TE từ 150g lên 200g (khoảng năm thứ 10) và tiếp tục tăng thêm 50gr sau đó ổn định ở mức 1kg (0,5kg NPK 16-12-8-11+TE và 0,5kg 12-12-17-9+TE)/năm bón làm 2 lần – một lần trước khi ra hoa lần sau khi kết trái.

Cách bón phân: Dùng que rạch một vòng tròn xung quanh gốc, cách gốc cây khoảng 20 – 30cm, rải phân vào và phủ một lớp đất mỏng lên trên. Trong thời gian cây kiến thiết cơ bản mỗi năm bón thêm 3 lần phần chuồng mỗi lần khoảng 20 – 30 kg.

Sâu bệnh ở bòn bon:

Bòn bon thường xuất hiện những bệnh như  sâu đục quả, nhện đỏ và rệp sáp. Khi cây còn nhỏ thì dùng thuốc, cây lớn khó phun thì dùng các phương pháp phòng là chính, vệ sinh cây, vệ sinh vườn, cải tạo môi trường, v.v.v. ngoài ra có một số loại bệnh nguy hiểm hại cây như bệnh hại rể cây, bệnh thán thư trên quả…Thường xuyên quét dọn quanh gốc cây, đừng để úng nước hoặc độ ẩm quá cao, giảm bỏ phân chuồng, nhất là đang ở thời kỳ mùa mưa lớn.

Do điều kiện khí hậu nên bòn bon chỉ trồng được ở miền Nam và có thể trồng xen kẽ các loại cây khác trong thời gian dài, trong khi đó miền bắc không trồng được loài cây này, giá cả cũng mắc vì thế bà con nên tận dụng ưu thế này để canh tác bòn bon.

Bí quyết trồng cây dẻ Trùng Khánh hạt to

Bí quyết trồng cây dẻ Trùng Khánh hạt to

Cây dẻ Trùng Khánh, Cao Bằng hay còn gọi là dẻ ván: thích hợp với đất đồi, sư­ờn đồi, s­ườn núi, đất nư­ơng rẫy cũ…, chỉ cần có tầng dày, tơi xốp, thoát nư­ớc tốt. Đất có độ pH từ hơi chua đến trung tính

Hạt dẻ được mệnh danh là trái cây bổ thận, khỏe xương, ăn có vị bùi và được mọi người ưa thích. Ngoài ra hạt dẻ còn được làm thuốc chữa bệnh. Ngày nay theo nghiên cứu hạt dẻ Trùng Khánh vừa to, giàu dinh dưỡng được nhiều người tin dùng. Bài viết dưới đây sẽ mách bạn bí quyết trồng hạt dẻ Trùng Khánh sao cho có năng suất cao.

Công dụng của hạt dẻ:
Hạt dẻ còn gọi là sơn hạch đào là hạt của cây dẻ có tên khoa học là Castanea Mollissima, thuộc họ sồi dẻ. Thành phần chủ yếu của hạt dẻ gồm có tinh bột, protein, lipit, các vitamin B1, B2, C, PP và các khoáng chất Ca, P, Fe…Hạt dẻ còn gọi là sơn hạch đào là hạt của cây dẻ có tên khoa học là Castanea Mollissima, thuộc họ sồi dẻ. Thành phần chủ yếu của hạt dẻ gồm có tinh bột, protein, lipit, các vitamin B1, B2, C, PP và các khoáng chất Ca, P, Fe…

Hạt dẻ được trồng ở đâu?

Hạt dẻ được trồng nhiều ở miền núi phía bắc Việt Nam do chúng thích hợp với điều kiện không khí lạnh Tuy nhiên hạt dẻ ngon nhật được cho là hạt dẻ Trùng Khánh được trồng ở Cao Bằng. Hạt dẻ Trùng Khánh khác biệt với các loại hạt dẻ khác, như: Hạt dẻ Trung Quốc, hạt dẻ Lạng Sơn, hạt dẻ Quảng Uyên…, bởi các tính chất và chất lượng đặc thù của nó. Về hình thái : hạt dẻ Trùng Khánh to đều gấp 5-6 lần hạt dẻ rừng, có hình dáng hơi tròn kích thước ba chiều gần bằng nhau, vỏ hạt màu nâu sẫm, rất bóng, trên vỏ có lớp lông tơ màu trắng nhạt, vỏ lụa mỏng, dễ bóc, nhân hạt có màu vàng tơ, vị bùi, thơm ngậy.

Kỹ thuật trồng cây dẻ:

Trồng cây dẻ trước tiên cầu có điều kiện về khí hậu:

Cây dẻ Trùng Khánh, Cao Bằng hay còn gọi là dẻ ván: thích hợp với  đất đồi, sư­ờn đồi, s­ườn núi, đất nư­ơng rẫy cũ…, chỉ cần có tầng dày, tơi xốp, thoát nư­ớc tốt. Đất có độ pH từ hơi chua đến trung tính (pH 5,5-7,0). Đất kiềm, đất chứa muối trên 0,2% thì cây sinh trưởng không tốt.

Chọn giống: Vì dẻ ván lấy quả là chủ yếu, là cây có nhiều chủng khác nhau nên cần hết sức chú ý khâu chọn giống. Trư­ớc tiên nên chọn những cây khỏe mạnh, sai quả đã đư­ợc trồng và thích nghi với khí hậu Trùng Khánh, Cao Bằng để lấy giống. Hạt chín vào tháng 9-10. Khi chín vỏ quả có màu xám, màu vàng xám, vỏ có thể có khía nứt để lộ hạt ra ngoài, vỏ hạt có màu nâu. Hạt lấy xong có thể gieo ngay hoặc cất trữ để đến mùa xuân đem gieo. Nếu gieo ngay tỷ lệ nảy mầm không cao.

Trồng dẻ:


Hạt cất ẩm, một lớp hạt một lớp cát ẩm, hàng tuần kiểm tra, đảo hạt, loại bỏ hạt thối và phun nư­ớc giữ ẩm.

Đất vư­ờn ươm cần cày kỹ, bón lót bằng phân chuồng hoai 30kg/10m2.

Hạt dẻ to nên có thể gieo theo hàng. Luống làm cao 30cm, trên luống làm rạch rồi gieo hạt. Rạch cách nhau 25-30cm, gieo hạt nọ cách hạt kia 15-20cm, hạt gieo đ­ược lấp đất sâu 2-3cm.

Hố trồng:
Hố đào 40x40x40cm.

Bón phân:  cần bón phân lót mỗi hố 40kg phân chuồng. Dẻ ván nên trồng thư­a, mật độ 400-500 cây/ha. Khi cây còn nhỏ, giữa các hàng dẻ có thể trồng khoai, đỗ, lạc, lúa. Về sau có thể trồng gừng. Những năm đầu cần xới xáo, vun gốc. Khi đã thành rừng rồi thì hàng năm cũng cần bón phân để xúc tiến cây sai hoa kết quả. Ngoài bón phân chuồng còn có thể dùng phân xanh, cỏ rác vùi vào gốc cây để làm cho đất tơi xốp, thoát n­ước nh­ưng giữ ẩm, có lợi cho cây sinh trư­ởng phát triển.

Lưu ý: Để tăng sản, ngoài khâu chọn giống còn cần nghiên cứu chế độ bón phân, tư­ới nư­ớc, tỉa cành, tạo tán v.v… chế độ quản lý, chăm sóc hợp lý.

