Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

Kỹ Thuật Xử Lý Chanh Ra Hoa Trái Vụ

Chanh là một trong những loại cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao cho các nhà vườn, thường ra hoa chính vụ trong mùa khô và thu hoạch tập trung trong mùa mưa.

Nhưng mùa thuận (mùa mưa) giá chanh thường rất rẻ, thậm chí không đủ chi phí thu hoạch nên người trồng chanh có khuynh hướng điều khiển cho chanh ra hoa trong mùa mưa để thu hoạch trong mùa khô, nhất là dịp Tết sẽ bán được giá. Nhưng việc xử lý ra hoa trong mùa mưa là yêu cầu kỹ thuật rất quan trọng đối với nhà vườn trồng chanh.

Do vậy, khi xử lý ra hoa bà con nông dân nên áp dụng kết hợp 3 biện pháp là xiết nước, phá lá và phun hỗ trợ các hóa chất. Sau khi thu hoạch (tháng 7 - 8 âm lịch) khoảng 15 ngày: Bà con bón phân cho cây phục hồi (áp dụng cho cây 5 năm tuổi): Bón 1 - 2 kg NPK 20-20-15 + 10 kg phân hữu cơ hoai mục, trộn chung với 20 gr nấm Trichoderma cho một gốc giúp cây phục hồi và ra đọt non tốt, đồng thời giúp tăng độ phì cũng như cải tạo đất, kháng các nấm bệnh gây hại như Fusarium, Phythophthora, Rhizoctonia, Pythium…

Sau đó, tiến hành cắt các đoạn cành đã mang trái, cành già, cành sâu bệnh cho vườn thông thoáng. Quét hoặc phun vôi hay dung dịch Bordeaux lên thân, cành phòng ngừa nấm; đồng thời kết hợp phun thuốc trừ sâu 2 lần (7 ngày/lần) giúp cây phát triển tốt chuẩn bị sức ra hoa.

Bón phân đón ra hoa: Đặc tính của cây chanh là khi nhú đọt sẽ kèm theo hoa, cây cần phải nhờ đến độ già của cơi đọt thì mới ra hoa đạt hiệu quả. Vườn chanh ra đọt non được 1,5 tháng thì bón 500 gr DAP + 500 gr kali. Kết hợp phun 2 - 3 lần bột ra hoa (F.Bo) ướt đều 2 mặt lá, 7 ngày/lần.

Khi đọt lá đủ già (3 tháng), bắt đầu “xiết nước” cho đến khi cây “xào” lá (lá hơi cuốn lại gần giống như bị héo). Thời gian “xiết nước” khoảng 1 - 2 tuần tuỳ điều kiện thời tiết. Sau khi xiết nước thì tưới đẫm lại 3 ngày liên tục. Sau đó tiến hành phun thuốc kích thích ra hoa đồng loạt. Khi tưới nước 2 ngày, cây hơi “tỉnh” lại, chúng ta sử dụng chế phẩm ra hoa C.A.T + F.Bor xịt ướt đều 2 mặt lá, 5 ngày/lần. Hai chế phẩm này có tác dụng giúp hoa bung ra nhanh và mạnh nhưng không gây cháy đọt non.

Phun hóa chất làm rụng lá như: Thioure nồng độ 0,5%, hay thioure nồng độ 0,3% kết hợp với urê nồng độ 4,6%. Nếu số lá rụng quá ít thì cây sẽ ít ra hoa mà chủ yếu là ra đọt non. Nếu lá rụng quá nhiều thì sau khi cây ra hoa đậu trái, số lá còn lại sẽ không đủ sức nuôi trái sau này, cây suy kiệt sẽ dễ nhiễm nấm bệnh và tuổi thọ của cây sẽ giảm.

Ngoài ra, còn cách làm khác để chanh ra trái theo ý muốn cũng rất hiệu quả mà ít làm kiệt sức cây hơn. Đó là xịt Paclobutrazol 10WP với liều lượng khoảng 20 gr pha 8 lít nước sẽ giúp cây ra hoa nghịch mùa rất tốt mà ít làm suy kiệt cây do giữ được bộ lá.

Lưu ý rằng, đối với việc dùng urê hay Paclobutrazol để ức chế tạo độ “sốc” giúp cây dễ ra hoa thì liều lượng phải xác định cho phù hợp với độ tuổi cây, thời tiết, chế độ chăm sóc… Có như vậy thì sự ra hoa mới đạt được như mong muốn. Sau khi lá vàng, rụng tiến hành bón phân NPK với tỷ lệ đạm cao kết hợp tưới nước cho cây ra hoa.

Để kích thích trổ hoa tập trung, nhà vườn trồng chanh thường sử dụng 2,4 D nồng độ 0,01 - 0,03% (tương đương với nồng độ 72 -216 mg 2,4 D trên 1 lít nước) hoặc kết hợp với các sản phẩm có tác dụng kích thích trổ hoa như Thiên Nông hay F94 cùng với phân NPK 10-60-10 (từ 0,2 - 0,5%) nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển hoa.

Tăng tỷ lệ đậu trái bằng cách xịt các loại phân bón có nhiều Calci với Bor như chế phẩm đậu trái C.A.T- giúp cây dễ đậi trái và sau này ít rụng trái non hơn. Thông thường trên cây chanh có 2 - 3 đợt rụng sinh lý, khi ấy bà con dùng HCR xịt cho cây từ 1 - 2 lần cách nhau 7 ngày/lần để giảm bớt hiện tượng rụng trái non.

Tuy nhiên, việc “xiết cây” cho ra hoa trái vụ ít nhiều cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây; do đó đòi hỏi người sử dụng sau đó phải chăm sóc thật tốt cho chanh mau hồi sức, không nên lạm dụng việc phun các hóa chất để làm cho lá rụng, nhất là việc sử dụng 2,4D vì sẽ làm cây suy kiệt rất nhanh.

Việc xử lý ra hoa trên chanh không khó nếu chúng ta áp dụng đúng kỹ thuật và tùy từng điều kiện cụ thể mà nên chọn biện pháp xử lý ra hoa tối ưu cho chanh. Vấn đề đặt ra cho nhà vườn hiện nay là thời điểm nào thích hợp để xử lý ra hoa đúng lúc bán trái được giá nhất, thu lợi nhuận cao.

Kỹ Thuật Trồng Chanh Giấy Không Hạt Ít Gai

Có thân và quả gần giống chanh giấy truyền thống của Việt Nam, khi cành ở giai đoạn thành thục thì các gai bị thoái hoá, cây cho sai quả, một chùm cho 7-8 quả. Năng suất rất cao từ 150-200kg quả/cây/năm

1. Đặc điểm

Chanh giấy không hạt-ít gai là giống chanh được Công ty GINO nhập vào Việt Nam trong thời gian gần đây, rất được bà con nông dân ưa chuộng, do dễ trồng, cho năng suất cao. Có thân và quả gần giống chanh giấy truyền thống của Việt Nam, khi cành ở giai đoạn thành thục thì các gai bị thoái hoá, cây cho sai quả, một chùm cho 7-8quả. Năng suất rất cao từ 150-200kg quả/cây/năm, quả to, tròn, cơm màu trắng xanh, không hạt, vỏ mỏng, nhiều nước, chua, thơm ...

2. Kỹ thuật trồng

2.1. Giống: 
Nên chọn cây chiết nhánh hay giâm cành, không sâu và sạch bệnh.

2.2.  Mật độ:

- Cây cách cây 3m, hàng cách hàng 4m.
- Kích thước hốc trồng 0,6x0,6x0,6m.
- Nếu vùng đất thấp phải có hệ thống thủy lợi tưới tiêu hoàn chỉnh, đắp mô cao 0,5-0,6m, rộng 0,8-1m.
- Nếu vùng đất cao, mặt đất bằng phẳng đắp mô cao 0,3-0,8m, rộng 0,8-1m, mặt đất nghiêng <5% không vun mô.

2.3. Đất trồng: Trộn thêm vôi bột 1 kg + phân hữu cơ hoai mục 10-15kg + 10-15kg tro trấu hoai (hoặc bả dừa, bả đậu) + Super lân 1kg.

2.4. Cách trồng: Đào một hốc nhỏ giữa mô, đặt cây con vào hốc, tháo bao đựng bầu ra, lấp đất giữ chặt bầu cây, cắm cọc giữ cây cố định.

3. Kỹ thuật chăm sóc

3.1. Hạn chế ánh sáng: Trong thời gian đầu ta có thể trồng xen cây họ đậu vào trong vườn để hạn chế giông gió, đổ ngã và che bớt ánh sáng.

3.2. Giữ ẩm: Đậy phủ gốc cho cây vào mùa khô, nhằm hạn chế chi phí tưới nước, trong vườn nên để cỏ cao 20-40cm để hạn chế nắng nóng vào mùa khô và chống xói mòn hay tăng cường thoát nước trong đất vào mùa mưa.

3.3. Tưới nước:
 Cung cấp nước cho cây điều độ, muốn cây ra hoa, ngưng tưới cho khô gốc 20-30 ngày, sau đó tưới lại cây sẽ ra hoa.

3.4. Tỉa cành tạo tán:
 Hạn chế cành vượt, loại bỏ những cành già cỗi sâu bệnh, giúp cây thông thoáng, có dáng đẹp, tăng khả năng quang hợp và cây phát triển cân đối.

3.5. Bổ sung đất cho cây: Vào thời kỳ bón thúc cho cây nên cho thêm đất mới vào tán cây dầy 2-3cm cùng kết hợp việc bón phân hữu cơ hoai hay phân hóa học.

3.6. Bón phân:


- Phân hữu cơ hoai: 10-15kg/năm.

- Phân hóa học:
+Cây mới trồng đến 1 năm tuổi bón: 0,5kg Urê + 1kg Super lân + 0,2kg KCl, chia ra 4-5 lần bón/năm.
+ Cây thời kỳ kinh doanh sử dụng phân: 0,5-2kg Urê + 1,54kg Super lân + 0,3kg KCl, chia ra các lần bón như sau:
Sau khi thu hoạch quả: Bón 2/3 phân Lân và toàn bộ phân hữu cơ
Tiếp đó: Bón 1/3 phân lân + 1/4 phân Urê + 1/3 KCl.
Giai đoạn nuôi quả: Bón 1/4 phân urê.

4. Phòng trừ sâu bệnh

4.1. Sâu vẽ bùa: Gây hại thường xuyên vào giai đoạn ra lá non, dùng thuốc có tính nội hấp như: Sevin 80WP, Padan 95SP, Cymbush, Lannate ...

4.2. Rầy chổng cánh: Là đối tượng trung gian truyền bệnh vàng lá Greening, sử dụng thuốc Applaud MIPC 25%, BTN, Admire 50ND, Bassan 50ND, Trebon 10ND ...

4.3. Rầy mềm: 
Chích hút nhựa trên chồi non hay mặt dưới lá non sử dụng thuốc: Bassan 50ND, Supracide 40EC, Polytrin 40EC, Trebon 10ND...

4.4. Nhện đỏ:
 Ấu trùng và thành trùng đều gây hại sử dụng thuốc: Confidor, Kelthane, Danitol...

4.5. Bệnh loét, ghẻ: Bệnh gây hại nặng vào mùa mưa, sử dụng thuốc gốc đồng để phòng trị như: Copper Zin, Copper B, Zineb 80 BHN, Kasuran, Bordeux...

4.6. Bệnh thối gốc - chảy nhựa: Bệnh gây hại nhiều ở thân rễ, sử dụng thuốc để phòng trị như: Captan 75 BHN, aliett 80 BHN, Copper Zine...

