Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2014

Bạch Đầu Ông Chữa Cao Huyết Áp

Theo Đông y, Bạch đầu ông có vị đắng, ngọt, tính mát; có tác dụng thanh can, thoái nhiệt, an thần.


Bạch đầu ông còn gọi Bạc đầu nâu, có tên khoa học: Vernonia cinerea (L.) Less., thuộc họ Cúc – Asteraceae. Bạch đầu ông mọc hoang khắp nơi, là loài thân thảo cao 20-100cm. Lá có phiến bìa nguyên hay có răng, gân phụ 3 – 4 cặp; cuống dài 1 cm. Lá hoa có lông năm tiết; hoa toàn hình ống. Bế quả có lông màu trắng, lông vòng ngoài ngắn, lông trong dài cỡ 5 mm. Bạch đầu ông ra hoa tháng 11 đến tháng 6.

Bộ phận dùng: Toàn cây. Thu hái toàn cây quanh năm, tốt nhất là vào mùa hè, rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô.

Theo Đông y, Bạch đầu ông có vị đắng, ngọt, tính mát; có tác dụng thanh can, thoái nhiệt, an thần.Thường dùng trị: Sổ mũi, sốt, ho (lá); lỵ, ỉa chảy, đau dạ dày (rễ); viêm gan (hoàng đản cấp tính); suy nhược thần kinh; mụn nhọt, viêm tuyến sữa, hắc lào, chàm, rắn cắn… Ngày dùng 100 g tươi hoặc 30g khô sắc uống hoặc sắc uống với các vị thuốc khác. Dùng lá giã đắp để chữa đinh nhọt, rắn cắn và bệnh ngoài da. Bột lá lẫn với vôi dùng đắp trị đau đầu, vết thương. Có thể dùng cành lá nấu nước rửa.

Sau đây là một số tác dụng của cây Bạch đầu ông.

– Chữa cao huyết áp: Bạch đầu ông, chua me đất, hy thiêm (mỗi vị 15g), đun sôi lấy nước uống.

– Chữa sổ mũi, sốt, ho: Bạch đầu ông, Ngũ trảo, rễ bồ hòn, lá gừa (sanh) mỗi vị 15g nấu nước uống.

– Chữa suy nhược thần kinh: Bạch đầu ông, hy thiêm (mỗi vị 15g), chua me đất, rau bợ (mỗi vị 12g), sẹ (Alpinia oxyphylla) 6g, sắc uống.

– Chữa rong huyết, rong kinh: Dùng lá bạc thau, lá ngải cứu, lá Bạch đầu ông (mỗi vị 20g) giã nhỏ, lọc nước uống.

– Chữa viêm gan vàng da: Bạch đầu ông, Diệp hạ châu (chó đẻ), cỏ mực (lọ nồi), mỗi thứ 30 g (dược liệu khô), sắc uống.
Cây bạch đầu ông

3 Loại Hoa Có Tác Dụng Hỗ Trợ Điều Trị Tăng Huyết Áp

Tăng huyết áp là một chứng bệnh thường gặp tại cộng đồng, ngoài những cơn đau đầu, hoa mắt, chóng mặt… ảnh hưởng đến công tác và lao động, nghiêm trọng hơn, nếu không được kiểm soát và điều trị tốt

Tăng huyết áp dễ gây tai biến mạch máu não để lại di chứng liệt và tàn phế, thậm chí gây tử vong. Dưới đây, xin giới thiệu cách dùng 3 loại hoa có tác dụng hỗ trợ điều trị tăng huyết áp

1. Hoa hòe

Hoa hòe hỗ trợ điều trị tăng huyết ápThu hoạch vào tháng 7-9, chọn ngày nắng ráo, hái nụ hoa sắp nở phơi khô cất vào lọ để dùng dần. Bài thuốc chữa nhức đầu và đề phòng tai biến do tăng huyết áp gồm: hoa hòe sao thơm 10g, hạt muồng (thảo quyết minh) sao đen 20g, cúc hoa khô 5g. Tất cả cho vào ấm hãm nước sôi uống trong ngày thay chè.

2. Hoa cúc (cúc hoa)


Hoa cúc thu hái vào tháng 9-11 phơi khô trong râm, cất vào lọ dùng dần. Hoa cúc có tác dụng hạ huyết áp, đỡ nhức đầu, sáng mắt. Bài thuốc gồm: cúc hoa 20g, thảo quyết minh (sao thơm) 50g, cam thảo dây (băm nhỏ sao thơm) 10g. Tất cả cho vào ấm hãm nước uống trong ngày thay chè.

3. Hoa đại

Chọn ngày nắng ráo hái hoa và nụ phơi khô cất trong lọ kín để dùng dần. Cách dùng: hoa đại 30g, cúc hoa 10g cho cả vào ấm hãm nước uống trong ngày thay nước chè.

Lưu ý: Khi đã phát hiện tăng huyết áp thì phải tuân thủ điều trị hay nói đúng hơn là phải điều trị thường xuyên và lâu dài vì tăng huyết áp rất dễ tái phát. Một sự thay đổi về thời tiết, thay đổi về trạng thái tâm lý cũng làm cho bệnh nặng thêm.

Vì vậy, khi dùng các bài thuốc trên vẫn phải kiểm soát huyết áp thường xuyên, nếu thấy ổn định và đỡ đau đầu chóng mặt thì vẫn tiếp tục dùng để duy trì huyết áp, nếu không đỡ, cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để theo dõi và điều trị.

Kỹ Thuật Ủ Rơm Trồng Nấm Rơm

Không trồng nấm từ rơm rạ lúa trồng trên đất nhiễm phèn và nhiễm mặn. Dùng rơm rạ suốt máy tốt hơn đập bằng tay

Kỹ thuật ủ rơm trồng nấmGiá thể trồng nấm rơm có thể chế biến đơn giản không cần ủ nhiều, chỉ cần ngâm rơm rạ với nước vôi tỷ lệ 5% trong khoảng 18-20 giờ rồi vớt ra để ráo nước. Xếp thành bó hoặc luống lien tục như luống khoai lang, chiều rộng 30-40cm, chiều cao từ 25-35cm, dài tùy ý. Khi xếp cần làm cho các lớp rơm xếp tương đối chặt tay. Các luống cần cách nhau 30-35cm để tiện việc đi lại chăm sóc và thu hái.

Tuy nhiên để đạt năng suất cao người ta cũng dung phương pháp ủ rơm tạo một quá trình lên men khử trùng rơm, rạ để có một loại giá thể tốt cho nấm rơm phát triển, tránh sự xâm nhập của nấm dại và mầm bệnh.

Theo phương pháp này người ta trộn vào rơm, rạ đã được làm ướt 2-3% bột nhẹ hay vôi bột, 0,5% đạm ure, 1% đạm sunfat amon, 1-2% super lân rồi ủ đống trong thời gian 7-10 ngày qua 2 đến 3 lần đảo, sau đó đưa ra xếp thành luống rồi chuẩn bị cấy giống nấm.

Trong một số trường hợp còn có thể bổ xung bằng cám gạo 1-2% vào giá thể trồng nấm rơm nằm tạo môi trường thuận lợi và cung cấp dinh dưỡng cho nấm rơm khi phát triển quả thể.
Tưới nước giữ độ ẩm cho rơm
Phun nước giữ độ ẩm cho rơm
Thu hoạch nấm rơm
Thu hoạch nấm rơm

Chú ý khi xử lý rơm rạ:
Nên chọn rơm rạ tốt. Theo kinh nghiệm của nhiều nông dân, năng suất nấm từ rơm rạ nếp cao hơn lúa tẻ, rơm lúa mùa cao hơn rơm rạ lúa ngắn ngày, rơm rạ đất phù sa cao hơn rơm trên đất bón phân chuồng, rơm rạ trên đất phân chuồng cao hơn trên đất bón phân hoá học.

Không trồng nấm từ rơm rạ lúa trồng trên đất nhiễm phèn và nhiễm mặn. Dùng rơm rạ suốt máy tốt hơn đập bằng tay... Với rơm rạ tốt, chỉ ủ 5-7 ngày sau tưới nước vôi, trong khi rơm rạ không tốt phải ủ tới 10-15 ngày và phải xáo trộn 2-3 lần.

Bệnh nấm rơm có 2 loại: bệnh sinh lý và bệnh nhiễm.

Bệnh sinh lý: Với nhiệt độ trên 40°C, tơ nấm mọc chậm, thưa dần rồi chết, còn dưới 15°C, tơ ngừng tăng trưởng và không mọc lại được, ngoài ra, quả thể nấm hay tai nấm cũng không tạo thành được dưới 25°C, từ 25-28°C tai nấm bị dị hình, trên 35°C tai nấm sớm bung dù.

Bệnh nhiễm: Thường là nhiễm nấm mốc và nấm dai. Nấm mốc xanh, mốc cam, mốc thạch cao... phải xử lý thuốc tím hoặc acid acetic, nặng hơn phải dùng Bennomyl, Zineb, Validacin...

Ngoài ra còn có các loại côn trùng như: ruồi, mạt gà, bọ nhảy, cuốn chiếu, kiến, gián... phá hại nấm, phải dùng thuốc Furadan để diệt trừ.

Bà con có thể tham khảo thêm qua bộ sách Công nghệ nuôi trồng nấm (2 tập, Nhà XB Nông nghiệp, 2002). Bà con cũng có thể liên hệ với 2 Lúa để tìm địa điểm mua giống, bán sản phẩm, học hỏi kỹ thuật

Ngoài ra, bà con cũng có thể liên hệ với PGS. TS. Nguyễn Thị Chính- bộ môn vi sinh- Trường Đại học Khoa học Tự nhiên- Đại học Quốc gia- Hà Nôi. 334 đường Nguyễn Trãi- Quận Thanh Xuân- Hà Nội.

Trồng Nấm Rơm Bằng Cách Không Đậy

Những kinh nghiệm mới trong kỹ thuật trồng nấm rơm bằng cách không đậy

Qua những năm gần đây, người dân ở huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp đã trồng nấm rơm không cần che đậy đã thành công, vẫn cho năng suất khá tốt, ít công chăm sóc, tăng số mét mô vì không cần đậy rơm nên lượng rơm đó làm số mét tăng lên.

Việc xuất khẩu nấm rơm muối hàng năm của Vĩnh Long đã đạt mức doanh thu khá cao góp phần cho kinh tế tỉnh nhà ngày một phát triển. Nhưng để đảm bảo sản lượng như vậy nên công ty xuất khẩu phải mua nấm tươi từ các tỉnh lân cận mới đủ số lượng nên nhập thêm 90%, còn tại tỉnh nhà chỉ đáp ứng 10% mà thôi. Trong khi đó Vĩnh Long có diện tích canh tác lúa khá rộng hơn 75.000 ha, lại sản xuất 2-3 vụ lúa/năm thì số lượng rơm rạ thải ra một lượng lớn, nhưng lại bỏ phí chỉ đốt đồng hoặc thải bỏ xuống kinh mương làm ô nhiễm môi trường nước và không khí, làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Sau vụ giáp hạt thì sức lao động ở nông thôn dư ra rất nhàn rổi làm xảy ra nhiều tệ nạn xã hội khác.

Để giải quyết các vấn đề nêu trên, đồng thời còn làm tăng thu nhập thêm cho nông hộ về kinh tế nói riêng còn góp phần cung cấp thêm nguồn phân hữu cơ cho vườn cây ăn trái phát triển tốt, cũng tăng thêm nguồn nguyên liệu cho xuất khẩu. Vì vậy đầu năm 2002 Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long ban hành dự án phát triển trồng nấm rơm xuất khẩu, để giải quyết công lao động nhàn rổi ở nông thôn, tăng thu nhập kinh tế gia đình, đáp ứng phần nào cho xuất khẩu.

Trong vụ hè thu 2002 bước đầu đã triển khai kỹ thuật trồng nấm rơm bằng cách không đậy đã thành công ở nhiều địa phương trong tỉnh như xã Trà Côn (Trà Ôn), xã Bình Ninh (Tam Bình), xã Long An (Long Hồ), xã Trung Hiệp, xã Trung Ngãi (Vũng Liêm). Ở ấp 2, xã Trung Ngãi cho năng xuất khá được UBND tỉnh đánh giá khá cao có thể nhân rộng mô hình này trong toàn tỉnh trong vụ thu đông sắp tới.