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2018

Cách tạo giống và trồng cây hạt dẻ đỏ

Cách tạo giống và trồng cây hạt dẻ đỏ

Cây hạt dẻ đỏ có hạt nhỏ nhưng ăn rất bùi và ngon nên được mọi người ưa trồng. Bài viết dưới đây sẽ giúp bà con cách tạo giống và trồng hạt dẻ đỏ được tốt và cho năng suất cao.

Kỹ thuật trồng cây hạt dẻ đỏ

Chọn hạt giống cây hạt dẻ đỏ: Hạt giống phải đạt đường kính 1,7-1,9 cm, trọng 1 kg hạt có từ 350-370 hạt, 1 kg quả có 300-305 hạt và 0,2 kg đấu, tỷ lệ  nảy mầm trên 70%. Phải lấy hạt từ cây giống, vườn giống hoặc rừng giống chuyển hóa. Cây lấy giống phải là cây sinh trưởng tốt, thân thẳng, tán rộng. đều không bị sâu bệnh và đã có từ hai vụ quả trở lên. Khi quả chín trái hạt dẻ chuyển từ màu xanh nâu sang màu vàng nhạt, hạt có màu vàng.

Loại bỏ tạp chất: ủ vào cát ẩm từ 4- 6 ngày cho đế (đấu) quả rời ra  đem gieo ươm ngay hoặc bảo quản trong cát ẩm. Trộn đều hạt trong cát ẩm 5-6% với tỷ lệ 1 hạt /2 cát (tính theo tỷ lệ thể tích) sau đó vun thành luống cao 15-20 cm, trên mặt rải thêm 1 lớp cát mỏng khoảng 1-2 cm để phủ kín hạt, khoảng 5-7 ngày đảo 1 lần. Bạn bảo quản trong 20 tới 40 ngày.

Tạo bầu:
tầng đất mặt thịt nhẹ, đất tốt  + 10% phân  chuồng hoai và 1% phân NPK (5:10:3). Bầu đóng xong được xếp thành luống rộng 0,8 đến 1m, mặt bầu phẳng, lấp đất xung quanh 2/3 bầu và các kẽ hở của bầu để cho chặt luống bầu.

Gieo hạt cây hạt dẻ: Gieo hạt trên luống cát ẩm hoặc luống đất  đến khi hạt nảy mầm được 2 lá thì nhổ cấy vào bầu, hoặc ủ hạt trong cát ẩm  đến khi hạt nứt nanh thì mang gieo trực tiếp  vào bầu, lưu ý khi cấy hạt để hạt nằm ngang hoặc phần mầm rễ nhú ra xuống dưới và lấp đất dày từ 1-2 cm. Cần tưới ẩm bầu trước khi cấy hạt. Sau 1 tháng tiến hành nhổ cỏ phá váng mặt bầu lần 1, thời gian nhổ cỏ phá váng lần 2 tuỳ theo lượng cỏ và độ cứng của mặt bầu.

Bón phân cho cây hạt dẻ: Khi cây cao được 10 cm có thể bón thêm phân NPK(5:10:3) bằng cách pha 0,2 kg với 10 lít nước, tưới đều trên mặt luống cho 4m2; 10-15 ngày tước 1 lần  tuỳ theo mức độ sinh trưởng tốt, xấu của cây để quyết định số lần tưới phân. Cần dừng tưới phân trước khi cây xuất vườn đem trồng 1-2 tháng.

Kỹ thuật trồng cây hạt dẻ đỏ:

Cây hạt dẻ đỏ có biên độ sinh thái rộng nên có thể gây trồng ở các tỉnh miền Bắc những nơi có lượng mưa bình quân 1500-2500 mm/năm, nhiệt độ bình quân 22-27°C. Có thể trồng ở các loại đất còn tính chất đất rừng, đất thịt, đất sét nhẹ nhưng thích hợp nhất là đất Feralit vàng đỏ hoặc đỏ vàng phát triển trên đá macma axít hoặc trên phiến sét, phấn sa.

Mật độ: Cuốc hố kích thước 40x40x40 cm, sau 15-20 ngày lấp hố kết hợp bón lót phân chuồng hoai.

Thời gian trồng: Trồng vụ Xuân vào tháng 2-4 hoặc vụ Thu vào tháng 8-9. Khi trồng nên chọn ngày có thời tiết râm mát.

Cây hạt dẻ đỏ cũng được coi là loại cây hạt dẻ rừng được nhiều người ưa chuộng vì vậy nếu canh tác cây hạt dẻ bà con cần chú ý để có được năng suất cao nhất.

Cây mận

Cây mận

Cây mận, tùy theo phương ngữ vùng miền, miền Bắc và miền Nam Việt Nam, dùng để chỉ 2 loại cây khác nhau, ở miền Bắc thì Mận chỉ loài cây thuộc chi Mận mơ, còn miền Nam thì từ Mận chỉ loài cây thuộc họ Đào Kim Nương, mà miền Bắc gọi là cây Roi.


Từ Mận trong tiếng Việt dùng để gọi 2 nhóm loại cây/trái khác nhau, tùy theo các phương ngữ :

Theo phương ngữ miền Bắc Việt Nam, mận là loại cây thuộc chi Mận mơ có quả thịt, da tía, lục nhạt, tím, vàng, đỏ hoặc xanh có vị ngọt hơi chua:
- Mận ta (Prunus salicina)
Một số loại mận khác:
- Mận châu Âu (Prunus domestica)
- Mận anh đào (Prunus cerasifera)
- Mận gai (Prunus spinosa)

Theo phương ngữ miền Nam Việt Nam, mận là một số loại cây thuộc họ Đào kim nương mà phương ngữ Bắc gọi là Roi, bao gồm:
- Roi hoa trắng (Syzygium samarangense), hay mận.
- Roi hoa đỏ (Syzygium malaccense), hay mận đỏ, mận hồng đào.

Bài viết này, chúng tôi giới thiệu từng loại mận theo cách gọi của từng vùng miền :

1. Mận ta (Prunus salicina)

Mận (Prunus salicina, đồng nghĩa Prunus triflora hay Prunus thibetica), hay mận Bắc, mận Trung Quốc, mận Nhật Bản, là một loài cây rụng lá nhỏ bản địa tại Trung Quốc thuộc Chi Mận mơ. Nó cũng được trồng trong các vườn cây ăn quả ở miền bắc Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Úc.

Mận cùng thuộc chi Prunus, phân chi Prunus với một số loài khác như mơ ta (cũng được trồng tại miền bắc Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên), mận gai, mận anh đào, mận châu Âu...

Cây mận

Mận có thể cao đến 10 mét (33 ft), và có chồi màu nâu đỏ. Các lá dài từ 6–12 cm và rộng 2,5–5 cm, cạnh lá có rặng cưa. Những bông hoa xuất hiện vào đầu xuân, có đường kính 2 cm với năm cánh hoa màu trắng.

Quả mận là loại quả hạch có đường kính 4–7 cm và có thịt màu hồng-vàng; quả có thể được thu hoạch vào mùa hè. Khi chín, có thể ăn sống quả.

Sử dụng

Tại Trung Quốc, quả mận được ướp với đường, muối, và cam thảo. Tại Nhật Bản, quả được sử dụng khi còn ương để làm hương liệu cho một loại rượu mùi gọi là sumomo shu (すもも酒), và tại Trung Quốc cũng có loại rượu làm từ quả mận.