4.7. Bệnh vàng lá gân xanh:
 Vấn đề diệt trừ rầy chổng cánh tác nhân lan truyền bệnh vàng lá gân xanh là rất quan trọng.

Trồng Cây Chanh Không Hạt Cho Trái Quanh Năm

Cây Chanh không hạt được nhập từ bang California vào nước ta trong khoảng 10 năm nay. Cây có thể mọc cao đến 6m, thân cây không có gai, có tán lá tròn, trái chùm, không có hạt hoặc chỉ có vài hạt

1. Chất  lượng cây chanh không hạt

Chanh không hạt được nhiều người ưa chuộng và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị do chanh có vỏ mỏng, nước quả ít chua hơn và không có vị đắng như chanh ta. Ưu điểm nổi bật của chanh không hạt là cho trái quanh năm, nên còn gọi là chanh tứ quý, có thể cho năng suất quả 150 – 200 kg/năm/cây. Cây còn có sức kháng bệnh rất mạnh, nhất là không thấy bị nhiễm bệnh vàng lá gân xanh như các loại cây có múi khác.

2. Kỹ thuật trồng và bón phân

Chanh có thể trồng quanh năm, đặc biệt là vụ đông xuân trồng vào tháng 2 – 3, vụ thu đông trồng từ tháng 8 – 10. Thường được lên liếp cao trên ruộng rồi đào hố để trồng. Hố có chiều rộng từ 60 – 80cm, chiều sâu tùy thuộc vào mực nước ngầm và điều kiện đồng ruộng. Trên đất bờ cao, đất đồi sâu từ 60 – 80cm, đất đồng bằng trồng trên ruộng đào sâu khoảng 30 – 40cm. Trồng theo hàng hoặc nanh sấu, cây cách cây 3m x 3m hoặc 3m x 4m.

- Bón lót

Trước khi trồng, bón lót phân chuồng, phân hữu cơ hoai mục khoảng 20 kg/hố trồng. Bón phía dưới hố, lấp ít đất và đặt cây con để trồng. Sau khi trồng, tưới nước giữ ẩm vừa phải cho cây. Có thể tưới từ 2 – 3 ngày/lần cho những tuần đầu sau trồng. Sau đó khoảng 1 tuần – 10 ngày tưới 1 lần. Luôn chú ý giữ sạch cỏ dại.

- Bón thúc


Năm đầu tiên, bón thúc với liều lượng 1 muỗng canh phân urea pha với bình 10 lít nước để tưới cho cây. 1 năm tưới 3 – 4 lần. Cây chanh không hạt dễ trồng và dễ chăm sóc, tuy nhiên muốn đạt năng suất, chất lượng cao cần được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng như những loại cây trồng khác. Có thể bổ sung phân lân, kali và các yếu tố vi trung, vi lượng thông qua bón thêm phân hữu cơ và hữu cơ khoáng theo khuyến cáo. Khi tưới bằng phân hữu cơ ngâm pha loảng tỷ lệ khoảng từ 1 – 5 để tưới cho cây. Bón thúc từ năm thứ hai là 100 – 500g phân urea/cây/năm. Chia làm 3 – 4 lần bón vào gốc lấp đất hoặc pha nước tưới. Nếu tưới cần tưới xả lại một lần với nước lã.

Chú ý phòng trừ sâu bệnh cũng như chăm sóc, tỉa cành cho cây thường xuyên. Cắt bỏ những cành rậm rạp sát gốc, cành trong tán, hoặc cành khô già, cành nhỏ, cành vượt để tạo độ thông thoáng cho cây cho năng suất tốt.

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Chanh Giấy Limca

Cung cấp nước cho cây điều độ. Muốn cây ra hoa, ngưng tưới nước cho khô gốc 20-30 ngày, sau đó tưới lại cây sẽ ra ra hoa.

I. KỸ THUẬT TRỒNG:

1. Giống: Phải chọn đúng giống chanh giấy Limca sạch bệnh. Có nhiều phương pháp nhân giống như chiết cành, ghép mắt, giâm cành.

2. Cự ly: Bình quân trồng cây cách cây 3,5m, hàng cách hàng 4m.

3. Kích thước hốc trồng: 0,6 x 0,6 x 0,6m. Nếu :
- Vùng đất thấp phải có đê bao cống bọng thật sự chủ động để cấp thoát nước. Đấp mô cao 0,5 - 0,6m rộng 0,8 - 1m.
- Vùng đất cao :
*Thế đất bằng phẳng đắp mô cao 0,3m rộng 0,8m.
*Thế đất nghiêng < 5% không vun mô.

4. Đất trồng: Trộn thêm :
-Vôi bột 0,5- 1 ký
-Phân hữu cơ oai mục 10- 15 ký.
-Tráu mục, bả dừa, bả đậu, tro trấu, bả mía… 10-15kg
-Phân lân 0,5- 1 ký.
-Trồng: Đào một hốc nhỏ giữa mô (vị trí muốn trồng). Rọc đáy túi đựng bầu. Đặt cây con vào hốc. Rọc đường xuôi từ trên xuống đáy bầu. Lấy bao đựng bầu ra. Lắp đặt giữ chặt bầu cây và cắm cọc cố định cây.

II. KỸ THUẬT CHĂM SÓC:


1. Ánh sáng: Trồng cây chắn gió xung quanh vườn để hạn chế dông gió. Đây là giống chanh ưa thích ánh sáng nên không cần phải trồng trồng cây che râm.

2. Giữ ẩm: Đậy tủ gốc cho cây vào mùa khô nhằm tiết giảm chi phí tưới tiêu. Trong vườn nên để cỏ cao 20-40cm để hạn chế nắng nóng vào mùa khô và chống xói mòn hay tăng cường thoát nước trong đất vào mùa mưa.

3. Tưới tiêu:
 Cung cấp nước cho cây điều độ. Muốn cây ra hoa, ngưng tưới nước cho khô gốc 20-30 ngày, sau đó tưới lại cây sẽ ra ra hoa.

4. Tỉa cành tạo tán: Cắt bỏ cành vượt, và hạn chế 1/2 đến 2/3 chiều chiều dài đọt non, biện pháp này giúp tạo tán cây tròn đều và hạn chế đáng kể sâu rấy và bệnh hại tấn công. Loại bỏ các cành già cỗi sâu bệnh, giúp cho cây thông thoáng, có dáng đẹp, tăng khả năng quang hợp và cây phát triển cân đối, đủ sức mang trái.

5. Bồi đất cho cây: Vào thời kỳ bón thúc cho cây nên cho thêm đất vào tán cây dầy 2-3cm cùng kết hợp việc bón phân hữu cơ hay phân hóa học.

6. Bón phân: Công thức bó phân tham khảo sau:

a.Phân hữu cơ:. Đào 2- 4 hố kích thước 0,3x0,3x0,3m hay đào rãnh xung quanh tán cây bón 5- 15 ký.
b.Phân hóa học:
- Cây mới trồng đến 1 năm tuổI: 0,5 ký Urê + 1ký phân lân + 0,2 ký phân Kali hay 1 ký phân NPK 22-20-10. Chia làm 4-5 lần bón/ năm.
- Cây thời kỳ kinh doanh: 1- 2 ký urê + 2- 4 ký lân + 0,3- 06 ký Kali. Chia ra.:
•Sau khi thu hoạch bón 1/4 phân urê, 2/3 phân lân và toàn bộ phân hữu cơ
•Chuẩn bị xiết nước 1/3 phân lân + 1/4 phân đạm + 1/3 kali
•Chuẩn bị cho ra hoa: 1/4phân đạm + 1/3 kali và tưới ước đẩm.
•Các giai đoạn nuôi trái 1/4 đạm còn lại.

III. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH QUAN TRỌNG:

A. SÂU RẦY:


1. Sâu vẽ bùa: Gây hại thường xuyên cho cây có múi vào giai đoạn ra lá non. Dùng thuốc có tính nội hấp như: Sevin 80WP, Padan 95SP, Cymbush, Lannate hay dầu khoáng DC-Tronplus …

2. Rầy chổng cánh: là đối tượng trung gian truyền bệnh Vàng lá Greening. Dùng thuốc Applaud MIPC 25%, Admire 50 ND, Bassan 50ND, Trebon 10 ND…

3. Rầy mềm chích hút nhựa trên chồI non hay mặt dưới la non. Rệp sáp gây hại trên cả lá, cành già và trái Dùng thuốc Bassan 50ND, Supracide 40 EC, Polytrin 40 EC, Trebon 10 ND …

4. Nhện đỏ: Ấu trùng và thành trùng đều gây hại. Dùng Confidor, Kelthane, Danitol …

B. BỆNH HẠI:

1. Bệnh loét, ghẻ: Bệnh gây hại nặng vào mùa mưa. Dùng thuốc gốc đồng phòng trị như: Copper Zine, Copper B, Zineb, Kasumin, Bordeux, Champion . . . Khi xuất hiện ghẻ loét trên vườn cần phải cắt bỏ và tiêu hủy các cành lá đã bị nhiễm bệnh.

2. Bệnh thối gốc- chảy nhựa: Bệnh gây hại nhiều ở thân và cổ rễ. Dùng các thuốc Captan 75 BHN, Aliette 80 BHN, Copper Zinc, Ridomyl . . .

3. Bệnh vàng lá gân xanh: Chanh giấy Limca có tính chống chịu tốt với bệnh Vàng lá gân xanh, đến nay chưa xãy ra dịch bệnh Vàng lá gân xanh trên cây chanh giấy Limca ở những vùng trồng tập trung nhưng diệt trừ rầy chổng cánh là tác nhân lan truyền bệnh vàng lá gân xanh là rất quan trọng. Có thể dùng biện pháp sinh học hay sử dụng thuốc hoá học để trừ gầy chổng cánh.

Kỹ Thuật Trồng Chanh

Cây Chanh từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 3-4 tháng, tùy theo giống, tuổi cây, tình trạng sinh trưởng

Chanh: (Citrus limonia), cây ăn quả lâu năm, họ Cam (Rutaceae). Thân gỗ, dạng cây bụi, nhiều gai. Lá không tai, tròn hoặc hình trứng, mọc cách, trên lá có những ống tiết tinh dầu. Hoa trắng điểm tím. Quả xanh lục, vị chua. Thường gặp các giống, tuỳ theo chất lượng, hình dạng mà có tên gọi khác như C giấy, C đào, C núm. Ngoài ra, ở Việt Nam, gần đây còn nhập một số giống C ở vùng ven Địa Trung Hải như C Ơreka.
Dịch quả chứa nhiều thành phần, trong đó quan trọng nhất là vitamin C (khoảng 65 mg/100 g dịch quả tươi) và axit xitric 5 - 7%, dùng làm nước giải khát, thông tiểu tiện, chữa bệnh chảy máu chân răng (bệnh scobut), sụt lợi, cũng như sốt xuất huyết. Ngoài ra, trong dịch quả còn có vitamin PP có tác dụng tăng cường sức bền bảo vệ mao mạch. Ngâm C với muối để chữa ho, viêm họng. Tinh dầu lá, vỏ quả làm hương liệu. Lá, rễ, vỏ thân, hạt quả, tinh dầu dùng làm thuốc chữa bệnh.

1. Một số giống chanh và kỹ thuật chọn

Hiện nay bà con vẫn còn trồng Chanh chủ yếu bằng cành chiết. Cây giống cần đủ tiêu chuẩn sinh trưởng, đúng giống và sạch bệnh.

a) Nhóm con tép màu xanh nhạt: (Citrus aurantifolia).