Những ưu điểm của kỹ thuật trồng nấm rơm không đậy:

- Thực hiện đơn giản, tốn ít công lao động trong khâu chăm sóc và chất mô nấm.

- Làm với qui mô lớn vì tận dụng tất cả được các diện tích dưới tán cây ăn trái, vì vậy có thể trồng với diện tích đại trà phục vụ cho xuất khẩu.

- Sau thu hoạch phụ phẩm đó là lượng phân hữu cơ phục vụ cho cây trồng rất tốt.

- Không cần đậy rơm từ đó làm tăng thêm chiều dài mô lên.

- Nấm rơm phát triển ít bị dợp hơn là trồng nấm rơm có đậy.

Kỹ thuật trồng

1. Chọn địa điểm:

Trồng nấm không đậy chỉ cần ánh sáng rất ít meo nấm vẫn phát triển tốt, nên chọn nơi đất thoáng mát, thoát nước tốt khi mưa lớn, tránh ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp sẽ làm ảnh hưởng đến tơ nấm. Không nên chọn đất chất mô nấm trước đó trước sáu tháng tránh mầm bệnh lây lan, 100 công rơm chỉ cần 1.500 m2 đất là đủ.

2. Ủ rơm - chọn rơm:

Không nên chọn loại rơm quá mục nát, ruộng lúa bị cháy rầy... còn lại tất cả đều dùng được.

Ủ rơm: đây là khâu quan trọng để nấm cho năng suất cao, mục đích làm rơm chín, phân hủy một số độc có trong rơm khi ta canh tác có sử dụng 1 số nông dược.

Kích thước mô ủ: chiều ngang 2 m,chiều cao 1,5 m, chiều dài tùy thuộc vào lượng rơm ủ. Ta tiến hành chất thành từng lớp cao 2-3 tất tưới nước dậm dẻ, sau đó chất tiếp tục đến khi có chiều cao 1,5 m là được. Sau đó khoảng 7 ngày sau tiến hành đảo rơm ủ cho rơm chín đều có thể rải vôi bột trong lúc ủ rơm xử lý đất và cho rơm mau chín.

Chú ý: Khi chất rơm ủ, nên dậm xung quanh đống rơm, còn ở giữa đống rơm nên dậm sơ và tưới nước mà thôi chủ yếu làm tăng nhiệt độ giữa đống rơm ủ.

3. Chọn meo giống:
Hiện nay trên thị trường có nhiều loại meo nấm được bán do nhiều cơ sở sản xuất khác nhau. Khi chọn meo cần chú ý các đặc điểm sau:

- Quan sát thấy tơ mọc thẳng, nhánh tơ phân phối đều khắp bịt có màu trắng, có hình lông chim.

- Mật độ đóng tơ dày.

- Ngửi có mùi nấm rơm.

Không nên chọn bịt meo có đặc điểm sau:

- Bịt meo nhiễm mốc xanh, đen, mốc vàng cam...

- Đáy bịt meo ướt nhảo.

- Ngửi có mùi chua.

Một bịt meo có thể chất từ 3-4 mét mô. Nếu thấy 2 bịt meo tốt như nhau, ta bóp thấy bịt meo nào cứng thì có thể rải dài hơn, còn bịt mềm nên rải khoảng 2 mét mô mà thôi.

Chú ý: Nên bẻ meo nhẹ nhàng, không nên vò mạnh làm tơ bị dập ảnh hưởng đến sự phát triển của meo.

4. Chất mô nấm:

Sau khi rơm ủ đã chín, thì tiến hành chất mô. Loại bỏ lớp rơm ngoài xung quanh đống rơm. Rơm ủ lấy ra cuộn tròn, tém gọn 2 đầu như cái gối, đường kính cuộn rơm 2-3 tất, chất thành giồng nối tiếp nhau sau đó ém rơm xung quanh gọn gàng tưới nước và rải meo, rồi đậy lại 1 lớp rơm mỏng 0,5 phân phủ lớp meo lại, nên rải meo ở giữa giồng. Nếu trong mùa mưa ta nên dựng đứng lọn rơm để nước thoát dễ cân đối nước trong giồng nấm.

Chú ý: Khi tiến hành chất mô nên xem hướng gió, ta sẽ chất mô dọc theo chiều gió để khi gặp mưa dầm gió làm cân đối được lượng nước trong giồng mô.

5. Chăm sóc:

a) Tưới nước ngày 1 lần có thể tưới bằng máy bơm, moter, hoặc bằng thùng có gắn búp sen.

- Nếu tưới thừa nước giồng sẽ bốc hơi tự điều chỉnh.

- Nếu tưới ít nước nấm sẽ mọc sâu trong giồng.

b) Sử dụng thuốc dưỡng nấm:
- Sử dụng HVP (dùng cho nấm), liều dùng: 3 lít/1.000 mét mô tưới vào 3 giai đoạn:

+ Tưới trước khi rải meo.

+ 5 ngày sau khi rải meo.

+ chuẩn bị có nấm: 9-10 ngày.

- Phun thuốc kích thích: HQ 201, Atonik lên nấm lúc nấm trứng cá để nấm lớn nhanh (liều dùng như hướng dẫn ở bao bì).

- Có thể sử dụng thuốc trừ mạc, nên sử dụng thuốc mau phân hủy để tránh độc hại, nên dùng thuốc Sumithion để phun trước khi rải meo.

6. Thu hoạch:

- Thu hoạch ngày 2 lần lúc sáng và chiều mát.

- Sau khi chất mô từ 10-13 ngày là thu hoạch, thu hoạch nấm không đậy khó hơn có đậy, nấm có màu đen nên thu hoạch dễ để sót.

- Năng suất bình quân từ 1,8-2 kg/m mô, còn tùy thuộc vào kỹ thuật và tùy loại rơm ủ. Nếu rơm ủ chín đều, đúng kỹ thuật thì năng suất sẽ cao hơn./.

Giải Pháp Kỹ Thuật Nâng Cao Năng Suất Nấm Rơm

Ngoài hiệu quả kinh tế không nhỏ, việc ứng dụng tiến bộ khoa học trong việc trồng nấm rơm còn góp phần cải thiện môi trường nông thôn

Nghề trồng nấm rơm từ lâu đã phát triển  mạnh tại những vùng nông thôn Bến Tre, vì nghề này tận dụng nguồn phế phẩm phụ là: rơm  thải ra khi thu hoạch lúa, lại tận dụng công lao động nhàn rỗi góp phần tăng thu nhập cho người trồng lúa. Tuy nhiên phần đông bà con nông dân trồng nấm chưa hiểu thấu đáo các đặc tính sinh học cũng như các điều kiện ngoại cảnh (nhiệt độ, ẩm độ) trong khi trồng nấm và nhất là chưa phát hiện được từng giai đoạn sinh trưởng của meo nấm, nguồn meo này cũng không ổn định có thể làm rơm ngày càng chua đắng ảnh hưởng đến chất lượng  và sản lượng nấm.
trong nam rom

Vì những tác động này nên diện tích và sản lượng nấm rơm trong những năm qua hầu như không tăng, phụ phẩm tồn đọng ngày càng nhiều do làm lúa tăng vụ ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ô nhiễm môi trường sinh thái. Từ thực trạng này Anh Nguyễn Hùng Nhân (Trung tâm khuyến nông tỉnh Bến Tre) cùng với các cộng sự đã nghiên cứu và xây dựng qui trình trồng nấm theo phương pháp khoa học bằng cách ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật vào nghề trồng nấm rơm nhằm giúp người sản xuất hiểu được cốt lõi của qui trình trồng nấm, nâng dần: diện tích-năng suất-thu nhập nấm theo thời gian…

Theo qui trình kỹ thuật giúp bà con nông dân nâng cao năng suất nấm rơm, trước hết trong khâu làm đống ủ phải: chọn nguồn rơm nguyên liệu tốt, để xác định rõ nguồn rơm tốt phải dùng giấy thử để đo độ pH của rơm (đo độ chua của rơm, xử lý vôi đúng liều lượng); bón vôi + DAP và xạ khuẩn (nếu có) phù hợp với mục đích làm gia tăng chất dinh duỡng và giúp rơm phân hủy nhanh. Khi chọn giống nấm phải chọn nơi cung cấp giống có uy tín để chọn loại meo nấm đạt yêu cầu (phát triển nhanh, kháng sâu bệnh..).

Đặc biệt trong quá trình trồng nấm nông dân nên trang bị một số trang thiết bị kỹ thuật để hỗ trợ như dùng: kính lúp để quan sát từng giai đoạn phát triển của tơ nấm xem tơ nấm có bị thiếu phân, bị nhiễm phèn hay phát triển không đều để chăm sóc và xử lý kịp lúc đồng thời phát hiện nấm tạp để tiêu diệt; sử dụng nhiệt kế để kiểm tra nhiệt độ môi trường.

Có thể sử dụng màng phủ nông nghiệp, một mặt để đậy đống ủ, ổn định nhiệt độ  điều hòa ẩm độ tạo môi trường tốt cho nấm phát triển mặt khác màng phủ nông nghiệp có thể che mưa nắng khi cần, làm áo mô, chống tạo nhiệt, chắn gió…bên cạnh các thiết bị kỹ thuật này bà con nông dân có thể sử dụng thêm bình phun để: phun nước, tưới phân, xịt thuốc, phòng trừ sâu bệnh…

Các phương pháp kỹ thuật này giúp người trồng nấm hiểu được cốt lõi của qui trình trồng nấm rơm, biết cách sử dụng một số dụng cụ tiến bộ rẻ tiền như: kính lúp, nhiệt kế, giấy đo pH, màng phủ nông nghiệp; cách chọn rơm, meo giống đạt yêu cầu; cách bón phân cho đống ủ….

Mô hình đã được bà con nông dân tích cực hưởng ứng bước đầu  mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, theo tính toán từ mô hình thử nghiệm: nếu chi phí đầu tư việc trồng nấm trên 1000m2 rơm là 100.000 đồng (chưa tính các dụng cụ kỹ thuật) có ứng dụng kỹ thuật sẽ mang lại lợi nhuận là 340.000 đồng/ 1 vụ tăng hơn 100.000 đồng so với không đầu tư tiến bộ kỹ thuật, rủi ro trong trồng nấm ít xảy ra hơn.

Ngoài hiệu quả kinh tế không nhỏ, việc ứng dụng tiến bộ khoa học trong việc trồng nấm rơm còn góp phần cải thiện môi trường nông thôn bằng cách: tận dụng triệt để nguồn phế phẩm phụ biến chúng thành nơi sản xuất ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao, đồng thời tạo ngành nghề mới làm cảnh quan nông thôn thêm sinh động, đặc biệt làm giảm tỉ lệ thất nghiệp sau khi thu hoạch lúa. Bên cạnh đó các dụng cụ kỹ thuật hỗ trợ cho việc trồng Nấm chi phí không cao, phù hợp túi tiền nông dân lại có thể sử dụng cho nhiều vụ Nấm, được ứng dụng không chỉ trên Nấm rơm mà còn trên  các loại nấm khác như: bào ngư…

Với kỹ thuật mới làm cho diện tích và sản lượng nấm rơm không ngừng tăng lên, giải pháp này đã được chọn là 1 trong 22 giải pháp công nghệ đạt giải sáng tạo kỹ thuật và đề tài tự nghiên cứu của Hội thi Sáng tạo Khoa học Kỹ thuật tỉnh Bến Tre lần thứ nhất, do Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre vừa tổ chức.

Giải pháp đã khuyến khích người trồng nấm trang bị các dụng cụ rẻ tiền, dễ áp dụng vào thực tế phục vụ cho nghề trồng nấm, phổ biến cho nông dân qui trình trồng nấm chi tiết mang lại hiệu quả kinh tế- xã hội cao hơn so với tập quán cũ mở ra triển vọng cho nghề trồng nấm trở thành một ngành công nghiệp trồng nấm ứng dụng trên các phế phẩm nông nghiệp phụ khác như: mụn dừa, bả mía…đang tồn đọng ngày càng nhiều ở Bến Tre.

Trồng Nấm Rơm Kiểu Mới

Cư dân 2 huyện Thốt Nốt và Ô Môn - Cần Thơ xem trồng nấm rơm là nghề truyền thống của họ. Người có tuổi nghề ít nhất là 20 năm.