Quả mận cũng được sử dụng trong Đông y.

Trồng trọt

Có nhiều giống mận khác nhau được trồng tại Trung Quốc, một số là giống lai. Mận cũng được trồng phổ biến tại Nhật Bản và Triều Tiên. Ở Việt Nam, các tỉnh miền núi phía bắc như Lạng Sơn, Lào Cai, Sơn La có nhiều chủng ngon, như mận hậu, mận Tam Hoa, mận Lạng Sơn, mận Vân Nam. Ở Miền Nam Việt Nam, vùng trồng mận nổi tiếng là trại Hầm với các chủng mận Đà Lạt, mận đỏ, mận đỏ bạch lạp, mận vàng, mận Vân Nam.

Các giống mận được cải giống rất lớn tại Nhật Bản và từ đó được đưa đến Hoa Kỳ trong nửa sau của thế kỷ 19, tại đây nó đã được gây giống và trồng phổ biến hơn, quả cũng lớn hơn. Nhiều giống mận Mỹ đã được xuất khẩu đi nhiều nước, bao gồm cả chính Nhật Bản, nơi xuất xứ của nó.

Hầu hết mận tươi được bán trong các siêu thị Bắc Mỹ là loài Prunus salicina. Mận cũng là cây trồng được phát triển trên quy mô lớn ở một số nước khác, chẳng hạn, chúng là loại quả hạch thống trị trong ngành cây ăn quả tại Tây Úc.

2. Mận châu Âu (Prunus domestica)

Mận châu Âu (danh pháp hai phần: Prunus domestica, đôi khi được đề cập với danh pháp Prunus × domestica) là một loài mận mơ với nhiều giống khác nhau. Loài này có nguồn gốc được cho là lai giữa mận gai (Prunus spinosa) và mận anh đào (Prunus cerasifera var. divaricata). Đây là loài mận được trồng nhiều nhất tại châu Âu, và hầu hết mận khô được làm từ quả của loài này.

Thông thường cây mận châu Âu là một cây bụi lớn hay một cây nhỏ. Cây có thể có gai, với hoa màu trắng, xuất hiện vào đầu xuân. Quả có kích thước khác nhau, có thể lên đến 8 cm từ bên này sang bên kia, và thường có vị ngọt, song một số giống có thể hơi chua.

Phân loại

European Garden Flora công nhận ba phụ loài mặc dù các nghiên cứu khoa học khác ủng hộ việc phân loại chính xác hơn:

- P. domestica ssp. domestica
- P. domestica ssp. insititia – mận tía và mận rừng
- P. domestica ssp. intermedia – mận trứng (bao gồm mận Victoria)
- P. domestica ssp. italica –
- P. domestica ssp. pomariorum –
- P. domestica ssp. prisca –
- P. domestica ssp. syriaca – mận hoàng hương

Các phân loài có thể lai giống dễ dàng, do vậy có nhiều dạng lai trung gian được tìm thấy: độ ngọt và độ chua của chúng có thể khác nhau, màu sắc quả biến đổi từ màu tím xanh, đến đỏ, cam, hay lục nhạt.

3. Mận anh đào (Prunus cerasifera)

Prunus cerasifera là một loài mận được biết đến với cái tên thông dụng là mận anh đào hay mận myrobalan. Đây là loài bản địa tại châu Âu và châu Á.

Loại mận anh đào hoang dã là cây bụi lớn hay cây nhỏ cao từ 6–15 m, là loài rụng lá và lá cây dài 4–6 cm. Đây là một trong những loài cây châu Âu đầu tiên trổ hoa vào mùa xuân, thường bắt đầu vào giữa tháng hai. Hoa mận anh đào có màu trắng và kích thước trên 2 cm, với năm cánh hoa. Quả mận anh đào là loại quả hạch, có đường kính 2–3 cm, có vỏ quả màu vàng hay đỏ. Quả mận anh đào có thể ăn được và đạt đến độ chín từ đầu tháng bảy đến giữa tháng chín.

Loài này có thể được tìm thấy với tình trạng mọc hoang dại, tại những nơi nó thoát khỏi việc được trồng và trở thành cây nhập tịch, như ở Bắc Mỹ.

Trồng mận anh đào có thể cho quả, lá và hoa với nhiều màu sắc. Một số giống có quả ngọt và có thể ăn tươi, trong khi một số giống khác có quả chua và tốt hơn là được dùng làm mứt.

Mận anh đào là một loại cây cảnh phổ biến được trồng tại sân vườn hay khu phong cảnh, do nó trổ hoa từ rất sớm. Nhiều giống cây mới đã được phát triển, nhiều trong số chúng có lá màu tím như 'Atropurpurea'. Các giống lá màu tím cũng có quả màu tím sẫm, và do vậy khá hấp dẫn. Mận anh đào có hoa màu tráng hoặc hồng. Giống 'mây dông' có lá màu đỏ tươi thẫm màu tím. Các loài khác như 'Lindsayae', có lá màu lục. Một số loài mận anh đào lá tím được sử dụng để làm bonsai và các dạng cây cắt tỉa khác.

4. Mận gai (Prunus spinosa)

Mận gai (danh pháp hai phần: Prunus spinosa) là một loài mận bản địa ở châu Âu, Tây Á, và cục bộ ở tây bắc châu Phi. Đây cũng là loài cây nhập tịch cục bộ tại New Zealand và miền đông Bắc Mỹ.

Mận gai là một loại cây rụng lá có kích cỡ cây bụi lớn hay cây nhỏ cao đến 5 m, vỏ cây hơi đen và các cành rậm rạp, cứng và có gai. Lá cây có hình bầu dục, dài 2–4.5 cm và rộng 1.2–2 cm, mép là có răng cưa. Hoa mận gai có đường kính 1,5 cm, với năm cánh hoa màu trắng kem; hoa xuất hiện trước khi trổ lá vào đầu xuân. Mận gai là loài lưỡng tính và được côn trùng thụ phấn. Quả mận gai có đường kính 10–12 milimét (0,39–0,47 in), có màu đen với một lớp phấn màu tím xanh, chín vào mùa thu, và vẫn được thu hoạch theo lối truyền thống, ít nhất là ở Anh Quốc, và tháng 10 hay tháng 11 sau đợt sương giá đầu tiên. Quả mận gai có lớp thịt mỏng.

Mận gai thường xuyên bị nhầm lẫn với P. cerasifera (mận anh đào), đặc biệt là vào đầu mùa xuân khi hoa mận anh đào ra hơi sớm hơn so với mận gai. Ta có thể phân biệt dựa vào màu hoa, mận gai có màu trắng kem và mận anh đào màu trắng thuần. Ta cũng có thể phân biệt chúng vào mùa đông do tập quan cây nhỏ hơn sẽ cứng hơn, các nhánh cây góc rộng ở mận gai; vào mùa hè với việc lá cây mận gai tương đối hẹp hơn, gấp hơn hai lần chiều rộng; và vào mùa thu nhờ màu sắc của vỏ quả — quả mận gai màu tím đen còn quả mận anh đào có màu vàng hay đỏ.

Mận gai có một tứ bội (2n=4x=32) nhiễm sắc thể.