- Đặc điểm chung:
 Tán cây dày đặc, cành có gai (khó chăm sóc). Năng suất cao, lá hình elip. Trái đa số hình cầu (trừ chanh côn hình elip), vỏ mỏng, bóng và láng. Con tép nhỏ, màu xanh nhạt, nhiều nước, mùi vị rất chua và thơm, khá nhiều hạt. Bước đầu ghi nhận có 5 giống/dòng chanh trong đó có 2 giống phổ biến:

* Chanh chùm: Trái mọc thành chùm (có 3-5 trái), vỏ mỏng (1,5mm), nước nhiều (>45%), vị rất chua. Hiện nay, giống này đang được trồng phổ biến (Bến Tre, Vĩnh Long, Tiền Giang).

* Chanh lá xoắn: Trái khá giống Chanh chùm nhưng dạng trái hơi dẹp hơn và có chóp lá xoắn (Bến Tre).

b) Nhóm con tép màu vàng: (Cirus spp)

- Chanh tàu: Cây ít gai, tán dày đặc. Trái hình cầu, to, vỏ trái xanh đậm và hơi sần hơn Chanh chùm, con tép vàng nhạt, to, nhiều nước (>45%). Hiện nay, giống này cũng được trồng khá nhiều do ưu điểm cây ít gai dễ chăm sóc, trái to và dễ bán ép bởi có nhiều nước khi da vừa bóng hơn Chanh chùm dù phẩm chất kém hơn. Bước đầu ghi nhận có 2 dòng, khác nhau về màu sắc bông và đặc tính ra hoa, đậu trái:

* Chanh tàu bông tím đậm (Citrus spp): Hoa thường ra chùm (2-9 hoa) và có nụ màu tím đậm, trái chùm (3-7 trái) (Cần Thơ, Tiền Giang, Đồng tháp).

* Chanh tàu bông tím lợt (Citrus limon): Hoa ra thường rời (1-5 hoa) và có nụ màu tím lợt hơn, trái rời 2-3 trái/chùm (cần Thơ).

2. Chuẩn bị đất và thời vụ trồng:


a) Xây dựng bờ bao:

Đồng Bằng Sông Cửu Long thường có cơn lũ vào tháng 9 -11 dl từ thượng nguồn đổ về, nên vườn cần có bờ bao với hệ thống cống để tưới và tiêu nước. Vườn phải có trồng cây chắn gió để bảo vệ cho cây Chanh. (Tre, bạch đàn, tràm, bình linh … thường được trồng trên bờ bao).

b) Đào mương liếp:

Để tăng hệ số sử dụng đất thì đào mương rộng trung bình là 1,8m - 2m. Tuy nhiên kích thước mương còn tùy thuộc vào tầng canh tác sâu hay cạn. Khi đất ruộng lên vườn hoặc vườn tạp cải tạo thường áp dụng kỹ thuật lên liếp dạng cuốn chiếu hoặc kiểu mô. Để cho cây Chanh phát triển tốt, năm đầu khi lập vườn, chúng ta nên trồng những cây chịu được pH thấp: mía, khóm...sau đó mới trồng Chanh.

c) Trồng cây che mát:


Vườn cần trồng cây để che mát cho cây Chanh đồng thời tăng hệ số sử dụng đất (Cây nhãn, mận, cóc …thường được trồng nhất).

d) Khoảng cách trồng:

Do trồng xen nên mật độ cây rất biến động, trong khoảng 40-100 cây/công (1.000m2), trung bình là 70 cây/công. Khoảng cách trồng của Chanh là (4m x 4m) hoặc (5m x 5m). Khoảng cách này thay đổi tuỳ thuộc có trồng xen hay không. Riêng vùng Miền Đông không bị ảnh hường của tầng phèn cũng như lũ lụt nên khoảng cách trồng có thể rộng hơn miền Tây.

3. Thời điểm trồng: Thường là tháng 4 - 6 dương lịch (đầu mùa mưa).

4. Kỹ thuật trồng và chăm sóc Cây chanh


a) Chuẩn bị hố trồng và cách trồng:

Tuỳ theo vùng đất mà kích thước mô cao hay thấp, lớn hoặc nhỏ. Nói chung, vùng ĐBSCL mô trồng cao hơn vùng Miền Đông. Mô trồng cần phải chuẩn bị trước ít nhất là 2 tuần. Đất làm mô trồng thường là đất mặt hoặc đất bãi bồi ven sông phơi khô. Mô nên cao 30-40cm và đường kính mô khoảng 80-100cm. Giữa mô, đào một hố nhưng có kích thước nhỏ hơn và trộn 20-40kg phân chuồng, 1kg phân super lân và 0,5 kg vôi trộn đều với đất. Khi trồng, cho một lớp phân đã trộn với đất vào hố sao cho khi đặt bầu cây thì mặt bầu ngang bằng mặt mô, dùng dao cắt đáy bầu, sau đó rạch theo chiều dọc của bầu để kéo bao nilon lên và lấp đất lại, tưới nước. Để đủ đất cho bộ rễ phát triển, hàng năm chúng ta cần phải đắp đất thêm cho mô. Khi đặt cây phải để xoay mắt ghép (nếu là cây ghép) hướng về chiều gió để tránh gãy nhánh. Sau trồng nên cắm cọc giữ chặt cây con nhằm tránh gió, mưa lung lay bộ rễ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây. Chú ý không được lấp đất đến vị trí mắt ghép.

b) Tủ gốc giữ ẩm:

Đa số rễ Chanh mọc cạn, nhiệt độ của đất cao trong mùa hè ảnh hưởng đến bộ rễ cây có múi, cần phải tủ gốc giữ ẩm bằng rơm rạ khô và cách gốc khoảng 20cm. Biện pháp này cũng tránh được cỏ dại phát triển, đồng thời khi rơm rạ bị phân hủy sẽ cung cấp cho đất một lượng mùn đáng kể. Có thể trồng xen hoa màu (Bắp, đậu, khoai…) khi cây còn tơ.

c)  Mực nước trong mương:


Chanh rất mẫn cảm với nước, nếu mực nước trong mương quá cao có thể gây úng và thối rễ cây. Vì vậy, cần để mực nước trong vườn cách mặt liếp 40-60cm. Trong mùa nắng nên để nước vô ra tự nhiên để rửa phèn, vào mùa mưa mực nước trong vườn thấp nhất và cách mặt liếp 70-90cm.

d) Vét sình:
Là đưa lớp bùn non dưới mương lên mặt liếp dày khoảng 2cm.

- Ưu điểm: Cung cấp thêm dinh dưỡng cho cây; nâng cao dần tầng canh tác; vét sình có thể kết hợp với việc xiết nước xử lý ra hoa.

- Nhược điểm: Xác bả thực vật chưa kịp phân hủy hoàn toàn sẽ bị đưa lên liếp; thông qua vét sình vô tình đưa tầng phèn tiềm tàng lên liếp gây ngộ độc; để khắc phục những nhược điểm này, chúng ta có thể vét sình hai năm /lần hoặc sình được đưa lên liếp và tập trung một chỗ cho khô hoàn toàn mới bón cho cây.

e) Neo trái:

Khi đến mùa thu hoạch, nhưng giá cả thấp thì có thể neo trái trên cây bằng cách dùng các loại phân bón lá trong thành phần có các kích thích tố thuộc nhóm Auxin, gibberellin…phun lên cây. Biện pháp này có thể neo trái được 15-30 ngày. Song neo trái quá mức có ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng và tuổi thọ của cây.

f) Xử lý ra hoa:

Cây Chanh thường phân hóa mầm hoa trong điều kiện khô hạn, vì vậy, khi cây thiếu nước trong một thời gian (nhất là mùa nắng) rồi tưới thì cây có khuynh hướng ra hoa. Do đó, có thể tạo sự khô hạn cho cây Chanh ra hoa đồng loạt bằng biện pháp bà con hay gọi là “ xiết nước”.

Xiết nước ra hoa có ưu điểm:  Cây ra hoa đồng loạt; tổng thu nhập kinh tế một lần cao, thuận lợi trong việc chăm sóc, bón phân, thu hoạch.

Nhưng có các nhược điểm là: Bộ rễ có khuynh hướng ăn sâu trong thời gian không tưới nứơc, cây mau già cỗi.

Quy trình xử lý ra hoa:


* Tạo sự khô hạn để xử lý ra hoa: Chanh có thể ra hoa quanh năm, nhưng tập trung nhiều vào mùa xuân, tức trổ hoa tháng 2,3,4,5 dương lịch (nông dân còn gọi là mùa thuận). Muốn có quả mùa nghịch thì phải tiến hành chăm sóc bón phân để cây trổ hoa tháng 9,10 dl và thu hoạch tháng 12,1 dương lịch.

Tóm tắt quy trình như sau:

- Đầu tháng 7 dl bón phân: 0,5 – 1kg (urê + DAP + kali)/gốc (tuỳ theo tuổi và tình trạng sinh tưởng) theo tỷ lệ: 1 urê + 2 DAP + 2 kali, sau khi tưới nước khoảng 2 ngày cho phân tan, thì tiến hành xiết nước kéo dài khoảng 15-20 ngày.

- Đến cuối tháng 7 dl, tiến hành tưới nước trở lại, hai ngày đầu tưới 2-3 lần/ngày sau đó giảm dần.

- Những ngày đầu tháng 8dl cây sẽ trổ hoa.

- Khi trái lớn, đường kính khoảng 0,5-1cm thì bón phân và liều lượng cho mỗi gốc 0,2-0,5 kg (urê + DAP + kali) theo tỷ lệ 1:1:1.

- Sau đó mỗi tháng bón 2 lần vào ngày 15 và 30, bón liên tục 2 tháng như vậy.

* Sử dụng hóa chất để xử lý ra hoa:

- Sử dụng urê phun lên lá: ban đầu cũng chăm sóc như cách một, tuy nhiên có sử dụng 1kg ure pha trong bình 8 lít nước xịt thẳng lên lá, sau vài ngày lá sẽ rụng, khoảng 30 -50% tổng số lá trên cây, sau đó cũng ngưng tưới như cách trên.

- Khoảng cuối tháng 7 dl, xịt các loại phân bón kích thích qua lá (liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì). Khi vừa đậu quả cũng có thể xịt các loại phân bón qua lá để bồi dưỡng thêm dưỡng chất cho quả phát triển tốt.
Ngoài ra còn có các kỹ thuật khác để kích thích cây chanh ra hoa như:

- Dùng bừa cào xúp nhẹ trên lớp đất mặt để kích thích bộ rễ, làm cây mất cân đối dinh dưỡng đột ngột đưa đến hiện tượng cây Chanh rụng lá và sau đó sẽ ra hoa.

- Hoặc dùng cây chống nhánh, tàn cây Chanh lên, sau đó hạ xuống gây ức chế sinh trưởng của cây, làm cây Chanh có thể rụng lá, sau đó tưới nước, cây có thể ra hoa. Tuy nhiên, các biện pháp này có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và tuổi thọ của cây.