Ông Hai Beo ở ấp Qui II, xã Trung Kiên có kinh nghiệm trồng nấm rơm gần 15 năm nói : Tôi trồng 2 công nấm (2.000m2) sử dụng 4 ghe rơm (ghe 26 tấn) và 8 bao meo (1.040 bọc), thu hoạch được 2 tấn, bán giá 9.000 đồng/kg được 18 triệu, lãi "4 triệu". Tuy nhiên, thời gian trồng 1 đợt kéo dài mất 30 ngày, phải cần tới 14 lao động. Năng suất tùy vào thời tiết. Riêng tiền thuê mặt bằng 2 công đất lên đến 1,2 triệu đồng, nhưng chỉ trồng được 1 đợt. Trồng nấm bây giờ có nhiều kiểu. Riêng ông Nguyễn Duy Hải, nông dân ấp Sơn Lập xã Vọng Đông (Thoại Sơn - An Giang) đã thành công mô hình trồng nấm rơm trong nhà kín. Theo ông Hải, diện tích nhà kín 18m2, sử dụng 600 bánh rơm (1 công rơm) và 70 bọc meo, cho thu hoạch từ 170 - 180 kg nấm. Bán được 1,6 triệu đồng, lãi 1,3 triệu đồng.Kỹ thuật trồng nấm rơm trong nhà kín:

Ủ rơm chín (rơm ướt ủ 3 ngày, rơm khô ủ 7 ngày), cho vào khung ép thành bánh (cỡ khung:30 x 22 x12cm), gói vào bao nilon đem phơi nắng 1 ngày, để nguội 1 đêm rồi cấy meo (1 bọc meo cấy từ 7 - 10 bánh rơm). Cấy xong, gói lại để nơi thoáng mát. Sau 7 ngày mở bao ra đem bánh rơm vào nhà kín, chất lên kệ. Dùng bình xịt phun nước (bình 8 lít phun cho 600 bánh rơm), giữ nhiệt ở 36o C. Nếu nhiệt độ giảm tiếp tục phun nước; còn nhiệt độ tăng, mở cửa sổ thoát nhiệt. Sau 4 ngày, nấm to bằng ngón tay, phun thuốc tăng trưởng KoMix (lọ 20cc pha bình 8 lít phun cho 600 bánh rơm). Sang ngày thứ 5 cho thu hoạch và thu hoạch kéo dài liên tiếp 10 ngày.

Thu hoạch xong đợt, quét dọn nhà kín, khử trùng bằng vôi bột để trồng tiếp đợt sau. Kỹ thuật trồng nấm trong nhà kín cho phép người trồng nấm sản xuất theo phương thức dây chuyền, mỗi đợt trồng 15 ngày (thời gian trong nhà kín) và không bị ảnh hưởng thời tiết. Đồng thời tiết kiệm được 50% lượng rơm (so với cách trồng truyền thống), ít tốn công chăm sóc, chất lượng nấm thương phẩm cao, năng suất tăng gấp 2/3 lần...

Theo kinh nghiệm ông Hải, trong 5 ngày đầu để bánh rơm lên kệ không được xê dịch, vì sẽ làm đứt tơ ảnh hưởng đến năng suất. Nấm là loại mẫn cảm, không để người lạ vào, dễ bị dọåp. Tuy nhiên, có thể khử mùi bằng cách thắp hương. Nếu cho ít lá dứa vào nhà kín, nấm có mùi thơm rất dễ chịu. Nếu thắp đèn điện, nấm có màu trắng mởn, bán được giá cao.

Mới đây ông Hải đã thử nghiệm thành công mô hình trồng nấm "sạch". Phương pháp trồng tương tự nấm trong nhà kín. Phun nước đường thay cho thuốc tăng trưởng KOMIX, độ ngọt nước đường bằng các loại nước giải khát. Nhà kín có thể làm bằng tre, lá. 4 vách và trần nhà được che kín bên trong bằng bao nilon. Nhà làm vật liệu tốt thời gian sử dụng lâu hơn. Nếu trần nhà lợp, phải dùng các vật che mát như: Tàu dừa, rơm, cỏ...Cửa sổ thoát nhiệt trên cánh én. Kệ để bánh rơm làm bằng thanh tre, trúc. Nhà kín 18m2 (3 x 6m), hai bên bố trí 2 kệ đơn, ở giữa 1 kệ đôi. Mỗi kệ rộng 40cm, chừa lối đi 60cm. Tầng kệ cách nhau 30cm và tùy chiều cao nhà kín.

Anh Phan Văn Triều (xã Thới Long huyện Ô Môn), chủ cơ sở sản xuất nấm rơm khô cho biết: Cơ sở của anh mỗi ngày tiêu thụ từ 400 – 600 kg nấm tươi. Giá mua vào 4.200 đồng/kg (loại nấm dù), chi phí than sấy và công làm sạch 800 đồng/kg. Trung bình 11kg nấm tươi cho 1kg nấm khô. Giá bán nấm khô 60.000 đồng/kg, lãi 5.000 đồng. Hiện nay, trong địa bàn 2 huyện nói trên có 4 cơ sở chuyên sản xuất nấm rơm khô, mỗi ngày tiêu thụ trên 2 tấn nấm tươi (loại nấm dù, vạc).

Có thể nói, năm nay ở khu vực ĐBSCL được mùa, được giá là vui của những người trồng nấm và cũng xuất hiện nhiều kiểu trồng nấm rơm mới.

Kỹ Thuật Trồng Nấm Rơm Bằng Khuôn Gỗ

Ba ngày đầu và giai đoạn bung sợi của nấm, đóng kín nhà nuôi trồng, chỉ để các lỗ thông khí. Có thể tưới nước nếu thấy mô nấm quá khô.

 I. Thời vụ

Tốt nhất từ 15-4 đến 15-10. Thời gian còn lại nấm cho năng suất thấp hơn (nấm trái vụ).

II. Chuẩn bị

Rơm rạ khô không ẩm mốc. Kệ kê ủ rơm có kích thước 1,5 x 1,5 x 1,5m, đóng kệ thưa để dễ tưới nước.

Có cọc thông khí bằng tre hoặc bằng gỗ dài 02m. Bể nước, nước sạch, vôi, bình bơm, nhiệt kế, ẩm kế, nylon hoặc tấm bạt, nhà nuôi trồng, chất khử trùng, khuôn cấy giống bằng gỗ hình thang (đáy lớn dài 1,1m, đáy nhỏ 1m, rộng 0,4m, mặt trong khuôn phải nhẵn).

III. Nuôi trồng

Ủ nguyên liệu: Hòa nước vôi với tỷ lệ 20-25kg vôi tôi hoặc 15-20kg vôi bột cho 1 tấn nguyên liệu. Cho rơm rạ khô vào bể nước vôi, ngâm no nước rồi vớt ra, để ráo 5-10 phút, sau đó chất lên kệ, dựng cọc thông khí ở giữa. Chất đến khi cọc thông khí còn 0,3-0,5m là được. Dùng tấm bạt quấn quanh đống ủ, chừa một khoảng trống trên cùng. Nếu trời mưa che cọc thông khí để tránh nước mưa chảy vào đống ủ.

Đảo nguyên liệu: Sau khi ủ 3-4 ngày thì đảo nguyên liệu. Đảo từ ngoài vào trong và trong ra ngoài. Sau đó 3-4 ngày, đảo lại lần 2. Sau 3-4 ngày có thể đưa ra cấy.

Cấy giống: Xử lý nhà nuôi trồng bằng nước vôi đặc hoặc phooc môn 0,5%. Lấy rơm đã ủ ra để nguội, kiểm tra độ ẩm bằng ẩm kế, hoặc nắm chặt một nắm, thấy nước rỉ ra kẽ tay là được. Nếu rơm ướt phải phơi cho ráo, khô; tưới thêm nước bằng bình phun sương. Cho rơm vào khuôn, nén vừa chặt và cấy giống theo từng lớp, mỗi lớp dày 10-12cm, 3 lớp dưới thì cấy xung quanh thành khuôn, cách khuôn 3-5 cm.

Lớp trên cùng cấy toàn bộ bề mặt, rồi phủ một lớp rơm cuối cùng khoảng 1cm. Sau đó dùng rơm khô (loại rơm không ủ) phủ lên một lớp áo dày 3-5cm. Trung bình, mỗi mô cấy khoảng 0,2kg giống, khoảng cách giữa các mô là 25-30cm. Cấy giống vào buổi sáng hoặc chiều mát.

IV. Chăm sóc
Ba ngày đầu và giai đoạn bung sợi của nấm, đóng kín nhà nuôi trồng, chỉ để các lỗ thông khí. Có thể tưới nước nếu thấy mô nấm quá khô. Ngày thứ tư, mở cửa để kiểm tra, nếu khô tưới như trước. Ngày thứ 4 và 5, kiểm tra nhiệt độ, dùng nhiệt kế cắm sâu vào giữa mô nấm 15cm khoảng 5 phút, nhiệt độ 30-40 độ C là tốt.

Nếu dưới 30 độ C, nên phủ thêm nylon để tăng nhiệt độ, trên 40 độ C thì mở toang cửa để giảm nhiệt độ. Ngày thứ 7-8, thấy có hiện tượng kết sợi như mạng nhện ở xung quanh bề mặt của mô nấm, lúc này phun sương cho ướt. Ngày thứ 9 và 10, trên mô nấm có lấm tấm trắng hình đinh ghim, dừng tưới nước, khi quả nấm to bằng hạt ngô mới bắt đầu tưới. Tiếp tục tưới phun sương cho đến khi thu hái, số lần tưới tùy thuộc thời tiết, mô nấm có màu như màu lúc mới cấy là được.

Làm Meo Nấm Rơm

Trong qui trình làm nấm rơm, meo là thành phần không thể thiếu được. Chất lượng của nấm tốt hay xấu phụ thuộc vào chất lượng của meo. Song không phải ai cũng SX được meo chất lượng cao.

– Nguyên liệu chủ yếu là rơm, rạ, bột bắp, đường mía, Agaz, lúa.

– Phân lập giống: Chọn tai nấm giống tốt không bị bệnh, không non quá, già quá. Cần tẩy trùng mặt ngoài tai nấm, gọt bỏ phần rơm rạ, lau qua bằng Alcol hoặc dung dịch HgCl2 0,2% rồi rửa lại bằng nước cất.

– Lấy dao chẻ tai nấm ra rồi cắt thành miếng nhỏ cấy vào trong hộp lồng (trong hộp lồng đã pha chế) theo công thức bột bắp 40g, đường mía 20g, Agaz 20g, nước 20g.

Khi tơ nấm mọc lan ra khắp mặt hợp ta chọn tơ nấm thực thụ (không lẫn tơ nấm tạp) đem cấy truyền sang ống nghiệm.

Nhân giống ra chai hoặc bịch: Sau khi được giống nấm thuần khiết, cần pha chế thức ăn, để nhân ra nhiều bịch hoặc chai làm meo nấm rơm, rơm rạ cắt khúc 2 – 3cm. Ngâm nước vôi một đến hai giờ vớt ra pha trộn: Cứ 3,3kg trộn 300g bắp xay nhuyễn, 100g vôi. Ngâm rơm sao cho khi vắt không chảy thành giọt là tốt. Đem hỗn hợp này đóng bịch hoặc chai, đậy nút bông lại đem hấp để thanh trùng. Sau khi đã thanh trùng chuyển qua phòng vô trùng để cấy meo, bịch meo đã cấy xong đem ủ 7 ngày là bán được.

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Nấm Rơm

Chu kỳ sinh trưởng và phát triển của nấm rơm rất nhanh. Từ lúc trồng đến khi thu hoạch chỉ sau 12-14 ngày.

1. Vị trí phân loại và hình thái:

Tên khoa học: Volvariella volvacea
Tên tiếng Anh:  Paddy straw mushroom
Tên khác: Nấm rạ, nấm đen, thảo cô, nấm trứng,....
Nấm rơm thuộc họ Pluteaceae, bộ Agaricales, lớp Hymenomycetes, ngành phụ Basidiomycotina, ngành nấm thật-Eumycota, giới nấm-Fungi.
Nấm rơm có hơn 100 loài và chi, khác nhau về màu sắc từ màu xám trắng, xám, xám đen,... kích thước, đường kính tai nấm lớn hay nhỏ tùy thuộc từng loại, cấu tạo hình thái tai nấm gồm:

Bao gốc:
Bao gốc dài và cao lúc nhỏ bao lấy mũ nấm, khi mũ nấm trưởng thành gây nứt bao, bao gốc chỉ còn lại phần trùm dưới gốc chân cuống nấm. Bao nấm là hệ sợi tơ nấm chứa sắc tố melanin tạo ra màu đen ở bao gốc. Độ đậm nhạt của bao tùy loài và ánh sáng, ánh sáng càng nhiều thì bao gốc càng đen.