5. Roi hoa trắng (Syzygium samarangense), hay mận.

Roi (cũng gọi là: gioi, doi (phương ngữ miền Bắc Việt Nam), hay mận (phương ngữ miền Nam Việt Nam),hoặc đào(phương ngữ miền Trung Việt Nam)) (danh pháp hai phần: Syzygium samarangense), thuộc chi Trâm của họ Myrtaceae. Do tên gọi roi được chia sẻ với một vài loài khác cùng chi nên trong bài gọi là roi hoa trắng.

Roi hoa trắng là loài bản địa của Philippines, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Samoa.

Trồng và sử dụng

Roi hoa trắng là cây thường xanh nhiệt đới, cao đến 12 m, lá dài 10–25 cm và rộng 5–10 cm broad. Hoa màu trắng, đường kính 2,5 cm, có bốn cánh và nhiều nhị. Quả mọng, hình chuông, ăn được, màu trắng đến đỏ đậm, màu tía, thậm chí có giống màu đen, cây mọc hoang có quả dài 4–6 cm. Hoa và quả không chỉ mọc từ nách lá mà có thể mọc ở gần như bất kì điểm nào trên thân cây và nhánh cây. Khi quả chín, cây tiếp tục ra hoa và có thể đạt đến 700 quả mỗi cây.

Cây roi hoa trắng được trồng nhiều ở Việt Nam, Đài Loan, Thái Lan, Bangladesh, Pakistan, Ấn Độ và Sri Lanka.

Xem thêm về Roi hoa trắng tại đây : http://blogcaycanh.vn/cay_canh/d/cay-man-canh-cay-roi

6. Roi hoa đỏ (Syzygium malaccense), hay mận đỏ, mận hồng đào.

Roi (cũng gọi là: gioi, doi (phương ngữ miền Bắc Việt Nam), hay mận đỏ, điều đỏ, mận hồng đào (phương ngữ miền Nam Việt Nam)) (danh pháp hai phần: Syzygium malaccense), thuộc chi Trâm của họ Myrtaceae. Do tên gọi roi (gioi, doi) được chia sẻ với một vài loài khác cùng chi nên trong bài gọi là roi hoa đỏ.

Quả roi hoa đỏ hình thuôn, màu đỏ sẫm, một số giống có màu trắng hay hồng. Thịt quả màu trắng bao quanh một hạt lớn.

Cây roi hoa đỏ sinh trưởng tốt ở vùng khí hậu nhiệt đới với lượng mưa trung bình hằng năm không thấp hơn 1520 mm. Hoa nở đầu mùa hè và ra quả trong ba tháng sau đó.

Kỹ thuật trồng dâu tây

Kỹ thuật trồng dâu tây

Dâu tây thích hợp với khí hậu mát lạnh. Nhiệt độ phù hợp cho cây dâu từ 18 - 22 độ C. Đặc biệt là nhiệt độ ngày đêm cao sẽ tạo điều kiện để tăng năng suất và chất lượng trái.


Dâu tây thích hợp với các loại đất thịt nhẹ, hàm lượng chất hữu cơ cao, đất ấm, giữ ẩm nhưng thoát nước tốt. Nếu đất giàu chất hữu cơ cây dâu tây sẽ phát triển tốt, năng suất cao và kéo dài thời gian thu hoạch quả. Độ ẩm cần thiết trên 4%, độ pH thích hợp từ 6 - 7.

Cây dâu đòi hỏi ánh sáng dồi dào thì mới sinh trưởng mạnh, thiếu ánh sáng thường ảnh hưởng đến khả năng ra hoa kết quả. Ẩm độ không khí cao và mưa kéo dài thường xuất hiện bệnh cây.

Kỹ thuật làm đất, lên luống:

Chọn đất thịt nhẹ, vùng cao ráo, thoát nước tốt. Cây dâu tây là đối tượng của sâu bệnh khá phong phú. Anh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng trái khi thu hoạch, do đó biện pháp chọn đất, làm đất, xử lý đất cần phải chú trọng đúng mức để hạn chế nguồn bệnh ban đầu lây lan từ đất.

Vệ sinh đồng ruộng thu dọn tất cả tàn dư cây trồng, cỏ dại.

Làm đất và xử lý vôi 100 kg/1.000 m2 và các loại thuốc sâu, thuốc bệnh.

Bón lót các loại phân.

Luống trồng:

Luống cao 20 – 25 cm ở vùng đất thấp.
Luống cao 15 – 20 cm ở vùng đất cao.

Trồng trong nhà nilông: Trồng hàng 3, rò rãnh 1,2 m – 1,3 m; cây x cây: 35 – 40 cm.

Trồng ngoài trời: Trồng hàng 3 (kiểu nanh sấu), rò rảnh 1,2 m – 1,3 m, cây x cây: 40 – 45 cm (tùy thuộc vào giống, đất và điều kiện thâm canh). Với điều kiện khí hậu Đà Lạt nếu trồng mật độ dày sẽ dễ phát triển bệnh cây.

Phân bón:

Cây dâu đòi hỏi dinh dưỡng đầy đủ và cân đối. Ngoài NPK, cần quan tâm đến nhóm trung lượng, vi lượng vì nó quyết định quan trọng đến chất lượng và khả năng kháng bệnh của cây dâu. Thâm canh cây dâu đòi hỏi phải bón phân đầy đủ phân hữu cơ để bảo đảm lượng mùn trong đất cao (8% - 10%) trong điều kiện thuộc đất Đà Lạt thuộc diện nghèo mùn.

1. Ngắt chùm hoa, cắt tỉa ngó:

Để cây dâu sinh trưởng mạnh và ổn định trong giai đoạn đầu nên ngắt bỏ chùm hoa bói đầu tiên để tăng cường sinh trưởng và ức chế phát dục.

Trong giai đoạn thu hoạch, để trái lớn đều nên cân đối giữa khả năng phát triển của khung tán và số lượng hoa trái trên cây nếu nụ, hoa, trái ra nhiều cần tỉa bout những nụ, hoa, trái dị dạng và sâu bệnh.

Nếu không tận dụng ngó để nhân giống thì nên cắt bỏ toàn bộ ngó.

Trong giai đoạn đầu khi thân lá cây dâu chưa phủ luống có thể để ngó với khoảng cách 15 cm (5 - 6 ngó/cây). Để tăng cường sinh trưởng cây ban đầu. Hạn chế ngó đâm rễ phụ trên luống.

2. Tỉa thân lá:

Đảm bảo mật độ phân tán cây dâu cân đối nên để từ 3 - 4 thân/gốc. Do đặc điểm của giống, chế độ phân bón, thời tiết, chăm sóc khả năng phân tán, ra lá sẽ khác nhau. Cần tỉa bớt các lá già, sâu bệnh, lá bị che khuất tần dưới. Chú ý không nên tỉa quá nhiều sẽ mất khả năng quang hợp của cây. Các bộ phận của cây sau khi cắt tỉa cần phải tiêu huỷ ở xa ruộng.

3. Che phủ đất


Dùng các chất liệu hóa học hay hữu cơ để che phủ mặt luống trồng dâu. Phương pháp này có các ưu điểm như sau:

Giữ ẩm cho luống trồng.

Gia tăng nhiệt độ cho luống trồng (phủ nhựa đen) phù hợp cho sinh trưởng cây dâu đồng thời hạn chế một số nấm bệnh.

Cách ly trái tiếp xúc với đất hạn chế bệnh thối trái.

Hạn chế cỏ dại và rửa trôi phân bón.