- Để biện pháp xử lý ra hoa không bị ảnh hưởng của thời tiết (vì tháng 7dl ở trong mùa mưa), có thể lợi dụng hạn Bà Chằn (tháng7 âl) để xiết nước hoặc dùng vải nylon phủ chung quanh gốc để hạn chế nước mưa.
Áp dụng phương pháp này thì bắt đầu thu hoạch quả từ tháng 1- 3 năm sau.

g) Phân bón:


Cây Chanh cần được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng như những loại cây trồng khác. Tuy nhiên tùy theo đất, giống, giai đoạn sinh trưởng mà tính toán lượng phân cung cấp hàng năm cho cây thích hợp.
- Khi cây còn tơ năm 1, có thể dùng Phân Hữu Cơ Sinh Học HUMIX (Chuyên Cho Cây Có Múi) bón hai lần/năm, mỗi lần từ 1,5-2kg/cây.

-  Đối với cây Chanh ở giai đoạn kinh doanh cần chú ý bón phân vào các thời kỳ sau:

Trên cây Chanh ở vào thời kỳ kinh doanh (đã cho trái ổn định) có thể sử dụng 2-3kg phân HUMIX cho mỗi cây một lần, bón từ 3-4 lần vào các thời điểm: Trước khi trổ hoa, sau khi đậu trái và thời kỳ nuôi trái phát triển, và lần bón dưỡng lại cây sau khi thu hoạch, cắt tỉa cành...

Số lần bón có thể thay đổi từ 4-6 lần/năm, chủ yếu tập trung vào giai đoạn kích thích ra hoa và nuôi trái của cây. Chú ý phòng ngừa sâu bệnh gây hại trái ở giai đoạn này.

- Việc sử dụng phân hữu cơ cần chú ý là phân phải được ủ đúng cách nhằm hạn chế tối mầm bệnh trong phân. Vì vậy, nên sử dụng các loại phân bón hữu cơ vi sinh, sinh học để bón cho Chanh như bón thúc bằng Phân Hữu Cơ Sinh Học HUMIX Chuyên dùng cho Cây Có Múi vừa nói ở trên, bón lót trước khi trồng hoặc bón xả sau thu hoạch bằng Phân Vi Sinh HUMIX thay cho các loại phân khác (quy trình xử lý các nguyên liệu hữu cơ bằng vi sinh vật an toàn cho cây trồng và đảm bảo hiệu quả về mặt dưỡng chất).

* Phương pháp bón:


-  Vùng Đồng Bằng sông Cửu Long: Cuốc rãnh xung quanh gốc theo hình chiếu của tán cây, rãnh sâu 10-15cm, rộng 10-20cm cho phânvào, lấp đất và tưới nước. Khi cây giao tán có thể dùng cuốc súp nhẹ lớp đất chung quanh tán cây, bón phân và lấp đất lại, tưới nước.

- Miền Đông, Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên: Dựa theo hình chiếu tán cây đào những hố xung quanh gốc, sâu 20-30 cm, rộng 20-30cm, cho phân vào lấp đất lại và tưới nước hoặc áp dụng bón rãnh như vùng ĐBSCL.
- Có thể sử dụng phân tôm, phân cá ủ hoặc phân dơi để tưới hoặc bón cho Cây chanh. Phân bón lá nên phun 4-5 lần/vụ quả ở giai đoạn sau khi quả đậu và giai đoạn quả bắt đầu phát triển nhanh, mỗi lần cách nhau 15 ngày.

* Tỉa cành và tạo tán:

Trong đó, công tác tạo tán là cần thiết nhằm tạo cho cây có bộ khung cơ bản, vững chắc, từ đó phát triển các cành nhánh thứ cấp. Các bước như sau:

- Từ vị trí mắt ghép (trên gốc ghép) trở lên khoảng 50-60cm thì bấm bỏ phần đọt, mục đích để các mầm ngủ phát triển, sau đó chỉ chọn 3-5 cành phát triển theo các hướng đồng đều. Từ cành này sẽ hình thành các cành cấp 2, cấp 3…cây sẽ có bộ tán tròn, đều và cân đối, khi vào thời kỳ kinh doanh sẽ cho năng suất cao, thuận lợi trong chăm sóc, phòng ngừa sâu bệnh cũng như thu hoạch.

- Tỉa cành: Hàng năm, sau khi thu hoạch cần phải loại bỏ những đoạn cành đã mang quả (thường rất ngắn, khoảng 10-15cm), cành bị sâu bệnh, cành ốm yếu, cành nằm bên trong tán không có khả năng mang quả, các cành đan chéo nhau, đồng thời cũng cần loại bỏ những cành vượt trong thời cây đang mang quả nhằm hạn chế việc cạnh tranh dinh dưỡng với quả.

Thu hoạch Chanh


Cây Chanh từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 3-4 tháng, tùy theo giống, tuổi cây, tình trạng sinh trưởng…,nên thu hoạch vào lúc trời mát, không nên thu quả sau cơn mưa hoặc có sương mù nhiều vì quả dễ bị ẩm thối khi tồn trữ.

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

Trồng Chanh Ra Quả Trái Vụ

Chanh chính vụ các tỉnh phía Bắc thu hoạch vào tháng 8, tháng 9 giá bán thấp. Nếu có chanh trái vụ thu vào tháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sao sẽ bán rất được giá.

Chọn giống chanh tốt, thân ít gai, gai ngắn, quả to vừa phải (cỡ quả 15 – 20 quả/kg), vỏ mỏng, ít hạt, nhiều nước, vị chua mát, thơm dịu, quả chín vàng lõi trắng hay chín đỏ, lõi hồng (chanh đào). Chọn cây chanh có độ tuổi trên 5 năm, đã ra được trên 2 vụ quả ổn định, nămg suất cao, sung sức, khoẻ mạnh, không bị sâu bệnh. Vườn chanh chủ động nước, chủ động phân bón theo yêu cầu kỹ thuật.

Cho chanh ra quả hai vụ/năm: Giai đoạn chanh đang nở hoa rộ vụ chính cuốc sâu 30 – 40cm cách gốc cây 50 – 60cm, không tưới nước, không tưới phân, hạn chế nguồn cung cấp dinh dưỡng làm cho hoa rụng 70 – 80%, giảm 50% sản lượng quả so với để tự nhiên. Sau đó lấp đất lại, tưới nước, tưới phân, giữ ẩm bình thường.

Khi quả lớn bằng cỡ hòn bi (đường kính quả 1cm), có thể dùng kéo cắt 50 – 60% số lá, quả và lộc non hoặc dùng thuốc dấm hoa quả Trung Quốc (dung dịch Ethrel 45%), pha 1 lọ (5ml)/lít nước, phun ướt đều tán cây lúc hoa đang nở rộ hoặc phun dung dịch phân kali clorua 10%, sau 7 – 10 ngày cây chanh sẽ trút 40 – 50% lá non, lộc non, quả nhỏ.

Cuốc rãnh sâu 10cm quanh tán, bón mỗi cây 2 – 5kg kali clorua (tùy theo cây lớn hay nhỏ), đồng thời phun phân bón lá Multy-K (13:0:46) nồng độ 4% lên tán lá để đất khô trong 30 ngày tiếp theo. Sau đó tưới ẩm và chăm sóc bình thường, khoảng 30 ngày sau cây chanh tiếp tục này lộc, ra hoa, ra quả vào tháng6 tháng 7, cho thu hoạch quả vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau.

Cho chanh ra quả 3 vụ/năm (chanh tứ thời): Khi chanh ra quả vụ 2 (tháng 6, tháng 7)tiếp tục thực hiện biện pháp kỹ thuật như phần giới thiệu cho chanh ra quả 2 vụ/năm, chanh sẽ ra hoa, quả vào tháng 8, tháng 9 và cho thu hoạch vào tháng 5 đến tháng 6 năm sau.

Những Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Chanh Dây

Cây chanh dây còn được gọi là cây lạc tiên, cây mác mác... sinh trưởng khoẻ, tỉ lệ phân cành nhiều, nhanh, nếu cắt tỉa thường xuyên, đúng kỹ thuật thì cây ra nhiều hoa

Mô tả về cây giống
Dây đa niên, nửa gỗ, dài đến 15 m. Thân tròn cạnh, xanh, mang tua dài và lá ở mỗi đốt. Lá mọc xen, mang lá kèm ở mỗi đốt. Cuống lá dài 2-5 cm, mang phiến lá có 3 thùy dài, kích thước lá 10-15 x 12-25 cm,   bìa phiến có răng cưa nhỏ, tròn đầu.
Hoa đơn độc, mọc từ nách lá, đẹp, thơm, đường kính 7,5-10 cm với cuống dài 2-5 cm. 5 cánh hoa + 5 đài hoa trắng mọc xen nhau, bên trên là 2 lớp tràng (corona) với các sợi trắng (dài 2-3 cm), ửng tím ở gốc rất đẹp. Mỗi hoa mang 5 nhị đực với 5 chỉ dính nhau thành ống ở đáy và tách rời ở phần mang bao phấn.
Trái hình cầu đến bầu dục, kích thước 4-12 x 4-7 cm, màu tím sậm , tự rụng khi chín. Ngoại quả bì (vỏ trái) mõng, cứng; trung quả bì màu xanh; nội quả bì màu trắng. Trái mang rất nhiều hột có cơm mềm, phần cơm (hột) chứa nhiều acid được thu hoạch.
Cây chanh dây (cây lạc tiên, cây mác mác...) sinh trưởng khoẻ, tỉ lệ phân cành nhiều, nhanh, nếu cắt tỉa thường xuyên, đúng kỹ thuật thì cây ra nhiều hoa.
Yêu cầu sinh thái:  Chanh Dây  đòi hỏi khí hậu ấm và ẩm, lượng mưa trung bình từ 1.500 mm trở lên, phân bố đều, đặc biệt trong thời kỳ ra hoa ít bị mưa bão. Nhiệt độ thích hợp từ 16 – 30 độ C, không có sương muối. Đất có thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước tốt, tầng canh tác sâu >50 cm, độ mùn trên 1% và pH 5,5-6 rất thích hợp cho các loại đất: Đất đỏ 3 zan, đất feralit, cát cổ.
Chế độ chăm sóc:
Chanh dây ra hoa ở các mắt đầu cành thứ cấp, nên ngoài chế độ chăm sóc thường xuyên như làm cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh, cần bón thêm phân, nhất là đạm, kali cho cây sau mỗi đợt thu hái và tỉa cắt, nhằm tạo điều kiện cho cây nhanh chóng hồi phục và bù đắp dinh dưỡng đảm bảo cho một đợt ra cành và hoa mới.
Có thể  trồng với khoảng cách trồng 3 x 3m (mật độ 1.000-1.100 cây/ha). Hàng năm bón thúc cho cây 3-4 lần vào các giai đoạn: Khi cây lên giàn, chuẩn bị ra hoa và thời kỳ nuôi quả lớn. Giàn làm theo kiểu giàn mướp hoặc kiểu chữ T cao 1,8-2m với các trụ gỗ hoặc bê tông, bên trên căng lưới thép hoặc dây cước lọai 2mm với khoảng cách ô vuông 40 x 40cm cho cây leo. Khi cây đã lên giàn cần tạo hình, tỉa cành thường xuyên, đặc biệt là tỉa bớt lá vào thời kỳ mùa mưa vừa để hạn chế nấm bệnh phát triển gây hại đồng thời nhằm ức chế sinh trưởng, giúp cho cây ra nhiều nụ, đậu nhiều trái.
Cách cắt tỉa:
Việc cắt tỉa được tiến hành thường xuyên. Cắt hết tất cả các cành cấp 2, cấp 3 trên mặt giàn chỉ để lại thân và các cành từ mặt đất tới giàn. Đến tháng Giêng cây sẽ ra chồi mới, phân cành cấp 2, 3 và các cành quả. Tháng 4-5 sẽ bắt đầu ra hoa cho một vụ quả mới. Nếu chanh dây không được đốn tỉa hoàn toàn vào cuối năm, sang năm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển, đặc biệt làm hạn chế đến năng suất.
Cách làm giàn:
Kỹ thuật làm giàn có ảnh hưởng lớn đến việc ra hoa và đậu trái của cây chanh dây TN No.1. Thực tế nhiều nơi do chưa có kinh nghiệm làm giàn hoặc chỉ kết hợp làm giàn che bóng mát nên chanh dây ra ít hoa hoặc không ra hoa do các cành quả đan xen nhau cạnh tranh về ánh sáng. Vì cây chanh dây chỉ ra hoa ở các mặt đầu cành thứ cấp nằm ngoài mặt tán. Muốn có nhiều cành thứ cấp cần làm giàn theo kiểu chữ T để các cành quả này rũ xuống hai bên giàn. 
Chăm sóc:
Đối với các giàn chanh dây đang tươi tốt mà không ra hoa thì cắt tỉa cho cây.
Để chanh dây đậu quả nhiều: Chanh dây ra hoa liên tục trong khoảng 5-6 tháng (từ tháng 4-5 đến tháng 10-11, tuỳ từng vùng). Những đợt hoa đầu và cuối có tỉ lệ đậu trái thấp. Nếu có điều kiện nên nuôi ong mật hoặc thụ phấn bổ sung như thụ phấn bổ sung cho bầu bí.
Làm giàn che bóng mát nên chanh dây ra ít hoa hoặc không ra hoa do các cành quả đan chen nhau cạnh tranh về ánh sáng. Vì cây chanh dây chỉ ra hoa ở các mặt đầu cành thứ cấp nằm ngoài mặt tán. Muốn có nhiều cành thứ cấp cần làm giàn theo kiểu chữ T để các cành quả này rũ xuống hai bên giàn.