Bao gốc có tác dụng:
+ Chống tia tử ngoại của mặt trời.
+ Ngăn cản sự phá hoại của côn trùng.
+Giữ nước và ngăn sự thoát nước của các cơ quan bên trong.
Do đóng vai trò bảo vệ nên thành phần dinh dưỡng của bao gốc rất ít.

Cuống nấm:
Là bó hệ sợi xốp, xếp theo kiểu vòng tròn, đồng tâm. Khi còn non thì mềm và giòn. Khi già xơ cứng lại và khó bẻ gãy, cuống nấm có vai trò đưa mũ nấm lên cao để phát tán bào tử đi xa, vận chuyển chất dinh dưỡng để cung cấp cho mũ nấm.
Mũ nấm:
Mũ nấm hình nón cũng có chứa melanin nhưng nhạt dần từ trung tâm ra rìa mép. Bên dưới mũ có nhiều phiến nấm xếp theo dạng tia kiểu vòng tròn đồng tâm. Mỗi phiến có thể sinh ra khoảng 2.500.000 bào tử. Mũ nấm có cấu tạo bởi hệ sợi đan chéo vào nhau rất giàu chất dinh dưỡng dự trữ, giữ vai trò sinh sản.

2. Đặc tính sinh học:
Nấm rơm có chu kỳ sống rất điển hình của các loại nấm tán (nấm đảm). Chu kỳ sống của nấm rơm bắt đầu từ sự nảy mầm của đảm bào tử.
Đảm bào tử có hình trứng, bên ngoài có lớp vỏ dày. Lúc còn non có màu trắng, sau chuyển dần sang màu nâu bóng. Khi chín cấu tạo thêm chất cetin màu hồng thịt, vì vậy khi nấm già, dưới mũ nấm các phiến nấm chuyển sang màu hồng thịt. Phía đầu của đảm bào tử có một lỗ nhỏ là nơi để ống mầm chui ra khi nảy nầm. Bên trong bào tử đảm có chứ nguyên sinh chất, nhân và một số giọt dầu.
Đảm bào tử nảy mầm tạo ra hệ sợi sơ cấp có tế bào chứa n nhiễm sắc thể. Các sợi sơ cấp tự kết hợp với nhau tạo thành các sợi thứ cấp với tế bào 2n nhiễm sắc thể.
Sợi nấm thứ cấp tăng trưởng, tích luỹ dinh dưỡng gặp điều kiện thuận lợi hình thành quả thể, nếu gặp điều kiện không thuận lợi, sợi thứ cấp có thể tạo thành bào tử gọi là bì bào tử (còn gọi là hậu bào tử, bào tử áo) thường thấy ở các túi giống nấm rơm có sợi nấm trưởng thành.

Quá trình từ hệ sợi nấm thứ cấp hình thành quả thể nấm rơm gồm 6 giai đoạn.
- Giai đoạn sợi nấm bện kết thành đầu đinh ghim.
- Giai đoạn hình nút nhỏ.
- Giai đoạn hình nút.
- Giai đoạn hình trứng.
- Giai đoạn hình chuông, hình trứng kéo dài.
- Giai đoạn trưởng thành.
Chu kỳ sinh trưởng và phát triển của nấm rơm rất nhanh. Từ lúc trồng đến khi thu hoạch chỉ sau 12-14 ngày. Những ngày đầu sau khi cấy giống 7-8 ngày sợi nấm hình thành hạt nhỏ như hạt tấm có màu trắng (giai đoạn đinh ghim) 2-3 ngày sau lớn rất nhanh bằng hạt ngô, quả táo, quả trứng (giai đoạn hình trứng) lúc trưởng thành (giai đoạn phát sinh bào tử) trông giống như một chiếc ô dù có cấu tạo thành các phần hoàn chỉnh.

Nấm rơm phát triển tốt nhất ở các điều kiện:
+ Nhiệt độ thích hợp từ 30-32 độ C.
+ Độ ẩm nguyên liệu: 70-75%.
+ Độ ẩm không khí: 80%.
+ pH cơ chất: 7-7,5.
Nấm rơm ưa thoáng khí và nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm không quá  10 độ C.

3. Kỹ thuật nuôi trồng nấm rơm:

3.1.  Nguyên liệu và cách xử lý nguyên liệu trồng nấm rơm

Nguyên liệu: Hầu hết các phế phụ liệu của nông, lâm nghiệp giàu chất cellulose đều có thể dùng làm nguyên liệu trồng nấm rơm. Ở nước ta hiện nay chủ yếu trồng nấm rơm trên rơm, bông phế liệu, bã mùn cưa đã trồng nấm mèo, lục bình,...

Xử lý nguyên liệu:

+ Rơm rạ, bông phế liệu, lục bình,… làm ướt với nước vôi, chất đống ủ (dưới đống ủ có kệ để tránh đọng nước). Sau 3-4 ngày đảo đống ủ và ủ tiếp 3-4 ngày. Nếu rơm rạ còn cứng cần kéo dài thời gian ủ.
+ Nếu nguyên liệu quá ướt (nước chảy thành dòng) cần banh rộng ra phơi, ủ lại 2-3 ngày rồi mới đem trồng.
+ Rơm rạ đủ ẩm, vắt rơm rạ có nước chảy thành nhiều giọt là đủ ẩm. Nếu khô quá cần bổ sung nước khi đảo đống ủ.

3.2 Xếp mô trồng nấm và cấy giống
Với cách trồng hiện nay có hai kiểu xếp mô: mô luống và mô khối.

Mô luống:

+ Rơm sau khi xử lý được xếp thành từng lớo, thường ba hoặc bốn lớp. Mỗi lớp cấy giống riêng. Giống rải đều thành 2 đường dài theo chiều dài mô, cách bìa mô 5-10cm.
+ Chiều cao luống khoảng 0,4m, bề ngang luống trung bình khoảng 0,4m.

Mô khối:
Khuôn trồng nấm rơm được làm bằng gỗ hoặc tôn có cấu tạo khối hình thang cụt, mặt trong phẳng có kích thước như sau:
+ Chiều rộng đáy dưới: 0,4m.
+ Chiều rộng dáy trên 0,3m.
+ Chiều dài đáy dưới: 1,2m.
+ Chiều dài đáy trên: 1,1m.
+ Chiều cao khuôn: 0,4m.
Có thể điều chỉnh chiều dài của khuôn nhưng không điều chỉnh chiều cao và chiều rộng của khuôn.

Cấy giống:

Trải một lớp rơm rạ dày khoảng 10-12cm, lấy giống nấm đã bẻ tơi hoặc giống trên rơm cấy một đường giống xung quanh cách mép khuôn 3-4cm, cho lớp rơm thứ hai vào khuôn và cấy giống tiếp đến khi cấy đủ 4 lớp giống, 5 lớp rơm, dùng một lớp rơm dày 3-4cm đậy lên trên cùng, ép nhẹ cho phẳng, nhấc khuôn ra.
Lượng giống cấy cho một mô rơm khoảng 200-250gram.
Trung bình một tấn rơm trồng được 70 mô nấm là vừa.

3.3 Chăm sóc mô đã cấy giống:


Chăm sóc nấm rơm trồng trong nhà:
Sau 3-5 ngày đầu không tưới nước, những ngày tiếp theo quan sát bề mặt mô nấm thấy rơm rạ khô cần phun nhẹ dạng sương mù trực tiếp xung quanh, chú ý phải tưới nước cẩn thận, nếu tưới mạnh sẽ làm tổn thương sợi nấm ảnh hưởng tới năng suất vì lúc này sợi nấm đã mọc ra phía ngoài thành mô. Đến ngày thứ 8-9 bắt đầu xuất hiện đinh ghim, lúc này nên tưới nước dạng phun sương 2-3 lần/ngày, nấm lớn rất nhanh.

Chăm sóc nấm rơm ngoài đồng:
Mô nấm rơm trồng ngoài trời phải làm lớp áo mô bằng rơm khô che phủ kín toàn bộ mô nấm, nhằm tránh mưa và không để ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào mô nấm làm khô sợi nấm. Lớp rơm rạ làm áo mô là rơm tốt, khô, phủ theo kiểu lợp mái nhà, xếp theo một chiều, dày 7-10cm.
Hàng ngày, tưới nước lên lớp rơm áo phủ ở bên ngoài để mô nấm không bị khô và đồng thời đảo mặt ngoài vào trong, trong ra ngoài.
Sau từ 12-14 ngày nấm lên và tiến hành thu hái.

3.4 Thu hái nấm rơm

Hái nấm rơm khi quả thể còn ở giai đoạn hình trứng (trước khi nứt bao, nở ô) là tốt nhất. Trường hợp nấm mọc tập trung thành từng cụm, tách những cây lớn hái trước nếu có thể.

Một ngày hái nấm từ 2-3 lần. Những ngày nắng nóng, nhiệt độ không khí cao nấm phát triển rất nhanh vì vậy người nuôi trồng nấm cần phải quan sát kỹ thấy tai nấm hơi nhọn đầu là thu hái ngay.

Kể từ khi cấy giống đến khi thu hái hết đợt 1 khoảng 15-17 ngày, nấm ra rộ vào ngày thứ 12-15. Khi thu hái hết đợt 1 cần nhặt sạch tất cả các “gốc nấm” và tai nấm nhỏ còn sót lại, ngừng tưới 3-4 ngày, sau đó tưới nhẹ để thu nấm đợt 2, hái trong 3-4 ngày thì kết thúc đợt nuôi trồng.

Dọn vệ sinh sạch sẽ: tưới nước vôi hoặc rắc 1 lớp vôi bột mỏng toàn bộ khu vực nuôi trồng khoảng 3-4 ngày sau có thể trồng đợt tiếp.

Sản lượng nấm thu hái tập trung 70-80% trong đợt 1, đợt 2: 15-20%, đợt 3: 5%.

Năng suất nấm dao động từ 12 -20% nấm tươi so với nguyên liệu khô (một tấn rơm rạ khô cho thu hoạch khoảng 120-200kg nấm tươi).

Năng suất nấm cao hay thấp còn phụ thuộc vào giống, kỹ thuật nuôi trồng, cách chăm sóc và nhất là khâu tưới nước và yếu tố khí hậu.

Kỹ Thuật Trồng Nấm Sò

Nấm sò có thể trồng quanh năm, nhưng mùa vụ thuận lợi nhất từ tháng 9 năm truớc tới tháng 3 năm sau.

1. Thời vụ

Nấm sò có thể trồng quanh năm, nhưng mùa vụ thuận lợi nhất từ tháng 9 năm truớc tới tháng 3 năm sau. Nhiệt độ thích hợp với nấm sò: đối với nhóm chịu lạnh 13 - 20°C; nhóm chịu nhiệt 24 - 28°C.

2. Xử lý nguyên liệu

* Nguyên liệu: Chủ yếu là rơm rạ, bông phế thải, mùn cưa,…lượng rơm rạ tối thiểu là 300 kg mới đủ nhiệt để ủ.

Xử lý nguyên liệu

- Làm ướt rơm rạ bằng nước vôi với tỷ lệ 4 kg vôi/1.000 lít nước. Ngâm rơm rạ trong nước vôi 15 - 20 phút rồi vớt ra để ráo nước. Ủ rơm bằng cách kê kệ ủ sao cho vuông vắn, có cọc ở giữa để thoát hơi, rải từng lớp rơm rạ lên kệ ủ rồi dẫm nhẹ, sau đó lấy nilon bọc xung quanh đống ủ để giữ nhiệt.

- Sau 3 ngày ủ rơm tiến hành đảo đống ủ, trong quá trình dỡ, cần kiểm tra độ ẩm đống ủ, nếu vắt nguyên liệu thấy nước chảy nhỏ giọt ướt vân tay là được. Nếu thấy khô, bổ sung nước trực tiếp vào rơm rạ, nếu ướt quá cần phơi rơm đến khi đảm bảo đủ độ rồi ủ lại như ban đầu.