Hiện nay có nhiều phương pháp che phủ luống đang được áp dụng:
Dùng nhựa PE (thích hợp cho trồng dâu trong nhà nilông).
Dùng cỏ khô, tro trấu.
Dùng cỏ khô kết hợp với lưới nilông trắng.

Tuy nhiên việc che phủ đất tại vùng đất thấp thường phát sinh sên nhớt.

4. Tưới nước:

Đối với cây dâu nếu ẩm độ đất trồng cây và không khí cao đều bất lợi đến sinh trưởng cũng như sâu bệnh phát triển, tối ưu nhất với cây dâu là thiết kế hệ thống tưới ngầm, nhỏ giọt.

Khi tưới cho cây dâu nên cần tuyệt đối sử dụng nguồn nước sạch, không nên sử dụng nguồn nước mương suối vì dễ gay nguồn bệnh.

5. Dàn che:

Hiện nay có 2 phương pháp canh tác cây dâu tây: Canh tác trong nhà che nilông và canh tác ngoài đồng. Phương pháp sản xuất cây dâu trong dàn che có các ưu điểm như:

Hạn chế bệnh cây trong vụ mưa, tuy nhiên nếu thiết kế dàn che không đảm bảo chiều cao, chế độ thông gió không tốt thì độ ẩm sẽ tăng và bệnh sẽ phát triển mạnh đồng thời nhiệt độ sẽ gia tăng đột ngột tại mot số thời điểm trong ngày ảnh hưởng đến sinh lý của cây.

Hạn chế ngập úng đất, ẩm độ gia tăng và rửa trôi phân bón khi mưa kéo dài hay mưa lớn trong vụ hè thu.

6. Phòng ngừa dị dạng trái:

Quy hoạch vùng trồng dâu tập trung, 1ha dâu nên nuôi 2 thùng ong mật để nâng cao tỷ lệ thụ phấn của hoa, đồng thời giảm bớt tỷ lệ trái dị dạng.

Thời kỳ kết trái đầu tiên nếu phát hiện quả dị dạng lập tức hải bỏ và giảm bón lượng đạm.

Giai đoạn hoa nở rộ tránh phun xịt thuốc sâu bệnh với nồng độ cao.

Bệnh thối trái:

Bệnh thối trái do nấm Botrtis Cinerea: Biểu hiện đầu tiên là những đốm nâu sáng sau đó lan rộng cả trái có phủ một lớp mốc xám, sau đó trái khô đi. Bệnh này xâm nhiễm từ giai đoạn quả xanh đến chín.

Bệnh thối trái do nấm Rhizoctonia: Vết bệnh ban đầu có màu nâu đậm, sau đó chuyển sang thối đen trái. Bệnh lây nhiễm khi trái chín tiếp xúc với đất trồng. Bệnh này xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn quả chín.

• Biện pháp phòng trị:

- Chọn đất trồng cây cao ráo, thoát nước tốt, lên luống cao.

- Sử dụng chất liệu phủ luống.

- Bón cân đối NPK, tăng cường Kali trong vụ mưa.

- Luân canh và sử lý đất trước khi trồng.

- Xịt định kỳ các loại thuốc bệnh.

- Ngắt bỏ các trái bệnh đem tiêu hủy xa nơi canh tác

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2018

Bón phân cho dâu tây

Bón phân cho dâu tây

Cây dâu tây đòi hỏi dinh dưỡng nay đủ và cân đối. Ngoài NPK, cần quan tâm đến nhóm trung lượng, vi lượng vì nó quyết định quan trọng đến chất lượng và khả năng kháng bệnh của cây dâu.


Thâm canh cây dâu đòi hỏi phải bón phân đầy đủ phân hữu cơ để bảo đảm lượng mùn trong đất cao (8% - 10%).

Phân hữu cơ sử dụng cho cây dâu cần phải ủ nóng và xử lý thuốc nấm bệnh và đạt yêu cầu hoai mục trước khi sử dụng để tránh lây lan nguồn sâu bệnh và cỏ dại.

Bón phân đạm cho cây dâu cần chú ý đến màu sắc của lá thời kỳ, tốc độ sinh trưởng phát dục để điều chỉnh liều lượng tăng hay giảm thích hợp.

Phân lân ảnh hưởng đến khả năng ra hoa, đậu trái, phát triển hệ rễ và ra ngó (mạ) của cây dâu.

Phân Kali quyết định về năng suất, trọng lượng độ cứng, chất lượng trái. Khả năng kháng bệnh của cây dâu và tăng cường quang hợp trong điều kiện thiếu ánh sáng trong vụ hè thu, nhất là canh tác trong nhà nilông (cây dâu yêu cầu ánh sáng dồi dào).

Canxi, Bo, Magiê ảnh hưởng quang trọng đến chất lượng trái. Canxi còn tạo điều kiện cho sự hấp thụ dinh dưỡng được điều hòa vả hạn che một số bệnh sinh lý trên trái.

Bo ảnh hưởng đến khả năng phân hóa mầm hoa, đậu hoa, chất lượng và kể cả độ cứng của trái.

Lượng phân đề nghị bón cho cây dâu 1.000 m2 (bình quân) trong năm thứ nhất (kiến thiết cơ bản và định hình).

• Bón vôi 2 đợt/năm:

- Đợt 1: Bón lót 100 kg.

- Đợt 2: 06 tháng sau khi trồng bón bổ sung 50 kg.

• Lượng phân định kỳ bón năm thứ nhất là 10 lần/năm, nếu 02 tháng bón 01 lần thì sử dụng lượng gấp đôi. Nếu sử dụng phân đơn thì mỗi đợt bón phân định kỳ có thể bón 10 kg ure, 08 kg kali sunphat và 06 kg supper lân, thay phân hỗn hợp. Sử dụng Acid Boric và MgSO4 phun xịt định kỳ qua lá.

• Chu kỳ kinh doanh của cây dâu thu hoạch trái kéo dài đến 02 năm hay hơn. Nếu dâu tây trên 01 năm tuổi chức năng sinh lý của rễ kém ảnh hưởng đến hấp thụ dưỡng liệu, do đó nên bổ sung phân qua lá. Đa dạng: đa vi lượng, đa trung lượng định kỳ 10 - 15 ngày xịt 01 lần.

• Bón phân cho dâu theo nguyên tắc bón ít nhưng bón nhiều lần trong năm. Lượng phân theo khuyến cáo như trên đối với bón định kỳ có thể tăng hay giảm tùy thuộc vào sức sinh trưởng, phát dục, giai đoạn bội thu, chu kỳ ra trái của cây dâu.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh trà

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh trà

Cây thanh trà dễ trồng, ít nhiễm sâu bệnh hại, chịu hạn rất tốt, các giống thanh trà thương mại có nguồn gốc ở Thái Lan, Mỹ hầu hết đều có dạng quả dài, mùi vị thơm ngon, thịt trái có nhiều chất bổ dưỡng, màu sắc và mẫu mã trái đẹp nên rất hấp dẫn người tiêu dùng.


Cây Thanh Trà có tên khoa học Bouea gandaria Blume hay Bouea macrophylla Griff., thuộc họ Anacardiaceae, bộ Sapindales tên tiếng anh Marian plum, Gandaria, Marian mango hay Plum mango, là cây ăn trái nhiệt đới có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam Á. Ở Thái Lan, trái Thanh Trà được người tiêu dùng rất ưa chuộng, diện tích trồng Thanh Trà ở Thái tăng nhanh từ năm 1998. Năm 2001, chính phủ Thái bắt đầu xúc tiến quảng bá xuất khẩu loại trái cây này. Hiện nay, thanh trà Thái được xuất khẩu sang nhiều nước ở châu âu và được bày bán hầu hết trong các siêu thị ở Anh Quốc.