Kỹ Thuật Trồng Chanh

Cây Chanh được trồng phổ biến khắp nơi. Thành phần dinh dưỡng trong Chanh gồm có nhiều nguyên tố cần thiết cho hoạt động của con người, đặc biệt là hàm lượng vitamin C hiện diện rất cao trong Chanh. Chính vì vậy, hằng năm nhu cầu tiêu thụ Chanh rất mạnh, nhất là trong mùa nắng.

1. Thời vụ trồng: 

- Miền Bắc trồng vào 2 vụ chính vụ xuân và vụ thu.

- Miền Trung và miền Nam có thể trồng vào mùa xuân, cuối mùa khô, đầu mùa mưa.

2. Loại đất: Chanh có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng tốt nhất là đất thịt tơi xốp và nhiều mùn. Độ pH thích hợp từ 5 – 8, chanh không chịu úng nước và mặn.

3. Chuẩn bị đất trồng:

Hố được đào trước trồng 1-2 tháng, vùng đất thấp hố đào sâu 30-40cm, đất đồi đào sâu 60-80cm.

Bón phân vào hố: Phân chuồng hoai mục: 20-30 kg; phân lân 0,5 kg; kali 0,1kg; vôi bột 1 – 1,5 kg.Trộn đều lượng phân với đất, dùng cuốc phá thành hố sau đó rải vôi lên mặt hố và lấp đất mỏng. Tiếp đó bơm nước vào đầy hố, khoảng 10-15 ngày sau là trồng được.

Khoảng cách trồng: Khi trồng thuầnlà 2,5 x2,5m, khi trồng xen thường là 3,5m x 3-4m. Như vậy khi trồng thuần thì mật độ là 1.600 cây/ha. Trồng xen mật độ là 900 cây/ha.

4. Cách trồng:
Trồng bằng nhánh chiết, khi đặt cây tùy nhánh chiết có nhiều cành bên hay ít mà đặt nhánh thẳng hay hơi nghiêng. Đặt nghiêng đối với cây chiết ít nhánh, giúp các đọt bên mọc lên để tạo tán. Sau khi trồng xong phải cắm cọc để buột thân cây cho gió khỏi lay làm đổ cây. Nếu là cây ghép xoay mắt ghép về hướng gió chính, lấp đất ngang cổ rễ hoặc cao hơn 1– 2 cm , tránh làm vỡ bầu hay lấp đất quá sâu.

Năm đầu nên trồng xen đậu đỏ, lạc hay các loại rau khác.

5/ Bón phân thúc: Thay đổi tùy theo tính chất đất, năng suất…

* Bón 20-30 kg phân chuồng + 1- 2 kg tro/hốc/ năm (bón 1-2 lần/năm).

Riêng phân hóa học được sử dụng bình quân như sau (cho mỗi cây):

* Năm thứ nhất: 0,5-1,0kg sulfat đạm (nếu dùng urê bón 0,25-0,5kg) + 0,3-0,5kg NPK (16-16-8) .

* Năm thứ hai: 1,0-2,0kg sulfat đạm (nếu dùng urê bón 0,5-1,0kg) + 0,3-0,5kg NPK (16-16-8).

* Năm thứ ba trở đi: 2,0-2,4kg sulfat đạm (nếu dùng urê bón 1,0-1,2kg) + 0,5kg NPK (16-16-8) + 1 kg vôi. Do thu quả rải rác nên chia phân ra bón từ 4 – 5 lần/ năm.

6/ Tạo quả trái vụ: Có thể cho ra quả trái vụ bằng cách xiết nước. Ngưng tưới nước, tưới phân, hạn chế nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây khoảng 3 - 4 tuần, sau đó bón phân và tưới nước trở lại, cây sẽ cảm ứng và cho hoa quả sớm hơn thường lệ.

7/ Chống hiện tượng cách niên: Cần bón phân đầy đủ để tránh cây bị kiệt sức, vào những năm được mùa cần tăng thêm phân. Cần chủ động tỉa bớt quả nhất là những cành phải nuôi nhiều quả; cắt bỏ những cành bên trong tán; tăng lượng phân ở thời kỳ sau thu hoạch.

8/ Sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ:
 Nhìn chung, các loại sâu bệnh trên cam, quýt, bưởi và chanh giống nhau. Riêng chanh cần chú ý hơn các đối tượng sau:

* Bệnh ghẻ: Do nấm Elsinoe fawcettii gây ra.

Thường xuyên vệ sinh vườn cây, cắt tỉa và thu gom các bộ phận bị bệnh đem tiêu hủy. Phun ngừa khi cây ra đọt non hoặc khi  hoa rụng cánh 2/3 bằng thuốc gốc đồng như Copper Zinc 85 WP, Coc 85 WP với liều lượng 20-30g/8 lít.  Phun thuốc Benlate 50 WP, Derosal 60 WP, Polyram 80 DF, Kumulus 80 WP, Top plus 70 WP với nồng độ 0,2 - 0,5 %, phun 7-10 ngày/lần.

* Bệnh thán thư: Do nấm Colletotrichum gloeosporioides  gây ra. Nấm làm hại lá, hoa và quả, làm rụng quả non. Cần cắt tỉa và tiêu hủy các lá, cành, trái  bị bệnh, vệ sinh vườn, tỉa tán thoáng, tránh để vườn ẩm thấp. Không nên tưới nước lên tán cây khi cây bị bệnh. Phun thuốc khi thấy bệnh xuất hiện bằng các loại thuốc sau: Mancozeb 80 WP, Copper B 75 WP, Benomyl 50 WP, Antracol 70 WP, Bavistin 50 FL, Daconil 75 WP, Ridomil MZ 72 WP... liều lượng 15-30 g(cc)/8 lít, phun 7-10 ngày/lần, nên thay đổi thuốc sau vài lần phun để tránh sự quen thuốc của mầm bệnh.

* Bệnh thối gốc chảy nhựa: Do nấm Phytophthora spp. gây ra. Không nên tủ cỏ sát gốc vào mùa mưa. Dùng Copper Zinc 85 WP, Mancozeb 80 WP, Dithane M45 80 WP, Champion 77 WP pha đặc phết vào vết bệnh 7 ngày/lần. Hoặc để ngừa bệnh phết 2 lần/năm vào đầu và cuối mùa mưa. Phun thuốc khi bệnh gây hại cho cây Curzate M8 80 WP, Manzate 80 WP, Ridomil 72 WP, Metalaxyl 25 WP, Aliette 80 WP với liều lượng 20-30g/8 lít, phun 7-10 ngày/lần.

* Nhóm rệp sáp (rệp sáp, rệp bông, rệp dính): nên sử dụng phối hợp thuốc hóa học (loại thuốc hóa học gốc lân hữu cơ tỏ ra có hiệu quả đối với rệp sáp khi không sử dụng liên tục một loại nhất định) với dầu khoáng (dầu khoáng DC-Tronc Plus, SK 99- Enpray ; có thể sử dụng ở liều lượng 0,5%) kết hợp diệt trừ kiến lửa

Kỹ Thuật Trồng Chanh Không Hạt

Cây chanh tứ quý - chanh không hạt sinh trưởng khoẻ, ra quả ngay trong năm đầu tiên. Quả ra quanh năm, to, màu vàng chanh, nhiều nước và nhất là không có hạt

Cách trồng
- Thời vụ: Vụ xuân trồng vào tháng 2-3, vụ thu trồng từ tháng 8-10.
- Mật độ: Hố đào rộng 60-80cm, độ sâu tuỳ theo chất đất. Nếu đất đồi khoảng 60-80cm, đất bằng khoảng 30-40cm. Bón lót 20-30kg phân chuồng hoai mục. Khoảng cách hố trồng thích hợp là 3x3m hoặc 3x4m.
- Bón thúc: Dùng nước giải pha loãng theo tỉ lệ 1/5-1/3 để tưới cho cây hoặc bón bổ sung 0,1-0,5kg ure/cây/năm.
- Cắt tỉa cành: Cắt bỏ những cành rậm rạp sát gốc, cành trong tán, hoặc cành khô già, cành tăm, cành vượt, để tạo độ thông thoáng và đủ ánh sáng cho cây.
Phòng trừ sâu bệnh
- Sâu chích hút (như bọ xít, rầy, rệp): Dùng tay bắt giết hoặc phun Bi58 0,05-0,1%, Basa 0,2%.
- Sâu bùa vẽ: Phun Padan 95WP nồng độ 0,05-0,1%, hoặc dùng hỗn hợp 20ml Decis 25EC+1 lít Bi58 rồi pha loãng với nước nồng độ 0,05-0,07% để phun.
- Nhện trắng gây rám quả: Phun lưu huỳnh bột 20-25kg/ha hoặc Zineb 0,3-0,5%.
- Nhện đỏ: Phun Polytrin 40EC nồìng độ 0,1%, Supracid 40EC 0,2%.
- Sâu đục thân, cành: Bắt giết sâu xén tóc, bẻ cành chớm héo.
- Bệnh đốm đen, bệnh loét, ghẻ: Phun Zineb 0,5%, oxy clorua đồng 0,3-0,5%, Maneb 0,3-0,5%.
- Bệnh phấn trắng: Phun Topsin M nồng độ 0,075-0,1%, lưu huỳnh bột (20-30kg) trộn với (7- 10kg) vôi bột để phun cho 1ha.
- Bệnh Greening: Khi ghép không lấy gốc ghép và mắt ghép có biểu hiện bệnh. Chú ý phun thuốc diệt côn trùng truyền bệnh như rệp nâu, rầy chổng cánh... bằng Bi58 0,1%.
Cần quét vôi mỗi năm 2 lần để phòng sâu đục thân và phun thuốc sâu ngay sau khi lộc non vừa mới nhú để trừ sâu bùa vẽ.