- Ủ tiếp 3 ngày sau đó: Kiểm tra độ ẩm như lần 1, nếu đảm bảo yêu cầu thì đảo rơm rồi ủ lần 2. Sau 3 ngày dỡ đống ủ và băm rơm thành từng đoạn cỡ 10 – 15 cm rồi ủ lại. Hai ngày sau, kiểm tra lại đống ủ thấy rơm rạ đã chín đều và đủ độ ẩm thì tiến hành cấy giống. Nếu có điều kiện, hấp nguyên liệu trước rồi cấy giống trong phòng vô trùng sẽ hạn chế được tỷ lệ nhiễm bệnh ở nấm.

3. Cấy giống

* Chuẩn bị:

- Túi nilon kích thước 30 x 45 cm, bông nút, nút, chun. Túi nilon phải được gấp đáy.
- Giống cấy: có mùi thơm dễ chịu, không có mùi chua, không có các đốm kì lạ.

* Đóng bịch, cấy giống:


- Cho nguyên liệu vào túi đã chuẩn bị, dùng tay dầm nhẹ rồi điều chỉnh lớp nguyên liệu đó dày 5 - 7 cm, sau đó rắc một lớp giống nấm xung quanh thành túi. Làm 3 lớp như vậy, lớp trên cùng rắc đều trên bề mặt (trừ khoảng miệng nút bông), sau đó lấy một lượng bông bằng miệng chén uống nước nút bông rồi quấn dây chun chặt nút bông.

- Yêu cầu: Bịch đã cấy giống căng tròn, độ nén vừa phải, trọng lượng của bịch 2,4 - 2,7 kg. Sau khi cấy giống, bịch giống đưa vào nhà ươm thoáng mát, sạch sẽ.

- Tỷ lệ cấy giống: 16 - 20 bịch/kg giống.

4. Ươm giống và rạch bịch


Sau khi cấy giống 20 - 25 ngày, kiểm tra để rạch bịch. Thấy sợi nấm đã ăn xuống đáy bịch thì tiến hành rạch bịch. Rạch 6-8 đường dài 4 – 6 cm, các đường rạch đều và so le nhau.

5. Chăm sóc và thu hái

* Chăm sóc

Sau khi rạch bịch 4 – 6 ngày chưa cần tưới nước vào bịch. Khi thấy nấm mọc ra từ các vết rạch, tuỳ theo lượng nấm nhiều hay ít, độ ẩm không khí cao hay thấp để điều chỉnh lượng nước tưới phù hợp (tưới nước dạng phun sương), tưới 4 - 6 lần/ngày.

* Tác nhân gây bệnh hại nấm

- Các loại nấm mốc xanh, đen, vàng thường xuất hiện sau khi cấy giống 7 ngày. Nguyên nhân do nguyên liệu ủ chưa đủ nhiệt, vệ sinh khu vực cấy giống không tốt, thời tiết nóng bức, thiếu độ thông thoáng hoặc giống bị nhiễm bệnh từ trước.

- Nhiễm khuẩn: do vi khuẩn làm hỏng mũ nấm hoặc quá trình tưới nước vào các vết rạch, do vệ sinh kém sau thu hái.

* Thu hái nấm

Thu hái nấm khi bầu nấm bằng chén uống nước nhỏ, lưu ý phải hái hết phần gốc trên bịch nấm. Mỗi lứa thu hái 3 - 4 đợt. Sau mỗi đợt thu hái 3 - 4 ngày không tưới, khi thấy tại những vết rạch xuất hiện quả thể nấm mới tưới nước. Thời gian thu hái nấm khoảng 30 - 45 ngày kể từ ngày hái đầu tiên.

Kỹ Thuật Trồng Nấm Hương

Nấm hương là một trong những loại nấm hoại sinh thuộc nhóm nấm mọc trên gỗ, có tên khoa học là Lentinus edodes; thích hợp với khí hậu ôn đới.

1. Đặc tính sinh học của nấm hương

Nấm hương là một trong những loại nấm hoại sinh thuộc nhóm nấm mọc trên gỗ, có tên khoa học là Lentinus edodes; thích hợp với khí hậu ôn đới. Nhiệt độ để quả thể nấm hình thành và phát triển trung bình khoảng 15-16°C, nhiệt độ sợi nấm phát triển (pha sợi) khoảng 24-26°C.

Độ ẩm cơ chất: 65-70%
Độ ẩm không khí: ≥ 80%
Độ pH trung tính.
Ánh sáng không cần thiết trong giai đoạn sợi nấm phát triển. Giai đoạn hình thành quả thể cần ánh sáng khuếch tán.
Độ thông thoáng trung bình.

Dinh dưỡng: Sử dụng nguồn xenlulô trực tiếp khi nấm hương có màu hồng nhạt, quả thể hình thành hoàn chỉnh có các phần rõ rệt: cuống, màng bao, phiến, mũ nấm. Kích thước quả thể và bề mặt mũ nấm có hình dạng khác nhau tuỳ theo từng chủng loại nấm hương. Nấm hương là một trong những loại nấm được thu hái tự nhiên và nuôi trồng từ lâu đời. Nó có hương vị thơm, ngon, được nhiều người ưa chuộng. Hiện nay, Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên… là những nước trồng nhiều nấm hương nhất trên thế giới. Tổng sản lượng hàng năm đạt trên 1 triệu tấn/năm. Sản phẩm nấm được sử dụng chủ yếu ở dạng tươi và sấy khô.

2. Trồng nấm hương trên mùn cưa


a. Xử lý nguyên liệu:

- Chọn các loại mùn cưa không có tinh dầu, không bị mốc, không có các độc tố (dầu mỡ, hoá chất…). Làm ẩm đạt độ thủy phần 70%. Ủ đống có khối lượng từ 300kg/đống trở lên. Thời gian ủ kéo dài 4-6 ngày, đảo một lần mỗi lần cách nhau 2-3 ngày.

- Mùn cưa đã ủ xong trộn thêm 3% bột nhẹ (CaCO3) hoặc 1,5% vôi bột đóng vào túi nilông chịu nhiệt. Kích thước túi rộng 25cm, cao 40cm. Khối lượng 1,5kg/túi. Nút cổ túi bằng ống nhựa và bông, đưa túi mùn cưa vào nồi thanh trùng theo hai cách sau:

- Có thể hấp trong thùng phuy hoặc xây lò theo kết cấu: đáy dùng chảo gang, quấn tôn chung quanh, bảo ôn lớp tôn bằng bông thủy tinh, amiăng, xây gạch bọc ngoài. Nhiên liệu đốt dùng than hoặc củi. Xếp túi mùn cưa vào thùng hấp cách thủy ở nhiệt độ 100oC trong thời gian 10-12 giờ kể từ khi sôi.

- Hấp túi mùn cưa trong nồi Autoclave ở nhiệt độ 121oC, thời gian 90 phút.

b. Cấy giống nấm:

Túi mùn cưa đã được thanh trùng theo một trong hai cách trên, lấy ra để trong phòng sạch sẽ, đến khi nguội. Cấy giống nấm trong các tủ cấy vô trùng sang túi mùn cưa theo tỷ lệ 2,5-3% lượng giống so với nguyên liệu, (1 chai giống 400g cấy thành 20-25 túi mùa cưa).

Năng suất nấm trung bình khi hết một chu kỳ thu hái mỗi túi cho thu hoạch 600-800g nấm tươi. Nấm thu hoạch xong có thể tiêu thụ ở dạng tươi hoặc phơi sấy khô ở nhiệt độ 40-45oC. Giữ nấm khô trong túi nilon, buộc chặt. Trong nhân dân có thói quen treo trên gác bếp sẽ bảo quản nấm được lâu hơn.

3. Trồng nấm hương trên cây gỗ

a. Chọn gỗ:

Nấm hương trồng trên cây gỗNhìn chung các loại gỗ không có tinh dầu, cây còn tươi tốt, không sâu bệnh đều trồng nấm hương được. Nhóm gỗ thích hợp nhất để nấm hương sinh trưởng và phát triển cho năng suất cao, chất lượng tốt là gỗ sồi, dẻ, sau sau…Vào đầu mùa xuân hàng năm (tháng 4 dương lịch hoặc tháng 10 và tháng 11) tiến hành chặt gỗ. Lựa chọn những đoạn gỗ thẳng, cắt thành khúc có đường kính từ 5-20cm, chiều dài 1,0-1,2m. Không làm sây xát lớp vỏ. Để gỗ trong nhà thoáng mát, sạch sẽ, sau 5-9 ngày là trồng được.

b. Cấy giống và ươm:

- Các đoạn gỗ đạt tiêu chuẩn như trên đem rửa sạch, dùng nước vôi đặc quét hai đầu đoạn gỗ. Lấy búa chuyên dùng hoặc khoan tạo lỗ trên đoạn gỗ, đường kính lỗ 1,5cm, sâu 3-4cm, cứ cách 15-20cm tạo một lỗ; hàng nọ cách hàng kia 7-10cm; các lỗ so le nhau.

Tra giống nấm gần đầy miệng lỗ, lượng giống dùng 3kg/1m3, dùng phoi gỗ đã tạo ra làm nắp đậy (chiều dày bằng chiều dày của vỏ cây), lấp kín lớp giống cấy. Phía ngoài dùng ximăng hoà thành bột giống như vữa trát tường quét trên miệng nắp để bịt kín miệng lỗ.

- Xếp gỗ theo kiểu “cũi lợn” thành đống, cách mặt đất 15-20cm cao 1,5cm, chiều dài tuỳ theo khối lượng gỗ đem trồng. Phía trên cùng dùng bao tải gai dấp ướt để ráo nước phủ kín toàn bộ đống ủ.

- Hàng ngày chăm sóc đống ủ, chủ yếu là tưới nước. Lượng nước tưới chỉ đủ ướt lớp bao tải. Tuyệt đối không tưới nhiều, nước sẽ thấm sâu vào thân gỗ làm chết giống. Tốt nhất nên ươm kéo dài 6-16 tháng (tuỳ thuộc theo từng chủng loại gỗ). Cứ 2 tháng lại tiến hành đảo đống gỗ một lần. Khi đảo cần kiểm tra độ ẩm của gỗ. Nếu thấy gỗ quá khô cần dùng bình để phun nước nhẹ xung quanh thân gỗ, sau đó mới ủ đống lại.

Trong thời gian ươm cần phòng trừ một số loại sâu bệnh hại nấm: cá loại nấm mốc, côn trùng, chuột…Khi phát hiện các đoạn gỗ bị bệnh cần để cách ly khỏi đống ủ nhằm tránh lây lan sang các đoạn gỗ khác.

c. Chăm sóc, thu hái nấm:

Khi kết thúc giai đoạn ươm, nấm hương bắt đầu hình thành quả thể. Quan sát trên bề mặt thân gỗ có những chấm màu hồng nhạt, chúng lớn dần như hạt ngô và hình thành nên cây nấm hoàn chỉnh. Dựng đứng thân gỗ, xếp theo kiểu giá súng, hàng nọ cách hàng kia 50-60cm. Có thể xếp gỗ trong nhà có mái che, thoáng mát, độ ẩm không khí cao, ánh sáng khuếch tán rất ngắn (từ 3-6 tháng/năm), vì vậy năng suất thu hoạch sẽ thấp. Việc tính toán thời gian nuôi trồng để khi nấm ra gặp đúng thời tiết lạnh là rất cần thiết.

- Khi trồng trên thân cây gỗ, thời gian thu hoạch chỉ được 3-6 tháng/năm, nhiệt độ không khí cao trên 20°C cần xếp gọn gỗ lại rồi ươm như lúc ban đầu mới cấy giống đến đúng chu kỳ lạnh năm sau tiếp tục tưới nước và thu hái.

Thời gian bắt đầu trồng (cấy giống) nấm hương từ tháng 10 đến tháng 4 dương lịch là tốt nhất (trồng trên cây gỗ) (nếu trồng trên mùn cưa từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau).
Theo KT trồng trọt & chăn nuôi tỉnh Ninh Thuận

Kỹ Thuật Trồng Nấm Rơm

Nấm rơm là loại nấm khá quen thuộc với nhân dân ta. Nấm thường mọc trên nguyên liệu phổ biến là rơm nên có tên chung là nấm rơm (Straw mushrooom), tên khoa học là Volvariella volvacea.

Nấm rơm là loại dễ trồng, mau thu hoạch, cho kinh tế cao.  Cứ mỗi tấn rơm ra trồng nấm nói chung trừ chi phí trong thời gian 15 – 20 ngày có thể lãi từ 500.000 – 700.000 đồng. Bã sau khi trồng nấm chế biến thành phân sinh học cao cấp. Ngoài ra, bã nấm còn dùng để nuôi trùn đất, lấy trùn nuôi gia cầm, gia súc và tôm, cá.