Cây thanh trà dễ trồng, ít nhiễm sâu bệnh hại, chịu hạn rất tốt, các giống thanh trà thương mại có nguồn gốc ở Thái Lan, Mỹ hầu hết đều có dạng quả dài, mùi vị thơm ngon, thịt trái có nhiều chất bổ dưỡng, màu sắc và mẫu mã trái đẹp nên rất hấp dẫn người tiêu dùng. Ở nước ta mùa thu hoạch trái thanh trà sớm hơn so với nhiều loại trái cây khác nên trái dễ bán được giá cao.

Thanh Trà ra hoa 2 đợt cách nhau khoảng 1 tháng, thời gian thu hoạch quả kéo dài từ giữa tháng 12 đến tháng 2 âm lịch. Theo tác giả (Chairuangyod, 1996) thanh trà là loại trái cây có nhiều tìm năng trong tương lai và là một trong những loại trái cây mang lại nguồn thu nhập cao nhất cho nhà vườn ở Thái.

KỸ THUẬT TRỒNG


- Đất trồng: Cây thanh trà thích nghi rộng nên có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như: đất đỏ bazan, đất thịt, thịt pha cát, đất phù sa Đồng Bằng Sông Cửu Long,…

- Khoảng cách trồng: Khoảng cách trồng thích hợp trên đất có độ phì thấp là: 7m x 7m (200 cây/ha), 8m x 8m (156 cây/ha) Đối với nền đất có độ phì cao trồng với khoảng cách thưa hơn 9m x 9m (123 cây/ha).

- Chuẩn bị hố trồng: Hố trồng đào 50 cm x 50 cm x 50 cm, khi đào hố nên để riêng lớp đất trên mặt ra một bên và đất ở lớp phía dưới ra một bên, bón lót mỗi hố 10-12 kg phân chuồng đã ủ hoai, 150-250 g Super lân, trộn đều với lớp đất mặt xung quanh, trộn thêm với 50 g Basudin 10H và 0,5 kg vôi để phòng trừ mối kiến và nâng cao độ pH đất. Ngoài vật liệu bón lót trên không nên dùng phân hữu cơ chưa hoai hay tro bếp bón lót dễ gây thối rễ và làm mặn đất.

- Trồng cây

Dùng tay móc một lỗ nhỏ giữa hố trồng sâu hơn chiều cao túi đựng thanh trà khoảng 2-3 cm, kích thước to hơn bầu cây đôi chút, để túi cây trên mặt đất, dùng dao sắc rạch một đường xung quanh túi nilon, cách đáy 2-3 cm, bóc lấy đáy túi ra. Xem xét bộ rễ, cắt bỏ tất cả các phần rễ cái, rễ con ăn ra khỏi bầu đất, sau đó đặt vào hố trồng, lấp đất và rút bọc nilon ra. Dùng tay lấp và ém chặc lớp đất xung quanh để cố định gốc cây con không bị gió lay, chú ý đặt cây vào hố trồng sao cho sau khi trồng cổ rể ngang bằng với nền đất xung quanh, không trồng âm hay lấp phần thân cây. Sau khi trồng cần làm bồn đường kính khoảng 1 m để nước tưới không chảy ra ngoài.

Trồng xong lấy cọc cắm, buộc thân cây vào cọc tránh gió lay gốc, nên buộc lỏng bằng dây nilon. Nếu trồng vào mùa mưa thanh trà không cần che mát như sầu riêng hay măng cụt.

CHĂM SÓC

- Tưới nước: Tưới nước ngay sau khi trồng, trồng vào đầu hay giữa mùa mưa sẽ đỡ công tưới. Nếu trồng trong mùa khô phải tưới nước ít nhất 1 tháng đầu, nên tưới bằng vòi phun với lượng nước tưới vừa đủ.

- Cắt tỉa cành: Thanh Trà là loại cây đa thân, cây tự phân nhánh rất đều do đó việc cắt tỉa cành, tạo tán trong thời kỳ kiến thiết bơ bản đơn giản hơn so với các cây khác. Định kỳ 2-3 tháng dùng kéo tỉa bỏ bớt các cành mọc rậm rạp, tạo cho cây có bộ tán cân đối. Khi cây đã cho trái sau mùa thu hoạch, cắt tỉa bớt các nơi có mật độ cành mọc dày, tạo cho tán cây thông thoáng cây sẽ cho năng suất cao ở vụ kế tiếp.

- Bón phân: Hàng năm vào đầu mùa mưa bón mỗi gốc 15-25 kg phân chuồng hoai/gốc, mục đích bổ sung thêm các chất dinh dưỡng vi lượng, độ mùn, tăng độ phì và tăng khả năng giữ của đất trong mùa khô. Bón bằng cách rãi đều lên mặc đất xung quanh mặc bồn.

Phân hóa học:

Năm thứ 1: Sau khi trồng 20 ngày bón phân NPK(15-15-15) hay NPK(16-16-8) 100-150g/gốc, bón bằng cách rải đều trên mặc đất xung quanh tán, tạo điều kiện cho rễ cây trồng hấp thu dinh dưỡng hiệu quả nhất, sau khi bón dùng cào cỏ cào nhẹ lớp đất mặc để phân dễ thấm sâu, sau đó phủ lên một lớp đất mỏng. Có thể pha loãng phân với nước tưới hiệu quả sẽ cao hơn. Sau đó định kỳ 3-4 tháng bón 1 lần, mỗi lần 100 - 200g/gốc kết hợp phun thêm phân bón lá để bổ sung thêm dinh dưỡng cho cây.

Năm thứ 2: dùng phân NPK trên bón liều lượng 0,5-1 kg, chia làm 2 lần bón (đầu và cuối mùa mưa).

Năm thứ 3 và thứ 4: cây bắt đầu cho trái bón mỗi gốc 1,5-3 kg chia làm 3 lần bón: lần 1 sau thu hoạch, lần 2 trước ra hoa, ở lần bón phân 2 có thể trộn thêm 0,5 kg phân lân nung chảy nhằm bổ sung thêm lân, canxi, megiê và một số nguyên tố trung vi lượng khác cho cây, lần 3 bón sau khi trái đậu 1 tháng. Khi cây cho trái ổn định mỗi năm bón 3-4 kg NPK, cộng thêm mỗi gốc 0,5-1 kg phân kali (K2SO4), phân kali sulphat bón trước thu hoạch khoảng 20 ngày bằng cách rãi đầu khắp mặt bồn sau đó tưới nước 2-3 lần để phân thấm sâu sẽ làm tăng đáng kể độ ngọt và màu màu sắt thịt quả.

Thu hoạch quả:

Cây thanh trà ghép cho trái sau 3-4 năm trồng, cây ≥ 7 năm tuổi cho năng suất 120-200 kg/cây. Trái thanh trà khi chín có thể neo trên cây 12-15 ngày. Dùng dụng cụ thang, kéo cắt trái và túi lưới để thu hoạch quả, hạn chế trèo lên cây vì dễ làm giãn, gãy cành sẽ ảnh hưởng đến năng suất vụ sau. Khi cắt trái nên chừa 1-3 lá ở cuốn trái, trái sẽ tươi lâu và dễ bán. Sau khi hái nên phân loại những trái có cùng kích thước và độ chín. Sau khi phân loại, trái được cho vào thùng xốp, mỗi thùng 20-25 kg để chuyển đến các khách hàng và đại lý tiêu thụ.
Kính Chúc Quí Khách, Bà Con Làm Vườn Thành Công

Thanh trà giải nhiệt

Thanh trà giải nhiệt

TT - Nắng như xối lửa. Vậy mà khi nhìn thấy hai bên đường lủng lẳng những chùm trái vàng cam, ai cũng nghe lòng mình dịu mát.