Kỹ Thuật Bón Phân NPK Văn Điển Cho Cây Cam

Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng (N, P, K) và các chất trung vi lượng canxi, manhê, các chất vi lượng như kẽm, bo, môlípđen thì cây cam phát triển khỏe, cho năng suất cao...

Cam hà giangTrên cơ sở những kết quả nghiên cứu nông học của các viện, Trường Đại học Nông nghiệp, các trung tâm khuyến nông trong nước đã xác định trung bình 1 tấn quả cam tươi chín, cây cam cần: 1.773g N; 506g P2O5; 3.194g K2O; 367g MgO; 1.009g CaO; 142g S, 3g Fe; 0,8g Mn; 1,4g Zn; 0,6g Cu; 2,8g B.

Do đặc điểm hình thành đất trồng cam ở miền núi phía Bắc là do đá phiến thạch phong hóa nên bản thân đất chua và nghèo dinh dưỡng đặc biệt các nguyên tố trung vi lượng, cộng với quá trình đốt rẫy nên đất ngày càng bị rửa trôi xói mòn, độ pH thấp từ 3- 4,5 nghèo các chất dình dưỡng trung vi lượng.

Trong khi đó cây cam lại cần độ pH từ 5,0 - 6,5 và phải có hàm lượng canxi, manhê và các chất vi lượng từ trung bình trở lên. Các thực nghiệm bón phân cho cây cam đều khẳng định: Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng (N, P, K) và các chất trung vi lượng canxi, manhê, các chất vi lượng như kẽm, bo, môlípđen thì cây cam phát triển khỏe, cho năng suất cao...

Nắm bắt được nhu cầu thiết yếu này, Công ty Phân lân Văn Điển đã cho ra đời sản phẩm phân bón đa yếu tố NPK chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng (N,P,K) các chất trung lượng như canxi, manhê, các chất vi lượng như kẽm, bo, môlípđen... chuyên dùng cho cây cam đặc biệt là các chất dinh dưỡng trong phân đa yếu tố NPK Văn Điển không bị rửa trôi, có pH từ 8- 8,5 nên khi bón sẽ cải tạo nâng cao pH đất, là nguồn dự trữ dinh dưỡng cung cấp từ từ đầy đủ, cân đối cho cây cam.

Cách sử dụng phân bón đa yếu tố (ĐYT) NPK Văn Điển cho cây cam:

Chủng loại phân bón:

- NPK 5.10.3 dạng viên (N=5%; P2O5=10%; K2O=3%; S=2%; MgO=9%; CaO=15%; SiO2=14%;

- NPK 16.6.16 (N=16%; P2O5=6%; K2O=16%; S=2%; MgO=5%; CaO=8%; SiO2=7%) ngoài ra có các chất vi lượng như B, Mn, Zn, Cu, Co...

- Lượng bón:
 Lượng bón nhiều hay ít phụ thuộc vào đất, tuổi cây, thời điểm bón, cũng như tiềm năng năng suất giống, tập quán thâm canh... Cụ thể:

- Cách bón:

Bón tháng 11- 12 (sau thu quả): 100% phân hữu cơ hoai mục + 100% phân NPK 5.10.3. Đào rãnh xung quanh tán rộng 20 - 25cm, sâu từ 5 - 10cm và rải phân sau đó lấp đất kín phân.

+ Bón thúc lần 1(đón hoa): Tháng 1 - 2 bón 40% lượng NPK 16.6.16; Bón thúc lần 2 (thúc quả): Tháng 4 - 5 bón 30% lượng NPK 16.6.16; Bón thúc lần 3 (thúc quả): Tháng 7 - 8 bón 30% lượng NPK 16.6.16.

Với cam V2 (thu vào Tết) bón thêm đợt tháng 9 - 10 mỗi gốc bón 1kg NPK 16.6.16 (chống nứt quả). Rắc phân, xới đất nhẹ quanh tán lấp phân. Tưới giữ ẩm thường xuyên hoặc tranh thủ trời mưa bón phân

Bón phân Văn Điển cây phát triển khoẻ, lá dày, ít sâu bệnh, tăng số hoa và đậu quả, quả bóng, to, nhẵn, màu sắc hấp dẫn, cam ngọt, nhiều nước, bảo quản lâu.

Chúc bà con nông dân có những mùa vàng bội thu!

Bón Phân Cho Cam Sau Khi Thu Hoạch

Trước khi bón, đào đất chung quanh gốc tạo thành đường vành khuyên rộng 20-30cm, sâu 30-40cm theo đường chiếu vành tán cây, rải đều phân xuống và lấp đất lại.

Bón phân phục hồi:

Cam đường canhĐối với cây từ 3- 4 năm tuổi, bón 1 - 2kg AT1/gốc, cây 5- 6 năm tuổi bón 2- 3kg AT1/gốc, phân hữu cơ bón 20-50kg. Bón ngay sau khi thu hoạch, càng sớm càng tốt. Trước khi bón, đào đất chung quanh gốc tạo thành đường vành khuyên rộng 20-30cm, sâu 30-40cm theo đường chiếu vành tán cây, rải đều phân xuống và lấp đất lại.

- Thời kỳ kiến thiết (1-4 năm): Bón tập trung 1 đợt vào tháng 12 hoặc tháng 1 với lượng phân 20 - 25kg phân hữu cơ + 0,2kg sun phát đạm + 0,5kg super lân + 0,2kg kali sun phát.

- Vào thời kỳ thu quả: Bón 50kg phân chuồng + 1kg đạm + 1,2kg super lân + 0,5kg kali, chia ba lần bón:

+ Sau thu hoạch quả tháng 12 sang tháng 1: 50kg phân hữu cơ + 0,25kg super lân + 0,1kg kali.

+ Bón đón lộc xuân tháng 2 - 3: 0,6kg đạm + 0,6kg super lân + 0,25kg kali.

+ Bón thúc cành thu và nuôi quả tháng 6-7: 0,4kg đạm + 0,35kg super lân + 0,15kg kali.

- Cách bón:

+ Lần 1 (sau khi thu hoạch): bón theo vành mép tán, đào rãnh sâu 20cm, rộng 30cm. Các loại phân trộn đều cho vào rãnh lấp kín đất, tủ rơm giữ ẩm.

+ Bón thúc vào lần 2 và 3: trộn đều các loại phân hóa học rải đều trong vòng tán cây, với đảo sâu 4-5cm vùi đất lấp kín, tủ rơm rác giữ ẩm.

Bón phân xong tưới nước đều đặn, vừa phải cho phân tan để cây hấp thụ từ từ.

- Bón phân đón ra hoa, tạo mầm hoa: Trước thời điểm cho cây ra hoa 5-6 tuần, bón phân đón ra hoa (khoảng 200g DAP + 50KCL hoặc 400g AT 2/gốc 4-5 tuổi) và phun chế phẩm giúp cây tạo mầm hoa (phun F.Bo: 15g/8 lít, phun hai lần, cách nhau 4-5 ngày) trước khi ngưng tưới một tuần.

Kinh Nghiệm Trừ Rệp Sáp Hại Cam

Do rệp sáp rất thích trú ngụ ở dưới rễ của những cây cỏ quanh gốc, vì vậy dùng thuốc cỏ cháy nhanh Gramoxone 20 SL để xử lý toàn bộ cỏ trong vườn nhằm tiêu diệt nơi trú ngụ của rệp sáp mà không làm cho đất bị xói mòn khi có mưa.

Kinh nghiệm trừ rệp sáp hại camBiện pháp quản lý hiệu quả rệp sáp hại rễ là dẫn nước vào thường xuyên (nếu có thể), sử dụng thuốc trừ cỏ Gramoxone 20 SL để trừ cỏ quanh gốc cam (nơi trú ngụ của rệp), rắc thuốc Diazan 10H xung quanh gốc để trừ kiến tha rệp đi các nơi, phun thuốc ANBOOM 40 EC trừ rệp trên cây kết hợp phun đẫm quanh gốc, sục mạnh vòi phun xuống đất để thuốc ngấm đều trừ rệp hại sâu trong rễ cây.

Xử lý triệt để nơi trú ngụ của rệp sáp để tiêu diệt sạch mầm sâu bệnh:
Do rệp sáp rất thích trú ngụ ở dưới rễ của những cây cỏ “cứt lợn” quanh gốc, vì vậy dùng thuốc cỏ cháy nhanh Gramoxone 20 SL để xử lý toàn bộ cỏ trong vườn nhằm tiêu diệt nơi trú ngụ của rệp sáp mà không làm cho đất bị xói mòn khi có mưa.

Sau đó dùng cuốc xới một lớp đất sâu khoảng 10 – 20 cm vòng quanh cây theo hình chiếu tán lá, mỗi cây dùng khoảng 20 – 30 gr thuốc Diazan 10H có tính xông hơi mạnh rải vào đó rồi lấp đất lại để tiêu diệt kiến tha rệp di chuyển và các côn trùng gây hại trong đất.

Cuối cùng,  dùng thuốc đặc trị rệp sáp ANBOOM 40 EC kết hợp với nước rửa bát Mỹ Hảo (cứ 100 lít dung dịch thuốc pha thêm 15 ml nước rửa bát Mỹ Hảo), dùng cần xịt đã tháo mắt phun cắt vát một góc 45 độ rồi đập bẹt ống phun tạo thành các tia nhỏ nhưng rất mạnh.

Lắp cần xịt này vào hệ thống máy rửa xe máy có áp suất mạnh tưới đẫm đều dưới gốc cam, dùng đầu vòi sục mạnh thuốc 6 – 8 lỗ đều xung quanh ngay chỗ gốc cam sâu chừng 20 – 30 cm, mỗi cây dùng khoảng 3 – 5 lít nước thuốc.

Sau khi vườn cam được xử lý 3 ngày, bới rễ của các gốc cây cam bị rệp sáp gây hại để kiểm tra thì thấy toàn bộ rệp sáp hại rễ cam đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Tuy nhiên, cần thường xuyên theo dõi vườn nhà mình để phát hiện và trừ rệp kịp thời nếu như thấy rệp mới xuất hiện và mong muốn chia sẻ phương pháp phòng trừ rệp sáp này với các nhà vườn trồng cam trong cả nước.

Rệp sáp hại rễ cam cũng như một số cây trồng khác chủ yếu trên những chân đất không được xử lý và luân canh đủ thời gian, vườn không được tưới nước đầy đủ, đất khô và nứt; khi rễ cây bị rệp sáp gây hại thì có thể nhận biết như quanh gốc cây có kiến, đất hơi bị đùn lên, nấm hoại sinh mọc gần gốc cây nơi rễ bị hỏng, lá cây bị biến màu xanh vàng…

Cách Diệt Sâu Bore Hại Cam Quýt Đơn Giản

Các cây trong họ cam quýt như cam, chanh, quýt, bưởi, bòng... có rất nhiều loại sâu bệnh gây hại, trong đó có nhóm sâu đục cành, đục thân, đục gốc hay còn gọi là sâu Bore là nhóm nguy hiểm nhất

Sâu đục thân hại cây có múiMức độ lây lan của nhóm này rất nhanh, có sức tàn phá ghê gớm, có thể dẫn đến huỷ diệt cả vùng cây lớn nhưng rất khó phòng trị vì chúng nằm sâu bên trong cành, thân, gốc cây thuốc hóa học không thể thấm vào bên trong được vì vậy việc phun thuốc trừ sâu hóa học hoàn toàn không có hiệu quả.

Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu qui luật phát sinh, phát triển của từng loài, KS. Lê Đức Phát, cán bộ kỹ thuật đội Sao Đỏ, Nông trường Thống Nhất, Thanh Hóa đã có một số biện pháp diệt trừ nhóm sâu hại nguy hiểm này bằng các biện pháp thủ công đơn giản, rẻ tiền nhưng rất hiệu quả. Sáng kiến này được nhân rộng ra toàn đội Sao Đỏ và nhiều nơi tham quan học tập làm theo. Nhờ các biện pháp thủ công này mà nhiều vườn cam quýt đã được cứu thoát khỏi sự hủy diệt của sâu Bore. Theo anh Phát thì nhóm sâu Bore chủ yếu có 3 loại: sâu đục cành, sâu đục thân và sâu đục gốc.

- Sâu đục cành có tên khoa học là Chelidonium argentatum Dalm, là sâu non của con xén tóc màu xanh nên gọi là xén tóc xanh. Xén tóc xanh thường đẻ trứng vào tháng 5-6 trên các nách lá ngọn cành tăm. Sau 10-12 ngày sâu non nở và bắt đầu gặm vỏ cành để sống, đục phá từ cành nhỏ đến cành lớn và cả thân cây. Từ 8 đến 9 tháng sau, sâu non đục đến cành cấp 1 hoặc cành cấp 2, thậm chí có thể tới thân, tuỳ theo độ dài của cành. Thông thường tập trung là cành cấp 1, sâu non làm một buồng hoá nhộng bằng cách dùng mùn cưa và chất bài tiết vít đường đục lại rồi đục một lỗ ra ngoài, chừa lại vỏ cành để làm cửa vũ hoá sau này. Khoảng tháng 2, tháng 3, sâu non hoá nhộng, tới tháng 4, tháng 5 thì vũ hoá thành con xén tóc xanh bay ra. Vòng đời của sâu là một năm.Trên một thân cây có thể bị hàng chục con sâu đục cành và nếu 2-3 năm liền bị hại thì cây sẽ chết.

- Sâu đục thân có tên khoa học là Nadezhdiella cantori Hope, là sâu non của con xén tóc màu nâu nên gọi là xén tóc nâu. Xén tóc nâu thích nơi râm mát, ban ngày ẩn nấp, ban đêm thường tìm đến đẻ trứng vào những kẽ nứt, những chỗ gồ ghề ở thân cây cách mặt đất từ 0,3 đến 1 m. Trong các tháng 5-6-7, sau khi đẻ, 6-12 ngày trứng nở.

Sâu non nở ra chui vào vỏ và phá hoại phần gỗ từ 22 đến 24 tháng, tạo thành những đường đục ngoằn ngoèo không theo qui luật dọc theo thân cây. Sâu non nghỉ đông 2 lần vào khoảng tháng 12 và tháng 1. Sâu hoá nhộng vào khoảng tháng 2 và vũ hoá thành xén tóc nâu vào tháng 3 và tháng 4. Vòng đời của sâu đục thân kéo dài từ 2,5 đến 3 năm.

- Sâu đục gốc có tên khoa học là Anoplophora chinensis Forster, còn gọi là xén tóc sao hay xén tóc hoa vì trên toàn thân màu đen của con bọ trưởng thành cánh cứng này có điểm khoảng 30 chấm trắng. Con trưởng thành thường ăn bổ sung bằng các phần non của cây, đặc biệt là rễ non trước khi đẻ trứng vào tháng 5, tháng 6, vũ hoá vào tháng 5-6. Trước khi đẻ, xén tóc sao cắn vào gốc cây một vết hình chữ T ngược rồi đẻ trứng vào đó. Sau 6-12 ngày thì trứng nở, sâu non di chuyển xuống phía dưới gốc, phá hại phần gốc, rễ cây tiếp giáp với thân. Đầu tiên sâu hại vỏ, sau đó đục vào bên trong phần gỗ. Nhiều khi sâu đục cả những rễ to làm cho cây héo toàn bộ, rụng lá và chết. Sâu non phá hại trong 2-3 tháng thì nghỉ đông ở gốc cây. Đến tháng 3, tháng 4 năm sau thì hoá nhộng, tháng 5-6 vũ hoá. Vòng đời của xén tóc sao là một năm.

Biện pháp phòng trừ

- Với sâu trưởng thành: Dùng vợt hoặc bắt bằng tay đối với cả 3 loại xén tóc trong thời gian con trưởng thành vũ hoá và đẻ trứng từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm.

- Diệt sâu non bằng cách bẻ cành non bị héo (đối với sâu đục cành) vào các tháng 5, 6, 7. Những cành con bị sâu tiện một vòng tròn quanh vỏ sau vài ngày thường bị héo. Khi lá mới chớm héo, còn màu xanh nhưng mép lá hơi uốn cong, dùng sào dài có chạc khẽ vặn, cành sâu sẽ gãy dễ dàng, sâu sẽ rơi ra và chết. Nếu cành đã héo khô thì sâu non đã đục trở xuống phía dưới vòng tròn. Có thể cắt hoặc bẻ xuống dưới một đoạn cũng có thể loại bỏ được sâu non. Kinh nghiệm nhiều gia đình cho thấy biện pháp bẻ cành héo triệt để có thể hạn chế được sự gây hại của sâu trên 90%. Với các con sâu non đã đục vào trong cành lớn, thân cây hoặc gốc cây thì có thể dùng một sợi dây thép nhỏ và cứng như dây phanh xe đạp để làm thành cái móc nhọn như lưỡi câu, luồn vào trong để ngoáy và kéo sâu non qua các lỗ đùn phân và mạt cưa trên thân, cành và gốc cây.

- Quét thuốc: Sau khi thu hoạch quả, quét vôi hoặc Boóc-đô (pha tỉ lệ: 1 phần CuSO4 + 1 phần vôi tôi + 20 phần nước) vào gốc cây, thân cây từ 1m trở xuống để phòng các loại nấm bệnh và hạn chế việc đẻ trứng của các loại xén tóc.

Giống Cam Quýt Và Phương Pháp Nhân Giống

Cam quýt không thích ánh sàng trực tiếp và cường độ ánh sáng thích hợp là lúc sáng sớm hoặc xế chiều

Cam: Citrus Sinensis (L) Osbeck;
Quýt: Citrus reticulata.Blanco;
Yêu cầu sinh thái:
- Nhiệt độ: Cam quýt có thể song và phát triển ở 13°C-39ºC, thích hợp nhất từ 23-29ºC, ngừng sinh trưởng dưới 13ºC và chết -5ºC. Nhiệt độ ảnh hưởng đến phẩm chất và phát triển của trái. Ở ĐBSCL do có nhiệt độ cao và ẩm độ thấp nên trái thường chín sớm, vị ngọt, nhưng vỏ có màu sắc không đẹp.

- Ánh sáng: 
Cam quýt không thích ánh sàng trực tiếp và cường độ ánh sáng thích hợp là 10000-15000 lux (tương đương ánh sáng lúc 8 giờ sáng hoặc 4-5 giờ chiều  ở Việt Nam).

- Lượng nước: Cam quýt cần khoảng 1000-2000mm/năm và phân bố đều trong năm.

Đất đai: Đất trồng cam quýt phải có tầng canh tác dày 0,5-1m. Đất thịt pha, thông thoáng,thoát nước tốt, màu mỡ, độ pH từ 5-7 là thích hợp cho cam quýt.

Một số giống trồng phổ biến:

Cam mật: Dạng trái tròn, vỏ dày 3-4mm, màu xanh đến xanh vàng, thịt trái vàng cam, ngọt đậm, khá nhiều nước. Tuy nhiên nhiều hạt (13-20 hạt/trái), trọng lượng trung bình 20g/trái.

Cam sành: Dạng trái hơi tròn,vỏ trái dày, sần sùi, thịt trái màu cam, khá nhiều nước, ngon ngọt nhiều hạt (15 hạt/trái). Trọng lượng trái trung bình 200-250g/trái.

Quýt tiều: Dạng trái tròn,dẹp 2 đầu, khá dể bóc vỏ, thịt trái màu cam hoặc vàng cam, khá ráo nước, ngọt có pha vị chua, số hạt trên trái nhiều (12-15 hạt/trái), trọng lượng trái trung bình 140-170g/trái.

Quýt đường: Dạng trái tròn,vỏ mỏng, màu xanh đến xanh vàng, dễ bóc vỏ, thịt trái màu cam ngọt đậm, số hạt trên trái nhiều (7-11 hạt/trái). Trọng lượng trái trung bình 150-200g/trái.

Phương pháp nhân giống

Có 2 phương pháp thường áp dụng:

Chiết cành:

Chọn cây mẹ có năng suất cao, ổn định, không có triệu chứng bệnh greening hoặc phytophthora sp (quan sát bằng mắt). Chọn cành bánh tẻ (không già, không non), sinh trưởng tốt, vị trí ở ngoài trảng.

Ghép mắt:

+ Gieo gốc ghép (hạt) khoảng 10-12 tháng có đường kính 1 cm là tiến hành ghép được. Gốc ghép phải mọc thẳng, không dị dạng và sâu bệnh (hạt giống làm gốc ghép có thể là cam mật, cam 3 lá , volkameriana, citrange carrizo, quýt Cleopatra,…).

+ Chọn nhánh ghép
: Chọn cây mẹ tốt, tương đối sạch bệnh, chọn nhánh mọc ngoài trảng,sau đó tách mắt ghép có kích thước vừa nhỏ hơn miệng ghép, chú ý không để mắt ghép bị dơ, dập bể.

Hiện nay, cam quýt thường được nhân giống bằng 2 phương pháp trên. Tuy nhiên một so bệnh như: Tristeza,greening, virus đều lây lan qua mắt ghép, cành chiết. Vì vậy, để cây giống được sạch bệnh và khỏe mạnh chúng ta cần phải sản xuất cây giống bằng phương pháp vi ghép đỉnh sinh trưởng (shoot tip-grafting):

- Vi ghép là một kỷ thuật đòi hỏi sự chính xác, trong đó mắt ghép và gốc ghép đều được nhân lên trong ống nghiệm và thực hiện trong điều kiện vô trùng.

Do đó vi ghép có ưu điểm như sau:

- Các cây con sau khi vi ghép hoàn toàn sạch bệnh.

Những Điều Cần Chú Ý Khi Lập Vườn Cam Sành

Nỗi lo của các nhà vườn trồng cam sành là vườn cam rất mau cỗi (trái nhỏ, năng suất giảm). Để khắc phục tình trạng này, cần quan tâm các việc sau đây khi lập vườn cam

1. Thời kỳ đầu lập vườn

Ngoài chú ý khoảng cách hợp lý giữa các cây và chuẩn bị phân hữu cơ cho các hốc trồng, việc tạo tán làm cơ sở cho cây có năng suất cao về sau rất quan trọng: từ vị trí mắt ghép trên thân lên khoảng 50- 60cm thì bấm đọt, mục đích là để các mầm ngủ và các cành bên phát triển.

Khi cây được 3 tháng tuổi, chọn 3 cành khỏe từ thân chính dùng cọc cố định cho phát triển ra 3 hướng đều nhau để cây phát tàn đều và rộng. Năm thứ nhất, cây cần phát triển mạnh bộ rễ nên chọn loại phân có tỷ lệ lân (P) cao. Vườn bón đủ lân cây có lá to và dày nên quang hợp mạnh phát triển tốt. Những cây có trái sớm nên lặt bỏ bông và trái để không ảnh hưởng sự phát triển của cây.