1. THỜI VỤ TRỒNG:

Nấm rơm có thể trồng được quanh năm, tuy nhiên tùy theo điều kiện thời tiết mà chúng ta áp dụng các biện pháp khác nhau để khắc phục tình trạng bất lợi.

Nếu tháng giáp Tết, có gió lạnh thì phải che kỹ, giữ ấm và làm mô to hơn. Nếu vào mùa mưa phải làm mái che cho mô nấm hoặc ủ rơm dầy hơn, làm nền mô cao hơn để tránh ngập úng.

Ở những nơi có gió mạnh, phải làm rào chắn gió, đồng thời bố trí mô nấm thẳng góc với hướng gió.

2. CHUẨN BỊ ĐỊA ĐIỂM:

Có thể chất rơm ở nhiều nơi như: đất ruộng, trong vườn cây, chung quanh nhà,…có thể trên nền đất, gạch, xi măng trên kệ. Ngay cả trong nhà, trong bọc nylon.

Chọn địa điểm sao cho bằng phẳng, cao ráo không bị ngập úng, sạch sẽ và nhất là gần đường vận chuyển rơm rạ, gần nước tưới để tiện việc chăm sóc, thu hoạch và chuyên chở.

Chuẩn bị đất trước khi trồng: nếu đất trũng và nhất là vào mùa mưa, ta nên xẻ rãnh đê có những liếp rộng 60 – 80cm, cao khoảng 10cm, dốc về hai má, ném chặt mặt liếp, mục đích sao cho thoát nước khi tưới, không bị ngập úng khi tưới.

3. VẬT LIỆU DÙNG CHẤT NẤM:

Người ta có thể dùng nhiều vật liệu khác nhau để trồng nấm rơm như: rơm rạ, bã mía, thân và lá chuối, lục bình, bông gòn. Nhưng thường ta hay dùng rơm rạ. Chất nấm bằng rơm, lúa mùa hoặc thần nông, lúa tẻ hoặc lúa nếp đều dùng được cả. Có thể dùng rơm mới suốt còn tươi hoặc rơm rạ đã khô, miễn đừng mục nát (đã biến thành màu nâu đen) sẽ cho năng suất không cao.

* Phương pháp ủ rơm:

Phương pháp được áp dụng với tất cả các loại rơm rạ có thể dùng rơm tươi hoặc rơm khô.

Rơm được chất thành đống rộng khoảng 1,5 – 2m, dài ít nhất 1,5m. Chất một lớp rơm bề cao khoảng 2 – 3 tấc (bổ sung dinh dưỡng 0,5 – 1% urê, 1% vôi) tưới nước cho thật ướt và dùng chân dậm cho dẽ. Chất lớp thứ hai dầy khoảng 3 tấc, tưới nước và dậm dẽ như trên. Tiếp tục lớp thứ 3, thứ 4 – cuối cùng đống ủ có chiều cao khoảng 1,5m. Mục đích tưới từng lớp để cho nước thấm đều trong rơm.

Vài ngày sau khi ủ, nhiệt độ trong đống ủ lên cao 60°C – 70°C, làm cho nấm dại chết đi và phân hủy một phần chất hữu cơ để làm cho tơ nấm rơm dễ hấp thụ chất dinh dưỡng. Sau 3 - 4 ngày đảo một lần, đảo rơm rạ từ dưới lên trên, trên xuống dưới, ngoài vào trong, trong ra ngoài cho đều. Khi đống ủ xẹp xuống (sau 10 – 12  ngày) ta có thể kéo rơm ra chất mô.

4. XẾP MÔ NẤM:

Cách xếp rơm ủ: dỡ bỏ lớp rơm mặt ngoài đồng ủ, mang rơm bên trong để xếp mô nấm và cố gắng xếp hết trong ngày.

Cách chất mô nấm: rãi vôi xử lý nền trước khi xếp mô, lấy rơm cuộn tròn như cái gối và dựng đứng ép thành luống chiều cao khoảng 20cm, rộng 30 - 40cm rãi một đường meo ở giữa dọc theo mô. Tiếp tục rãi rơm chất lớp thứ hai. Riêng lớp thứ hai cao khoảng 15cm, tưới nước, đè dẽ dặt rồi rãi lớp meo thứ hai. (có thể chất 2 – 3 lớp rơm, tùy theo mùa: mùa nóng chất thấp, mùa lạnh chất cao. Cứ mỗi lớp rơm dầy 15 – 20cm thì rãi một lớp meo). Ở trên cùng phủ một lớp rơm mỏng khoảng 5cm tưới nước đè dẽ dặt, vuốt mặt ngoài mô cho láng và dùng tay nhét từng cọng rơm rơi vãi bên ngoài xuống đáy mô (nếu mặt ngoài mô không láng và không dẽ dặt, sau này khi thu hoạch sẽ làm hư các nụ nấm nhỏ, năng suất thấp).

Hàng ngày theo dõi tưới nước và 4 -5 ngày sau dùng rơm khô rãi tơi khắp toàn bộ mặt ngoài của mô, tạo thành áo mô dầy 10 - 15cm (mùa lạnh, mùa mưa, chất xong phủ rơm ngay và phủ rơm dày hơn mùa nắng).

5. CHỌN GIỐNG MEO:

Việc chọn giống meo rất quan trọng. Vì meo tốt, đúng tuổi, không nhiễm tạp khuẩn sẽ cho năng suất nấm cao và chất lượng nấm tốt.

Meo tốt có những sợi tơ nấm (khuẩn ti) màu trắng trong, mùi tương tự như nấm rơm, tơ nấm phát triển đều và kín bịch meo.

Nếu bịch meo có những đốm màu xanh, đen, vàng cam là đã nhiễm nấm dại, không nên sử dụng. Không chọn bịch meo có đáy bịch ướt, nhão và có mùi hôi chua.

Một bịch meo giống (khoảng 120g) có thể cấp được 2 – 2,5m mô (tính theo chiều dài mô).

6. CHĂM SÓC VÀ THU HOẠCH:

* Chăm sóc:

Chăm sóc nấm rơm trong thời gian ủ tơ quan trọng nhất là theo dõi ẩm độ và nhiệt độ. Trong đó ẩm độ là yếu tố hàng đầu, vì ẩm độ sẽ tạo nên nhiệt độ thích hợp cho tơ nấm. Nếu ẩm độ dư thì mô sẽ lạnh và ẩm độ thiếu nhiệt độ của mô tăng làm cho tơ chậm phát triển.

Theo dõi độ ẩm trong mô bằng cách dùng tay rút một mớ rơm ở giữa mô, nắm chặt trong lòng bàn tay, nước hơi rịn ra ở kẽ tay là vừa, nếu nước không rịn ra là khô, ta phải tưới thêm nước. Tưới bên ngoài áo mô, ở cả phía trên mô và hai bên hông mô. Nếu nắm chặt thấy nước chảy ra thành giọt là dư nước thì ngưng tưới ngày đó và dỡ áo mô ra cho nước bốc đi.

Điều chỉnh ẩm độ của mô bằng cách tưới nước. Tưới nước phải dùng thùng tưới vòi búp sen có tia nhỏ, vì giọt nước mạnh dễ làm hư những tơ nấm và nụ nấm nhỏ.

Theo dõi nhiệt độ có thể sử dụng nhiệt kế đúc sâu vào lớp rơm thứ hai và ngập khoảng 2/3 nhiệt kế. Sau 3 – 5 phút lấy ra xem. Nếu nhiệt độ của mô khoảng 33°C – 37°C là đạt.

Điều kiện nuôi trồng nấm rơm có thể tóm tắt như sau:
 Yếu tố Nuôi ủ tơ nấm Ra quả thể
  Khoảng biến thiên Tối thích Khoảng biến thiên Tối thích
 Nhiệt độ 15°C– 40°C 35°C± 2°C 20°C– 25°C 32°C± 2°C
 Ẩm độ 60 – 70% 70 ± 2% 80 – 90% 80 ± 2%
 pH 6 – 7 6,5 6 – 7 6,5
Sau khi chất mô nấm, từ ngày thứ 6 – 8, mỗi ngày đảo lớp rơm áo một lần để tránh tơ nấm ăn lan ra lớp rơm áo, không tạo được nấm.

Cách đảo rơm áo: dỡ lớp rơm áo ra, xốc cho tơi và đậy lại.

Từ 9 – 10 ngày sau khi chất các nụ nấm màu trắng bằng đầu đinh ghim xuất hiện hai bên hông mô, ngày sau nụ nấm chuyển sang màu nâu và bắt đầu lớn nhanh. Tuỳ theo từng thời tiết, trung bình khoảng 10 – 15 ngày sau khi cấy meo là có thể hái nấm được.

* Thu hái nấm:

Khi hái lựa các nấm búp hơi nhọn đầu (gần nứt bao) hái trước, xoay nhẹ tay tách gỡ ra khỏi mô, không nên để sót lại chân nấm bị đứt trên mô, vì phần này khi thối rữa sẽ làm hư các nụ nấm kế bên, thu hoạch xong đậy kỹ áo mô lại.

Thời gian thu hoạch kéo dài khoảng 7 – 12 ngày. Trung bình cứ 1m (tính theo chiều dài mô nấm) hái được 1 – 2,5 kg nấm tươi (tùy theo chất lượng rơm, meo giống, chiều cao mô chất). Thường nông dân có tập quán hái sớm từ rạng sáng & vào buổi chiều (mỗi ngày thu hai lần).

Sau khi thu hái đợt 1, ta ngưng tưới 01 ngày, sau đó chăm sóc tiếp tục như lúc đầu.

Người trồng có thể bón thêm urê hoặc các chất dinh dưỡng. Urê tưới bổ sung cho nấm vào thời điểm nấm bắt đầu kết nụ (ở đợt 1 & 2), nồng độ sử dụng trong khoảng 1 – 3%o nên tưới vào lúc nấm đã ở dạng đinh ghim hoặc nút và thường phun tưới vào sáng sớm là tốt nhất.

Về năng suất lý thuyết: cao nhất là 15% (số kg nấm tươi trên 100kg rơm khô). Tuy nhiên, thực tế nuôi trồng đại trà năng suất trung bình còn thấp hơn nhiều, dao động trong khoảng 5 – 10%. Ngoài ra, năng suất còn tuỳ theo chất lượng rơm, meo giống, chiều cao mô chất, ....).

Kỹ Thuật Trồng Nấm Bào Ngư Nhật

Dinh dưỡng nấm bào ngư Nhật rất cao không kém hơn dinh dưỡng các sản phẩm từ động vật.

1) Giới thiệu chung

Kỹ thuật trồng nấm bào ngư nhật - Pleurotus EryngiiNấm bào ngư Nhật hay còn gọi là nấm bào ngư chân dày (cùi dày), nấm đùi gà, là một loại nấm ăn có mùi thơm của quả hạnh, vị ngọt và giòn của bào ngư, đặc biệt khi chế biến món ăn từ nấm bào ngư Nhật cùng với thịt hoặc thủy hải sản thì càng tuyệt vời hơn. Dinh dưỡng nấm bào ngư Nhật rất cao không kém hơn dinh dưỡng các sản phẩm từ động vật.

Kết quả phân tích cho thấy nấm bào ngư Nhật hàm lượng protein chiếm khoảng 25%, đặc biệt có chứa hơn 18 loại axit amin, ngoài ra còn có carbohy drate, nhiều vitamin và các khoáng chất khác.

Sử dụng nấm không những không tăng cân mà còn ngăn ngừa một số bệnh như: giảm cholesterol trong máu, tiểu đường, béo phì, đau bao tử, rối loạn gan, ung thư,v.v.., đồng thời người ăn nấm thường xuyên sẽ giúp cơ thể tăng tính miễn dịch, điều hòa huyết áp, dễ tiêu hóa và chống lão hóa.

Nấm bào ngư Nhật có thể bảo quản ở nhiệt độ 10-12°C kéo dài 3-5 ngày mà chất lượng thay đổi không đáng kể.

2) Đặc tính sinh học

Đặc điểm hình thái:

Quả thể khá to, đường kính trung bình từ 2-4cm trơn bóng, màu từ xám đến trắng xám. Thịt nấm màu trắng, dày. Cuống mọc xiên, màu trắng hay gần trắng, dài từ 2-6 cm.