Điều kỳ diệu đó diễn ra tại dốc cầu Cần Thơ (bờ Bình Minh), trên quốc lộ 54 từ Bình Minh đến Trà Ôn (cùng tỉnh Vĩnh Long), nhiều nhất là đoạn qua địa phận Đông Thành, Bình Minh.

Từ kiểng thành thương phẩm

Hình như nó bắt mọi người dừng xe lại, mua một vài ký đem về nhà giải nhiệt. Đó là loại trái cây tròn nhỏ cỡ ngón chân cái, vỏ màu vàng cam, mỏng cơm, hột lớn, giống xoài nên người ta gọi xoài hột. Muốn thưởng thức nó phải mút, còn gọi xoài mút. Nhưng mút không ngon. Muốn ngon, vò mềm, chấm muối ớt để vị mặn của muối, vị cay của ớt trung hòa vị chua của trái thành mùi vị tổng hợp dễ nuốt.

Đó là chuyện ngày xưa, khi xoài mút mới xuất hiện tại vùng quê này vào những năm 1950. Khi theo học chữ Nho với ông Cả Rạch Vồn (Cái Vồn, Bình Minh), ông Huỳnh Văn Sung thấy nhà thầy có cây đại thụ cho những trái màu vàng đẹp mắt bèn xin hột về trồng làm... kiểng. Cây cho trái chiến, khách thương hồ ngang qua thấy “ngộ”, hỏi ăn thử, bị vị chua lạ miệng giải ngay cơn khát mùa nóng nực hớp hồn, họ ra giá mua về đất Sài thành phổ biến, kinh doanh. Từ đó, nhà ông Huỳnh Văn Sung (ấp Đông Hưng 2, xã Đông Thành) được coi là “thủy tổ” của loại trái cây này. Đến nay, con ông là ông Huỳnh Văn Vẹn (Sáu Vẹn) còn bảy cây tổ, gốc cả ôm, năng suất 1,5 tấn/mùa. Và loại trái này nhanh chóng được nhân rộng khắp địa phương với tên gọi thanh trà.

Mùi vị độc đáo

Thanh trà cho trái ba đợt: tháng 9 âm lịch, lá già, trổ bông, xuống nhụy. Trái ra đợt đầu từ rằm tháng giêng âm lịch. Sau đó, thanh trà cho thu hoạch liên tiếp hai đợt nữa. Xưa kia thanh trà chỉ có một loại trái chua. Bây giờ nông dân biết tưới phân lạnh (urê) để thanh trà cho trái lớn, và bón phân kali để trái có vị chua ít ngọt nhiều hoặc ngọt hoàn toàn. Thanh trà là cây siêu lợi nhuận, phân ít, chăm sóc ít, thu hoạch cao. Để thanh trà ra trễ vụ, bán giá cao, người ta cầm nước, xịt đọt là có trái theo ý muốn.

Trái thanh trà xanh giúp nồi canh chua cá có mùi vị độc đáo, hạ nhiệt tức thì trong ngày oi nóng. Cũng ngon và giải khát như vậy, người ta đặt trái chín vàng trong lòng tay, vò mềm, chấm muối ớt, ăn sẽ thấy vị ngọt điểm xuyết chút chua, hòa chút mặn của muối và vị ớt cay nồng, tạo cảm giác lâng lâng. Nhưng vào mùa viêm nhiệt, thưởng thức ly nước đá thanh trà mới là tuyệt chiêu làm dịu cái nắng nổ đom đóm mắt. Cho thanh trà vào ly, dằn mấy hột muối, đường, chút nước lạnh, giằm đều rồi cho nước đá đập nhuyễn vào. Bấy giờ dùng muỗng quậy tan đá là đã có thức uống mát lạnh thoang thoảng thơm hương đất trời hoang dã.

Mùa thanh trà chỉ trong ba tháng, nên từ vài năm nay người Đông Bình đã nghĩ đến việc “giữ” thanh trà dùng trong những tháng còn lại của năm bằng cách làm mứt. Thanh trà gọt vỏ, chà bỏ hột, cứ 1kg cơm thì sên 1kg đường cát, để nguội, cho vô keo, khi dùng múc ra pha nước lạnh và nước đá hoặc phết bánh mì ăn sáng cũng tuyệt cú mèo.

Uống nước thanh trà làm cơ thể mát dịu

Cây thanh trà thuộc họ xoài, có nguồn gốc từ Malaysia và Tây Java. Loại mọc hoang cho trái có vị chua, qua bàn tay chăm sóc của con người có thêm vị ngọt và chua ngọt. Thanh trà là trái cây đặc sản vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhiều nhất là ở miệt Vĩnh Long, trái có vỏ bóng màu vàng cam tươi rói, ăn có vị chua ngọt, mùi thơm thanh thanh như xoài. Khác với thanh trà xứ Huế, cây thuộc họ bưởi, được trồng khắp nơi ở đất cố đô như vùng Thủy Biều, Kim Long.

Trái thanh trà còn xanh có thể dùng để nấu canh chua, trộn gỏi, hoặc đem kho chung với cá. Trái chín ăn theo kiểu ăn xoài, nhưng độc đáo nhất vẫn là làm nước giải khát. Những ngày hè oi bức, uống một ly nước thanh trà sẽ làm cho cơ thể mát dịu.

Thanh trà chứa nhiều beta carotene và các chất có hoạt tính chống oxy hóa có tác dụng ngăn chặn bệnh ung thư và một số bệnh khác. Phần lớn trái thanh trà chứa acid ascorbic (vitamin C), vitamin B, các acid amin, enzyme, bioflavonoids, giàu khoáng chất như crôm, kali, magiê...

Thanh trà là loại trái cây bổ dưỡng và có khả năng phòng bệnh. Dùng phù hợp với nhiều người, ở mọi lứa tuổi, nhất là người bị bệnh nan y và người có thể trạng suy nhược.

8 lý do ta nên ăn lê

8 lý do ta nên ăn lê

Lê rất tốt cho hệ miễn dịch của bạn, có chứa các chất chống oxy hóa. Ăn lê thường xuyên giúp bạn bớt ốm vặt.


Quả lê vị ngọt, có nhiều màu sắc khác nhau bao gồm màu đỏ, nâu, xanh lá cây và màu vàng. Quả lê có hình dạng như cái chuông: hẹp ở phía trên và rộng ở phía dưới. Lê được bán trong hầu hết các mùa, nhiều nhất là giữa tháng 6 và tháng 2. Lê chứa rất nhiều chất xơ và vitamin, vì vậy bạn nên ăn thường xuyên. Ngoài ra, các khoáng chất như kali, phốt pho các đồng trong trái cây này cũng tốt cho sức khỏe. Lê chứa một lượng nhỏ chất sắt.
1. Hạ sốt

Đây là một trong những lợi ích sức khỏe của quả lê. Nếu đang bị sốt, bạn ăn hoặc uống nước ép quả lê sẽ hạ sốt nhanh chóng.