2. Thời kỳ khai thác

Cam sảnhKhi cây cho trái toàn thân vẫn tiếp tục chăm sóc bộ rễ cho cây, đậy gốc giữ ẩm cho cây vào mùa khô, loại bỏ các cành vô hiệu tạo thông thoáng cho cây, bón phân NPK đầy đủ cho cây nuôi trái, chú ý bón phân hữu cơ để cải tạo đất cho cây phát triển tốt (10- 30 tấn/ha vì cây có múi rất cần loại phân này). Sau khi thu hoạch trái nhớ tỉa cành cho vườn cây.

3. Thời kỳ cây già cỗi

Chú ý xới nhẹ gốc, bón nhiều phân đạm (N) giúp cây phát triển nhằm hạn chế trái bị rụng và nhỏ.

Chăm sóc vườn cam sành giai đoạn đầu tốt sẽ giúp vườn cam nói riêng, vườn cây có múi nói chung lâu già cỗi, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Thứ Ba, 11 tháng 11, 2014

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cam Quýt

Cam quýt thích hợp ánh sáng tán xạ,do đó phải trồng cây che mát ven mép mương như tràm ,mãng cầu xiêm

- Thời vụ trồng: Có thể trồng quanh năm,đầu hoặc cuối mùa mưa (nếu trồng trong mùa nắng mà đủ nước tưới cây sẽ phát triển tốt hơn và ít bị sâu bệnh tấn công).

- Khoảng cách trồng: Cây cam nên trồng khoảng cách 3mx4m; quýt 4mx4m,4mx5m.

- Đắp mô trồng: Đất làm mô có thể từ đất mặt ruộng, đất bãi bồi ven sông, mô trồng cao khoảng 20-40cm và đường kính ban đầu là 60-80cm.Trước khi trồng nên trộn tro trấu, phân chuồng hoai mục vào mô, xử lý đất bằng Furadan để trừ côn trùng.

- Trồng cây chắn gió và cây che mát. Cam quýt thích hợp ánh sáng tán xạ,do đó phải trồng cây che mát ven mép mương như tràm ,mãng cầu xiêm,…hoặc trồng giữa liếp như cóc, so đũa,…đồng thời phải trồng cây chắn gió như dừa, xoài, vông,...để hạn chế sự thiệt hại do gió bão, cũng như sự lây lang của côn trùng, mầm bệnh.

- Tủ gốc giữ ẩm: Đa số rễ hấp thu dinh dưỡng của cam quýt mọc cạn, nhiệt độ của đất vào mùa nắng cao, ảnh hưởng đến bộ rễ, do đó cần phải tủ gốc giữ ẩm bằng rơm rạ (cách gốc 20cm), biện pháp nầy cũng tránh cỏ dại phát triển, khi cây cam quýt còn tơ có thể trồng xen hoa màu (bắp, đậu,k hoai).

- Mực nước trong mương: Cam quýt rất mẫn cảm với nước, vì vậy cần để mực nước trong mương cách mặt liếp 50-80cm.Trong mùa nắng nên để nước vô ra tự nhiên để rửa phèn và tích tụ phù sa.

- Vét bùn, bồi liếp: 
Khi cây trưởng thành, hàng năm hoặc 2 năm/lần tiến hành vét mương lấy 1 lớp sình mỏng 5cm đưa lên liếp để nhằm mục đích cung cấp thêm dinh dưỡng cho cây, đồng thời nâng cao tầng canh tác.

- Xiết nước: Hiện nay, ngoài biện pháp xiết nước để xử lý ra hoa cho quýt tiều, cam sành, chúng ta chưa có biện pháp nào hữu hiệu hơn, tuy nhiên có nhiều bất lợi là tuổi thọ có thể giảm.Vì vậy, để kéo dài thời kỳ kinh doanh của cây cam quýt, chúng tôi khuyến cáo thời gian xiết nước không nên quá 20 ngày.

+ Ưu điểm của xiết nước: Cây ra hoa đồng loạt, thuận lợi trong việc chăm sóc, bón phân,thu hoạch và tổng thu nhập kinh tế cao.

+ Nhược điểm: Bộ rễ có khuynh hướng ăn sâu trong thời gian không tưới nước, cây mau già cổi.

- Phân bón: Khi cây cam quýt còn tơ (năm I,II ) có thể dùng Urê pha nước để tưới ( 40g Urê/8 lít nước) gốc và cây phát triển mạnh, khoảng 3 tháng tưới một lần.

Bảng khuyến cáo bón phân cho cam quýt
Năm tuổiUre (g/cay/năm)Super lân (g/cay/năm)KCl (g/cây/năm)
320050050
54501.000170
Trên 5 năm9001.500250

- Ở thời kỳ kinh doanh ( cây trên 5 năm tuổi ) phân bón cho quýt tiều trên những vườn thâm canh cao: từ 400-900g N,200-460 g P2O5 ,100-200g K2O/cây/năm theo tỷ lệ N : P2O5 : K2O = 3 : 1 : 0,2.

Ở thời kỳ kinh doanh (cây trên 5 năm tuổi) phân bón cho cam sành trên những vườn thâm canh cao: 380-680 gam N+150-400 gam P2O5 + 100-150 gam K2O /cây/năm.

Dạng phân sử dụng: N nên sử dụng ở dạng phân Urê, phân Super lân nên bón sau thu hoạch, các dạng phân có chứa lân khác (DAP, NPK) nên bón vào giai đoạn nuôi quả.

- Phân chuồng: 5-20 kg/gốc/năm.

Đối với cây trưởng thành, ở giai đoạn kinh doanh cần chú ý bón phân vào các thời kỳ sau:

+ Sau thu hoạch ( bón phục hồi ) 1/5 N + 2/5P + hữu cơ

+ Sau khi xiết nước ( tưới trở lại)1/5 N + 1/5 P + 1/5 K

+ Sau khi quả đậu 1/5 N + 1/5 P + 1/5 K

+ Giai đoạn phát triển nhanh (*) 2/5 N + 1/5 P

+ Một tháng trước thu hoạch 3/5 K.

(*) Giai đoạn nuôi quả, ngoài1/4 lượng đạm còn lại, thì lượng phân nên cung cấp tùy theo mức độ đậu quả và sự phát triển của quả, và chia làm nhiều lần bón, kết hợp với phân bón lá, chú ý phòng ngừa sâu bệnh gây hại trái ở giai đoạn này.

Tóm lại: Liều lượng phân bón tùy theo loại đất, giống, giai đoạn sinh trưởng mà lượng phân cung cấp cho cây thích hợp.

Cách bón: Dựa theo chiều cao của tán cây mà cuốc rảnh xung quanh gốc sâu 10-20cm, rộng 20-30cm, cho phân vào, lấp đất lại và tưới nước.

Khi cây giao tán nên dùng cuốc xúp nhẹ lớp đât xung quanh cây theo hình chiếu của tán, và phải cách gốc 50 cm. Hoặc có thể rải phân thẵng lên mặt liếp, tốt nhất là tưới đẩm liếp trước, sau đó mới bón phân.

Có thể dùng phân tôm, phân cá, phân dơi để tưới hoặc bón cho cây cam quýt, hoặc dùng một số loại phân bón lá phun 4-5 lần/vụ quả ở giai đoạn bắt đầu phát triển nhanh, mỗi lần phun cách nhau 15 ngày.

Xử lý phòng ngừa sâu bệnh:

- Hàng năm nên quét vôi, xử lý thuốc trừ nấm bệnh cho gốc quýt tiều.

- Tránh tưới nước, bón phân hoặc vét sình thẳng vào gốc.

- Cần phun thuốc phòng ngừa sâu bệnh các đợt đọt non và giai đoạn mang trái.

- Để hạn chế mầm bệnh trong đất gây hại bộ rễ cam quýt (nhất là trong mùa mưa có độ cao) nên dùng Zineb rải gốc, trung bình 40 kg/ha và chia làm 2 lần vào tháng 5 ÂL và tháng 9 ÂL.

- Phát hiện sớm những cây có triệu chứng bệnh greening để kịp thời loại bỏ

Lợi Ích Cho Sức Khỏe Từ Trái Cam Sành

Buổi sáng cũng là thời điểm cơ thể hấp thu tốt nhất các canxi và các vitamin trong quả cam. Không nên uống nước cam vào buổi tối vì sẽ gây ra chứng khó ngủ.

Quả cam sành có lợi cho sức khỏeCam là loại quả rất giàu chất chống oxy hóa và chất phytochemical. Theo các nhà khoa học Anh: "Bình quân trong một trái cam có chứa khoảng 170 mg phytochemicals bao gồm các chất dưỡng da và chống lão hóa".
Quả cam là loại quả được yêu thích và có lợi cho cả người khoẻ mạnh cũng như bệnh nhân. Cam giúp giải nhiệt, thoả cơn khát cho người có cường độ vận động cao, tăng cường hệ tiêu hoá và hệ miễn dịch của cơ thể. Những người ăn nhiều cam, quýt có tỉ lệ nhiễm các bệnh ung thư như: ung thư phổi và dạ dày… rất thấp.

Giá trị dinh dưỡng trong quả cam gồm:

Mỗi 100 gr quả cam có chứa 87,6 g nước, 1.104 microgram Carotene – một loại vitamin chống oxy hóa, 30 mg vitamin C, 10,9 g chất tinhbột, 93 mg kali, 26 mg canxi, 9 mg Magnesium , 0,3 g chất xơ, 4,5 mg natri, 7mg Chromium, 20 mg phốt pho, 0,32 mg sắt và giá trị năng lượng là 48 Kcal.

Lợi ích trị bệnh từ cam

Trị cảm lạnh:
Khi bạn đang bị cảm lạnh, hãy uống một cốc nước cam nóng sẽ giúp cơ thể giảm mệt mỏi, ngăn ngừa tình trạng sổ mũi.

Trị sốt, cúm:
Nước ép của quả cam tốt cho bất kỳ bệnh sốt nào như cúm, thương hàn vàng da

Trị viêm phế quản và hen suyễn:
Mật ong, muối và nước nóng pha với nước cam rất có lợi đối với bệnh nhân viêm phế quản và hen suyễn.

Trị chứng táo bón:
Ăn hoặc uống nước cam vào bữa sáng liên tục trong vài ngày sẽ giúp bạn khắc phục chứng táo bón rất hiệu quả. Một cốc nước cam sau mỗi bữa sáng cũng sẽ mang lại cho bạn tinh thần phấn chấn để bắt đầu một ngày mới.

Buổi sáng cũng là thời điểm cơ thể hấp thu tốt nhất các canxi và các vitamin trong quả cam. Không nên uống nước cam vào buổi tối vì sẽ gây ra chứng khó ngủ.

Tốt cho người mắc tim mạch và huyết áp cao:
 Nếu bạn không phải là bệnh nhân tiểu đường, bạn có thể uống nước cam với mật ong, số lượng kali cao trong nước cam có tác dụng làm giảm huyết áp cao.

Trị viêm khớp:
Chất Carotene – tiền sinh tố của vitamin A có tác dụng làm giảm cơn đau của viêm khớp và bệnh Gout.

Trị lão hoá da:
Nước ép trái cam có thể sử dụng như một loại nước tẩy trang,làm sạch da. Vỏ quả cam được dùng tẩy da chết, tinh dầu trong vỏ cam sẽ làm da thêm mềm mại, lấy lại độ căng bóng do da hấp thụ được lượng tinh dầu trong vỏ cam, từ đó nâng cao sức đề kháng cho làn da.