Điều kiện sống:

Nấm bào ngư Nhật thích hợp phát triển ở một biên độ nhiệt độ khá rộng: khi ra quả thể ở 25-30°C, thích hợp ẩm độ cao và ưa thoáng.

Độ ẩm cơ chất từ 65-68%, độ ẩm không khí lúc nuôi sợi 65-70%, độ ẩm không khí lúc ra quả thể là 85-95%.

pH: Môi trường nuôi trồng thích hợp cho nấm bào ngư Nhật từ 5-7, giai đoạn ươm tơ môi trường axit yếu nhưng khi ra quả thể pH từ 6-6,5.

Ánh sáng: Giai đoạn ra quả thể cần ánh sáng khuếch tán hơn khi nuôi sợi.

Nguyên liệu và thời vụ nuôi trồng:

Hầu hết tất cả các loại nguyên liệu chậm phân hủy: gồm mạt cưa, xơ dừa, bã mía… đều sử dụng được để trồng nấm. Tuy nhiên, cũng cần phải lựa chọn nguồn nguyên liệu dồi dào sẵn có và đặc biệt sẵn có dinh dưỡng có lợi cho nấm (như mùn cưa, bã mía).

Nấm bào ngư Nhật có biên độ rất rộng về nhiệt độ và ẩm độ vì vậy đối với thời tiết ở miền Nam nước ta sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa không cao nên đều trồng được, nhưng thời vụ thích hợp nhất là vào mùa mưa, vì lúc này độ ẩm không khí tương đối cao sẽ tiết kiệm được công tưới.

3) Xử lý nguyên liệu, phối trộn nguyên liệu, đóng túi, khử trùng

Chuẩn bị nguyên liệu:

Nguyên liệu trước khi đưa vào trồng nấm phải qua bước lựa chọn và xử lý:

Đối với nguyên liệu mùn cưa nên chọn mùn cưa cây gỗ mềm, không có chứa tinh dầu, tốt nhất nên dùng mùn cưa cây cao su, bồ đề.

Nguyên liệu bổ sung: cám bắp, cám gạo, bột nhẹ (CaCO3) (riêng cám bắp, cám gạo phải là loại mới, không có mùi hôi).

Nước vôi: 1-2% (10 lít nước 100-200 gr vôi bột).

Chú ý : Nước đưa vào xử lý phải là nước sạch

a) Xử lý nguyên liệu:

Nguyên liệu mùn cưa, bã mía trước khi ủ phải phơi khô, nếu chưa sử dụng phải bảo quản trong kho.

- Đối với mùn cưa: mùn cưa phải phơi khô trước khi đưa vào bảo quản, càng để lâu càng tốt cho trồng nấm. Vì khi nguyên liệu ẩm thường có nhiều dinh dưỡng thích hợp với nấm mốc làm nhiễm bịch phôi. Mùn cưa mới, tế bào chưa chết hoàn toàn, có thể còn tồn tại các chất kháng nấm, tơ nấm khó phân hủy (thủy phân chậm) năng suất thấp, mất nhiều thời gian nấm mới mọc. Khi mùn cưa để lâu, tế bào của cây đã chết, sợi nấm mọc dễ dàng hơn. Sau khi lựa chọn, mùn cưa được đưa vào ủ theo công thức sau:

Mùn cưa khô: 100kg

Nước vôi pha loãng (pH:13): 20-30 lít

Sau khi làm ẩm, cho mùn cưa vào đống, quấn nilon xung quanh, giữa đống mùn cưa có cọc thông khí.

Thời gian ủ từ 6-7ngày, giữa chu kỳ có đảo đống ủ. Nhiệt độ đống ủ 70-75°C

Đối với bã mía: sử dụng những loại bã mía không quá ướt, nên phơi khô nguyên liệu từ 12-24 giờ trước khi ủ. Công thức ủ bã mía cũng giống như ủ mùn cưa, nhưng thời gian ủ bã mía là 12-14 ngày. Tuy lượng nước và thời gian ủ cả hai loại nguyên liệu như trên, nhưng cũng còn tùy thuộc vào nguyên liệu ban đầu khô hay ướt mà ta tự điều chỉnh cho thích hợp.

b) Phối trộn nguyên liệu

Sau khi nguyên liệu được xử lý (thời gian nhanh chậm tùy thuộc vào từng loại cơ chất khác nhau) nên phối trộn nguyên liệu với nhiều thành phần dinh dưỡng khác.

Phối trộn nguyên liệu: Nguyên liệu trộn đều, làm ẩm, trộn nhiều lần cho nước ngấm đều trong nguyên liệu. Ẩm độ của nguyên liệu khoảng 65-70%, nghĩa là nếu nấm nguyên liệu (sau khi làm ẩm) trong tay bóp lại thì nguyên liệu sẽ kết khối nhưng nước không nhỏ giọt ra là được.

Công thức phối trộn:

100 kg nguyên liệu đã tạo ẩm

2% cám bắp

2% cám gạo

1% bột nhẹ

Cách trộn nguyên liệu: nguyên liệu sau khi ủ được trộn với các phụ gia theo tỷ lệ như trên, sau đó đảo đều và kiểm tra độ ẩm lần nữa trước khi đưa vào đóng túi.

c) Đóng túi nguyên liệu:

Túi pp dày khoảng 0,5mm và có kích thước 19 x 36 cm, cổ nút, thun, bông, nắp đậy.

- Cách đóng túi:

Dùng túi pp, cho nguyên liệu đã làm ẩm vào, nện chặt vừa phải. Nên đóng túi đồng loạt cho đến hết nguyên liệu, không để thừa nguyên liệu qua đêm. Nếu không đóng hết thì phải đưa phần nguyên liệu thừa vào đống ủ để ủ tiếp. Mỗi túi thường chứa khoảng 1,1-1,2kg nguyên liệu. Dùng giấy bìa cứng khoanh tròn làm cổ bịch tra vào làm cổ. Sau đó, dùng 1 cây dài tròn vót nhọn đầu, xoi 1 lỗ ở giữa xuống tận đáy bịch. Sau đó, dùng bông gòn không thấm làm nút bông, dùng giấy bao bên ngoài nút bông hoặc có nắp chụp.

- Khử trùng:

Sau khi đóng túi, đưa đi khử trùng trong các nồi hấp. Phương pháp đơn giản nhất là hấp cách thủy trong thùng phuy. Thời gian từ 10-12 giờ, nhiệt độ trong túi nguyên liệu đạt từ 95°C-100°C.

Lò khử trùng: Có kích thước lớn nhỏ tùy thuộc vào số lượng nguyên liệu và điều kiện vật chất.

Túi hấp xong phải có mùi thơm, không bị chua do lên men, nút bông chặt và không ướt. Sau đó chuyển bịch vào phòng cấy đã thanh trùng. Để nguội 24-36 giờ rồi tiến hành cấy giống.

4) Cấy giống và nuôi sợi túi phôi

- Cấy giống

Cấy giống que: Sau khi túi phôi đưa vào phòng cấy, dùng pince kẹp cây meo giống cho vào túi.

Cấy bằng hạt: Phôi đã được làm nguội đưa vào phòng cấy, dùng que sắt khều nhẹ giống từ túi nilon hoặc từ lọ thủy tinh sang túi phôi lắc đều lên trên bề mặt túi. Lượng giống cấy cứ một lọ hoặc một túi giống cấy 200g được 25-30 túi phôi.

Chú ý : Chọn giống cấy phải đúng tuổi, lúc bào tử (màu đen) mới xuất hiện khoảng 1/2 lọ hay túi, không nên chọn meo quá già hoặc quá non.

Sau khi cấy giống phải đưa vào nhà nuôi sợi.

- Nuôi sợi: Phòng nuôi sợi có nhiệt độ thích hợp từ 25-28°C, độ ẩm không khí 65-70%. Nhà kín gió nhưng thoáng. Từ 25-30 ngày tơ nấm sẽ ăn kín túi. Khi sợi nấm đã trắng túi cần tăng độ thông thoáng và ánh sáng nhằm mục đích thay đổi môi trường để kích thích tơ nấm kết hợp với nhau nhanh hơn, chuẩn bị hình thành quả thể.

5) Chăm sóc và thu hái nấm

- Chăm sóc: Sau khi tơ nấm ăn kín túi, tháo bỏ bông mục đích là giúp nấm ra trên cổ và tạo được kích thước cũng như hình dạng của tai nấm đồng đều hơn. Khi nấm ra, ở giai đoạn này rất dễ ảnh hưởng do các điều kiện ngoại cảnh. Vì vậy, nhà trồng phải đáp ứng các điều kiện như sau: giữ ẩm tốt ở 85-95%, nhiệt độ là 25-30°C, thoáng, kín gió và sạch sẽ.

Chú ý : Phải vệ sinh nhà thật sạch (dùng vôi bột hoặc nước vôi đã pha loãng rắc tưới đều nền nhà trồng) trước khi đưa túi vào.

Sau khi tháo bông 7 ngày đầu không tưới, nhưng sau 7 ngày (kể từ lúc tháo bông) thì nấm xuất hiện quả thể trên cổ túi. Khi đó, nấm rất cần nước, vì vậy vừa phun sương trước miệng cổ túi phôi vừa tạo ẩm môi trường xung quanh (2-3 lần trong ngày). Từ lúc ra đinh ghim đến lúc thu hái là 4 ngày (khi mũ nấm từ màu xám sang trắng xám, đường kính mũ nấm gấp đôi chân nấm).

- Thu hái nấm: Thu hoạch nấm phải đúng tuổi không nên non hoặc già quá.

Cách thu hái nấm: Dùng tay nắm lấy phần cuống nấm kéo nhẹ và lấy hết cả chân nấm. Khi hái xong đợt 1 phải quan sát và thu hết những chân nấm còn sót lại bên trong cổ túi phôi. Sau đó, tiếp tục chăm sóc như lúc ban đầu và cứ như vậy lặp lại từ 3-4 lần là kết thúc quá trình thu hái. Tổng thời gian thu hái nấâm từ 65-75 ngày, mỗi túi thu hái được 3-4 đợt và mỗi đợt cách nhau 20-25 ngày. Sau khi thu hoạch hết nấm, túi phôi được ủ làm phân bón.

Hiện nay, Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Dịch vụ Khoa học Công nghệ Tiền Giang đã phân lập và nghiên cứu thành công quy trình trồng nấm bào ngư Nhật năng suất đạt 43-45% so với nguyên liệu đưa vào nuôi trồng. Hướng tới Trung tâm sẽ có những nghiên cứu sâu hơn về giống cũng như kỹ thuật nuôi trồng nhằm nâng cao năng suất cũng như phẩm chất của loại nấm này.

Kỹ Thuật Trồng Nấm Linh Chi

Thời vụ trồng nấm Linh Chi bắt đầu cấy giống từ ngày 15/1 đến 15/3 và từ 15/8 đến 15/9 dương lịch.

I. Nguyên liệu:

Linh Chi sử dụng nguyên liệu chủ yếu là mùn cưa tươi, khô của các loại gỗ mềm, không có tinh dầu và độc tố. Ngoài ra còn có thể trồng Linh Chi từ nguyên liệu là thân gỗ, các cây thuốc họ thân thảo.

II. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NGUYÊN LIỆU

+ Chuẩn bị:

- Mùn cưa của các loại gỗ kể trên.- Túi nilon chịu nhiệt.- Bông nút, cổ nút…- Các phụ gia khác (bột nhẹ,…)
- Nước sạch (nước sinh hoạt ăn, uống hàng ngày).
Phương pháp đóng túi: Mùn cưa được tạo ẩm và ủ tương tự như phần xử lý mùn cưa trồng mộc nhĩ.Sau đó phối trộn thêm với các phụ gia đóng vào túi theo kích thước trên sao cho khối lượng túi đạt 1,1-1,4kg rồi đưa vào thanh trùng.

+ Phương pháp thanh trùng:

   Phương pháp 1: Hấp cách thuỷ ở nhiệt độ 100°C, thời gian kéo dài 10-12 giờ.
   Phương pháp 2: Thanh trùng bằng nồi áp suất (Autoclave) ở nhiệt độ 119-126°C (áp suất đạt 1,2-1,5at) trong thời gian 90-120 phút.