2. Tốt cho đường ruột

Lê cung cấp chất xơ cho cơ thể. Lê rất tốt cho sức khỏe của ruột kết.

3. Ngăn ngừa ung thư

Trái lê rất giàu đồng và vitamin C, có thể ngăn chặn mối nguy từ các gốc tự do.

4. Tăng năng lượng

Nước ép quả lê có thể cung cấp năng lượng tức thời bởi chứa nhiều glucose.

5. Ngăn ngừa táo bón

Lê hoạt động như một thuốc nhuận tràng nhẹ. Nếu ăn lê thường xuyên, bạn sẽ đi tiêu thường xuyên và thuận lợi hơn rất nhiều.

6. Giảm viêm

Nếu bị đau do viêm, bạn nên uống nước ép quả lê. Lê có đặc tính kháng viêm hiệu quả.

7. Phòng ngừa cao huyết áp

Glutathione – một chất chống oxy hóa trong quả lê có tác dụng ngăn ngừa đột quỵ cũng như cao huyết áp.

8. Ngăn ngừa loãng xương

Lê rất giàu khoáng chất boron. Khoáng chất này giúp cơ thể bạn chuyển hóa canxi. Đó là cách gián tiếp ngăn chặn chứng loãng xương.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

Kỹ thuật trồng cây mâm xôi

Kỹ thuật trồng cây mâm xôi

Cây mâm xôi trồng được quanh năm, tuy nhiên, thời điểm gieo trồng tốt nhất là cuối mùa thu đến đầu mùa xuân. Chúng sẽ phát triển tốt nhất nếu được trồng ở những khu vực nhiều ánh sáng và được bảo vệ bằng hàng rào và lưới. Cây giống cần được chọn cẩn thận trước khi trồng, vì chúng rất dễ bị bệnh.


1. Giống và chủng loại:

Mâm xôi là một loại cây lai tạo từ một số giống cây với các cây khác trong chi Mâm xôi thuộc họ Rosaceae. Chúng có rất nhiều tác dụng nên được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia, trong đó có Úc. Cây mâm xôi cũng được lai để tạo ra những loại cây khác như: boysenberry, hildaberry, tayberry, tummelberry, Veitch berry và youngberry. Mâm xôi có 2 loại chính: Mâm xôi đỏ và mâm xôi đen. Chúng ta dễ dàng phân biệt chúng bằng màu sắc.

Quả mâm xôi đỏ thường có màu đỏ tươi khi đã chín. Chúng có vị ngọt vừa phải, tính bình, có tác dụng bổ can thận, giữ tinh khí, làm cường dương, mạnh sức. Lá có vị se, có tác dụng hoạt huyết, thanh nhiệt, tán ứ, tiêu viêm.

2. Xuất xứ và mùa vụ:

• Xuất xứ:  Úc
• Mùa vụ: Quả mâm xôi có quanh năm.

3. Công tác ươm trồng và cách chăm sóc:

Cây mâm xôi trồng được quanh năm, tuy nhiên, thời điểm gieo trồng tốt nhất là cuối mùa thu đến đầu mùa xuân. Chúng sẽ phát triển tốt nhất nếu được trồng ở những khu vực nhiều ánh sáng và được bảo vệ bằng hàng rào và lưới. Cây giống cần được chọn cẩn thận trước khi trồng, vì chúng rất dễ bị bệnh.

Trong năm đầu tiên, cây mâm xôi phát triển rất nhanh và thường cao từ 3 - 6 m (có thể đến 9 m). Cây mâm xôi đen thuộc giống cây bụi, chúng có sức sống mạnh mẽ, thích hợp nhất với đất có độ chua nhẹ, chịu được đất nghèo và thường được trồng trên những lô đất trống. Ngoài ra, chúng sẽ phát triển tốt hơn nếu được bón phân hữu cơ đầy đủ và nhổ sạch cỏ dại giữa các cây.

Thời tiết có ảnh hưởng rất lớn đến việc thụ phấn của cây. Ngay cả một thay đổi nhỏ, như một ngày mưa hoặc một ngày quá nóng có thể làm giảm số lần ong bay đến thụ phấn cho hoa, do đó làm giảm chất lượng của quả.

Những bông hoa xuất hiện vào cuối mùa xuân và đầu mùa hè. Mỗi bông hoa thường có năm cánh màu hồng hoặc màu trắng với đường kính khoảng 2 - 3 cm.

Cây mâm xôi dễ bị tấn công bởi virut và 1 số loại côn trùng gây hại như rầy, ruồi giấm… Đáng nói nhất là ruồi giấm.  Chúng thường làm mục nát hoặc lên men trái cây, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá trì thương mại của loại quả này. Tuy nhiên, cây Mâm xôi vẫn phát triển rất phổ biến vì hạt của chúng được các loại chim rải khắp nơi.

4. Lưu ý bảo quản và sử dụng:

- Mâm xôi được thu hoạch khi chín trên cây, là loại trái cây rất nhạy cảm, nhất là về nhiệt độ.Trong quá trình vận chuyển, các quả mâm xôi chèn lên nhau nên có thể bị dập ngoài vỏ.  Tuy nhiên,  Mâm xôi Úc vẫn giữ được hương vị vốn có của nó.

- Cần chọn quả thịt chắc, đầy đặn và sậm màu, không rửa mà xếp lên một cái đĩa có lót giấy thấm, bọc nilông lại và cho vào tủ lạnh.

- Không ngâm quả mâm xôi lâu trong nước, không để ở nhiệt độ phòng hoặc trong ánh sáng mặt trời trực tiếp quá lâu vì điều này sẽ làm quả nhanh chuyển màu và nhanh hỏng.

Những trái non

- Cách bảo quản tốt nhất: rửa sạch sau đó lau khô bằng giấy thấm, xếp vào túi nilông và cho vào ngăn đá ở nhiệt độ khoảng 0 - 4 độ C để giữ quả tươi ngon lâu hơn. Thêm một ít nước cốt chanh vào quả sẽ giúp quả giữ được màu sắc ban đầu. Các hoạt chất anthocyanin và sắc tố vẫn còn trong quả tươi và đông lạnh nhưng sẽ không còn trong quá trình chế biến.

- Quả mâm xôi thường được dùng để ăn tươi, hoặc trộn chung với salad trái cây, sữa tươi, yogurt, mật ong cho các bữa ăn sáng, làm bánh mứt, làm kem, trang trí các loại bánh, xốt dầu dấm. Chỉ rửa 1 lượng Mâm xôi vừa đủ trước khi ăn hoặc trước khi chế biến món ăn.

- Chúng cũng rất ngon nếu được xay thành bột mịn từ quả khô (ngậm cho tan rồi uống với nước), làm mứt đông từ trái phúc bồn tử (khi ăn phết lên bánh mì với bơ đào nhân, hạnh nhân hoặc bơ đậu phộng thành món sandwich truyền thống) và ngâm rượu…

* Chú ý: Quả mâm xôi chứa chất oxalat, ăn nhiều sẽ có nguy cơ oxalat kết tinh thành sỏi. Những người có sỏi ở thận, bàng quang hoặc túi mật tránh không nên dùng loại trái này. Oxalat còn hạn chế hấp thu canxi, tuy nhiên điều này không đáng kể đối với người có bộ máy tiêu hoá tốt.