III. PHƯƠNG PHÁP CÂY GIỐNG:

+ Chuẩn bị:

- Phòng cấy: Phòng cấy giống phải sạch (được thanh trùng định kỳ bằng bột lưu huỳnh).
- Dụng cụ cấy giống: que cấy, panh kẹp, đèn cồn, bàn cấy, cồn sát trùng…- Nguyên liệu: Đã được thanh trùng, để nguội.
- Giống: Sử dụng hai loại giống chủ yếu là trên hạt và trên que gỗ.Giống phải đúng tuổi, không bị nhiễm nấm mốc, vi khuẩn, nấm dại…

+ Cấy giống:

   Phương pháp 1: Cấy giống trên que gỗ. Với phương pháp này cần tạo lỗ ở túi nguyên liệu có đường kính 1,8-2cm và sâu 15-17cm. Khi cấy giống phải đặt túi nguyên liệu gần đèn cồn và túi giống, sau đó gắp từng que ở túi giống cấy vào túi nguyên liệu.

   Phương pháp 2: Sử dụng giống Linh Chi cấy trên hạt. Ta dùng qua cấy kều nhẹ giống cho đều trên bề mặt túi nguyên liệu tránh giập nát giống. Lượng giống: 10-15gam giống cho 1 túi nguyên liệu (1 túi giống 300 gam cấy đủ cho 25-30 túi nguyên liệu).

   Chú ý: Giống cấy phải đảm bản đúng độ tuổi.Trước khi cấy giống ta phải dùng cồn lau miệng chai giống bóc tách lớp màng trên bề mặt nhưng không được để hạt giống bị nát.Trong quá trình cấy, chai giống luôn phải để nằm ngang.Sau khi cấy giống ta đậy lại nút bông, vận chuyển túi vào khu vực ươm. Phải thường xuyên vệ sinh sạch sẽ phòng cấy giống.

IV. PHƯƠNG PHÁP ƯƠM TÚI

Chuẩn bị khu vực ươm:

Nhà ươm túi đảm bảo các yêu cầu: Sạch sẽ, thông thoáng, độ ẩm từ 75% đến 85%, ánh sáng yếu, nhiệt độ 20-30°C.

Ươm túi: Chuyển nhẹ nhàng vào nhà ươm và đặt trên các giàn giá hoặc xếp thành luống. Khoảng cách giữa các túi 2-3cm. Giữa các giàn luống có lối đi để kiểm tra.Trong thời gian ươm không được tưới nước, hạn chế tối đa việc vận chuyển.Trong quá trình sợi nấm phát triển nếu thấy có túi bị nhiễm cần phải loại bỏ ngay khỏi khu vực ươm, đồng thời tìm nguyên nhân để có cách khắc phục:Túi bị nhiễm bề mặt phần lớn do thao tác cấy và phòng giống bị ô nhiễm.Túi bị nhiễm từng phần hoặc toàn bộ có thể do bị thủng hoặc hấp vô trùng chưa đạt yêu cầu.

V. PHƯƠNG PHÁP CHĂM SÓC, THU HÁI:

Chuẩn bị các điều kiện:

- Nhà trồng nấm phải đảm bảo sạch sẽ thông thoáng, có mái chống mưa dột và chủ động được các điều kiện sinh thái như sau:
- Nhiệt độ thích hợp cho nấm mọc dao động từ 22°C đến 28°C.- Độ ẩm không khí đạt 80-90%.- Ánh sáng khuếch tán (mức độ đọc sách được) và chiếu đều từ mọi phía.
- Kín gió.
- Trong nhà có hệ thống giàn giá để tăng diện tích sử dụng.Trong quá trình chăm sóc, thu hái linh chi có 2 phương pháp sau:

Phương pháp không phủ đất
Rạch túi và tưới nước. Kể từ ngày cấy giống đến khi rạch túi (khoảng 25-30 ngày) sợi nấm đã ăn kín ¾ túi. Tiến hành rạch 2 vết rạch sâu vào trong túi 0,2-0,5cm, đối xứng trên bề mặt túi nấm. Đặt túi nấm trên giàn cách nhau 2-3cm để nấm ra không chạm vào nhau. Từ 7 đến 10 ngày đầu chủ yếu tiến hành tưới nước trên nền nhà, đảm bảo độ ẩm 80-90%, thông thoáng vừa phải.Khi quả thể nấm bắt đầu mọc từ các vết rạch hoặc qua nút bông thì ngoài việc tạo ẩm không khí, có thể tưới phun sương nhẹ vào túi nấm mỗi ngày từ 1-3 lần (tuỳ theo điều kiện thời tiết). Chế độ chăm sóc như trên được duy trì liên tục cho đến khi viền trắng trên vành mũ quả thể không còn nữa là hái được.

Thu hái:

- Dùng dao hoặc kéo sắc cắt chân nấm sát bề mặt túi.- Quả thể nấm sau khi thu hái được vệ sinh sạch sẽ, phơi khô hoặc sấy ở nhiệt độ 40°C-45°C.- Độ ẩm của nấm khô dưới 13%, tỷ lệ khoảng 3kg tươi được 1 kg khô.
- Khi thu hái hết đợt 1, tiến hành chăm sóc như lúc ban đầu để tận thu đợt 2.- Năng suất thu hoạch đạt 6-9% tươi, tương đương 1,8-3% khô (1 tấn nguyên liệu thu được từ 18 đến 30kg nấm Linh Chi khô). Khi kết thúc đợt nuôi trồng cần phải vệ sinh và thanh trùng nhà xưởng bằng foócmôn với nông độ 0,5-1%.

VI. PHƯƠNG PHÁP PHỦ ĐẤT:

Chuẩn bị đất phủ (tương tự như đất phủ nấm mỡ).Cách phủ đất: Khi sợi nấm đã ăn kín khoảng ¾ túi, gỡ bỏ nút bông, mở miệng túi, phủ lên trên bề mặt một lớp đất có chiều dày 2-3cm.Chăm sóc sau khi phủ đất: Nếu đất phủ khô cần phải tưới rất cẩn thận (tưới phun sương) để đất ẩm trở lại. Tuyệt đối không tưới nhiều, nước thấm xuống nền cơ chất sẽ gây nhiễm bệnh, ảnh hưởng đến quá trình hình thành quả thể nấm. Trong thời gian 7-10 ngày đầu (kể từ lúc phủ đất) cần duy trì độ ẩm không khí trong nhà đạt 80-90% bằng cách tưới nước thường xuyên trên nền nhà. Khi quả thể bắt đầu hình thành và nhô lên trên mặt lớp đất phủ cần duy trì độ ẩm liên tục như trên cho đến thời điểm thu hái được. Thời gian từ khi nấm lên đến lúc thu hoạch kéo dài khoảng 65-70 ngày.Khi đó ngoài việc duy trì độ ẩm trong phòng thì ta còn phải tưới phun sương nhẹ trực tiếp trên bề mặt đất phủ 1-3 lần trong ngày (tuỳ theo điều kiện thời tiết) mục đích để giúp đất phủ luôn duy trì độ ẩm (tương tự độ ẩm của đất trồng rau). Việc chăm sóc như trên kéo dài liên tục cho tới khi viền màu trắng trên mũ nấm không còn nữa, lúc đó nấm đến tuổi thu hái.

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014

Cây lựu giống

Đặc tính: Giống lựu hay còn gọi là Thạch lựu không là loài thực vật thân gỗ nhỏ, cây lựu không chỉ làm cây cảnh đẹp mà còn là loại cây cho quả ăn ngon bổ mát vào cuối hè đầu thu.
Cây lựu giống thuộc loại lựu quả với chất lượng cây giống khỏe và sớm ra quả
Chiều cao: Cây cao khoảng 40-60cm
Thu hoạch: Sau 24 tháng
Nguồn cây: Trung tâm cây giống Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội
Giá: Giá bán lẻ 15.000đ / 1 cây
- Luôn có khả năng cung cấp với số lượng lớn.
- Giá chưa bao gồm tiền vận chuyển.
- Giá cả hợp lý khi lấy số lượng lớn. Xin gọi điện thoại số: 04.668 07 969 - 0986 266 563 hoặc email caygiongdhnn1@gmail.com website: http://Caygiong.Org để nhận được giá tốt nhất!

Có Nên Ăn Trái Cây Thay Bữa Ăn?

Cuộc tranh luận về ăn trái cây dường như không bao giờ dứt, chúng tôi xin cung cấp một vài gợi ý về ăn trái cây được đăng trên News CN.

Có nên ăn trái cây thay bữa ăn hàng ngày1. Trái cây rất giàu vitamin và khoáng chất, kali và natri, là thực phẩm tốt thích hợp cho con người hiện đại. Tuy nhiên, trái cây chứa nhiều đường, ăn quá nhiều là không tốt. Người lớn tiêu thụ hằng ngày 200-400 gram trái cây phổ biến như táo, lê, cam, chuối v.v…, ăn 1-2 quả mỗi loại trong ngày.

2. Ăn trái cây trước bữa ăn, hay sau bữa ăn là tốt? Nhìn chung, ăn trái cây trước bữa ăn giúp giảm lượng thức ăn trong bữa ăn, kiểm soát cân nặng, nhưng nếu dạ dày người tương đối yếu, bụng trống ăn trái cây có thể gây khó chịu. Còn ăn trái cây sau bữa ăn có thể gây ra năng lượng dư thừa, cản trở sự hấp thu các khoáng chất và chất dinh dưỡng khác, làm tăng gánh nặng cho dạ dày, ruột. Do đó, cách an toàn nhất là ăn trái cây sau bữa ăn một giờ

3. Ăn được trái cây thì không nên uống nước ép trái cây. Vì nước ép trái cây đã lọc bỏ hết các bã, mà những cặn bã này lại giàu chất dinh dưỡng, và có nhiều cái tốt như chất xơ, để tăng cường cảm giác no, giảm sự hấp thụ cholesterol. Ngoài ra, trong quá trình ép nước trái cây, các tế bào trái cây bị phá vỡ, bao gồm cả vitamin C và chất chống oxy hóa cũng có thể thiệt hại với một mức độ nhất định. Do đó, trái cây có nhiều dinh dưỡng hơn nước ép trái cây. Trái cây tươi ép xong nên uống ngay.

4. Trái cây không thể thay rau quả. Nói chung giá trị dinh dưỡng của trái cây không sánh được bằng với rau quả. Ngoài táo tàu, kiwi, cam, dâu tây, táo gai và một ít loại trái cây khác, hầu hết các trái cây đều chứa ít vitamin. Ví như carotene trong rau quả có nhiều hơn trong các loại trái cây, ngoài xoài, cam quýt và mơ. Canxi, sắt và các yếu tố vi lượng khác trong trái cây không thể so sánh với trong rau xanh. Ngoài ra, hàm lượng đường trong rau nói chung là thấp, ít calo, ăn nhiều cũng không làm ảnh hưởng đến lượng calo hấp thụ. Nhưng ăn quá nhiều trái cây, có quá nhiều quan ngại về lượng đường.

5. Nên ăn thay đổi các loại trái cây. Không nên cho rằng “trái cây này là vua của các loại trái cây”, “trái cây nọ là nữ hoàng của các loại trái cây”. Trên thực tế, các loại trái cây như nhau, mỗi loại có giá trị dinh dưỡng khác nhau. Nên ăn nhiều loại trái cây, nhiều loại màu sắc, ăn ghép các loại trái cây. Không nên mê tín dị đoan chỉ có loại trái cây đó mới có chất dinh dưỡng cao, mà ăn hoài một hai loại trái cây đó.

6. Không nên ăn trái cây để thay bữa ăn. Mặc dù trái cây giàu đường, vitamin, khoáng chất và chất xơ…, nhưng còn thiếu chất béo, protein và các vitamin tan trong chất béo. Chỉ ăn trái cây để thay bữa ăn thì còn rất xa mới đạt các tiêu chuẩn dinh dưỡng và chế độ ăn uống.

7. Chỉ ăn trái cây để giảm béo là không khoa học. Ăn trái cây không thể giảm béo. Như đã đề cập ở trên: dinh dưỡng trong trái cây không cân đối; nhiệt lượng trong nhiều loại trái cây tuy không phải là thấp, nhưng chỉ dựa vào ăn trái cây để giảm béo không chỉ rất khó thành công, mà nếu có thành công đi nữa thì sẽ làm cho mặt mày ảm đạm, thể chất suy giảm.

8. Những người có bệnh tiểu đường trong tình trạng ổn định lượng đường trong máu có thể ăn các loại trái cây như bưởi, cam, dâu tây, anh đào, v.v…nhưng với số lượng hạn chế.