Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Tư, 18 tháng 4, 2018

Kỹ thuật gieo ươm và gây trồng cây nhàu

Kỹ thuật gieo ươm và gây trồng cây nhàu

Hạt giống cây nhàu có sức nảy mầm yếu nên sơ chế xong cần khẩn trương xử lý và gieo ươm ngay, không nên bảo quản lâu.


I. Kỹ thuật gieo ươm cây Nhàu

1. Chọn cây mẹ lấy giống

a) Lấy hạt giống: Cây đã qua tuyển chọn, độ tuổi trung niên, cây đã ra quả, hình thái thân và tán lá đẹp, cân đối, sinh trưởng trên mức trung bình, sai quả, hạt tốt. Không lấy giống trên những cây già, cây sinh trưởng yếu kém, cong queo, sâu bệnh, bị chèn ép, lệch tán, cụt ngọn. Ví dụ: Thảo quả, Nhàu,…

b) Lấy hom giống: Cây đã được tuyển chọn, trẻ hóa, tác động để tạo nhiều chồi/cành làm vật liệu giâm hom. Các loài thiếu hạt giống, cây dễ giâm hom.

2. Thu hái giống

Thu hạt giống: khi quả hạt có dấu hiệu chín hình thái hay chính sinh lý (vỏ, quả/hạt đổi màu sắc, hạt chắc cứng, phôi và mầm hạt phát triển đầy đủ…), một số quả/hạt bắt đầu phát tán (khoảng 10 – 15 %).

Thu hom giống:

+ Hom cành: nên chọn những cành bánh tẻ, chưa hóa gỗ hoàn toàn; mỗi hom giâm có ít nhất 2 chồi nách lá. Lấy hom vào thời tiết râm mát, bảo quản trong môi trường ẩm, thời gian bảo quản càng ngắn càng tốt, tối đa không nên quá 24h.

+ Hom thân: nên chọn những thân không quá non, không quá già, hình thái đẹp, không cụt ngọn, lá phát triển bình thường.

+ Hom rễ, hom củ: Chọn những củ không bị sâu bệnh, không tổn thương cơ giới, có khả năng cho ra mầm…

3. Sơ chế hạt giống

- Quả khô: Đánh đống ủ 2-3 ngày cho chín đều. Phơi dưới nắng nhẹ 2-3 ngày, thu lấy hạt tách ra ở 2-3 nắng đầu. Hạt có dầu không phơi dưới nắng to trên nền xi măng, hạt có cánh nhỏ làm sạch trước khi phơi.

- Quả thịt: Đánh đống ủ 2-3 ngày cho chín đều. Sau khi ủ có thể ngâm nước một vài ngày sau đó chà xát, đãi lấy hạt tốt rồi hong phơi cho khô ráo.

- Quả hạch: Đánh đống ủ 5-7 ngày hoặc lâu hơn cho chín đều. Om trong nước nóng khoảng 60 – 65° (3 sôi + 2 lạnh) trong thời gian 30-40 phút rồi dùng dao tách đôi phần thịt quả ra khỏi hạt khá dễ dàng.

4. Bảo quản hạt giống

- Bảo quản khô thông thường (khô mát): cho hạt vào túi nilong, chum, vại, bình, lọ. Rải một lớp tro, vôi bột lên trên, gắn kín. Đặt nơi khô ráo, thoáng mát. Thời gian bảo quản thường dưới 1 năm.

- Bảo quản khô-lạnh: Cho hạt vào túi nilong, dán kín. Đặt trong kho lạnh hay tủ lạnh. Duy trì nhiệt độ từ 0-5°C.

- Bảo quản ấm - lạnh: Cho hạt vào thùng sắt, gỗ, bao tải, túi nilong. Đặt trong kho lạnh hoặc tủ lạnh và duy trì nhiệt độ từ 5 – 10°C. Tạo điều kiện thông thoáng nhưng tránh làm khô hạt hay giảm hàm lượng nước trong hạt.

- Bảo quản ẩm tạm thời (ẩm - mát): Trộn hạt với cát ẩm theo tỷ lệ 1 hạt/2-3 cát tính theo thể tích. Đánh thành luống cao 15-20cm rồi phủ lên trên một lớp cát ẩm. Để nơi ẩm mát, thông thoáng, xáo trộn định kỳ, loại bỏ những hạt mốc, thối. Khi cát khô sàng riêng hạt, làm ẩm cát rồi lại trồn đều, đánh lống bảo quản tiếp. Độ ẩm cát thích hợp là 20 – 25% (cát nắm không rịn nước, tự rã từ từ sau khi buông tay). Thời gian bảo quản không quá 4 tháng, thông thường trên dưới 1 tháng.

- Không nên bảo quản:
Hạt giống mất sức nảy mầm, sơ chế xong cần khẩn trương xử lý và gieo ươm ngay, không nên bảo quản lâu.

5. Xử lý hạt giống

- Chỉ cần ngâm nước lã: Hạt võ rất mỏng, dễ thấm nước, chỉ ngâm nước thường 20 – 25°C trong 1-2 giờ hoặc lâu hơn rồi đem ủ.

- Ngâm nước ấm 35 – 40°C (2 sôi + 3 lạnh) trong 6-8 giờ: Cho các loại hạt có dầu, vỏ mỏng rồi đem ủ.

- Ngâm nước nóng già 70 - 80°C (3 sôi + 2 lạnh) trong đó 4-5 giờ: cho các loại hạt lớn, vỏ dày, cứng rồi đem ủ.

- Ngâm nước sôi (95 - 100°C) trong 0,5-1 phút, sau đó ngâm vào nước ấm trong 8-10 giờ cho trương nở rồi đem ủ.

- Xử lý đặc biệt: Chặn một phần, khía hay mài hạt đối với hạt dạng hạch, vỏ cứng, có lớp áo keo khó thấm nước; đốt qua lửa; dùng axit rồi mang ngâm nước ấm hay nóng và đem ủ.

- Khử trùng hạt giống: Ngâm hạt trong dung dịch thuốc tím 0,1 % trong 1-3 giờ, rửa lại hạt bằng nước sạch rồi đem xử lý nhiệt độ như trên. Có thể dùng Benlat, Formon, hay PCNB… nhưng phải theo chỉ dẫn.

6. Gieo hạt

- Gieo tạo cây mầm để cấy: Gieo hạt đã xử lý lên luống cát (hay luống đất + phân hoai) để tạo cây mầm đủ tiêu chuẩn rồi đem cấy vào bầu hay luống đất ( tạo cây rễ trần). Thường áp dụng cho các loài cây có hạt nhỏ, hạt giống khan hiếm, đắt.

- Gieo thẳng vào bầu: Đem hạt đã nứt nanh gieo vào bầu ở các luống ươm, số lượng từ 1-3 hạt/bầu tùy theo đặc điểm và tình trạng hạt giống. Áp dụng cho loại hạt lớn, nảy mầm nhanh, nứt nanh đồng loạt.

- Đặc biệt: Có thể gieo thẳng hạt đã xử lý vào hố trống mà không qua khâu gieo ươm.

- Chăm sóc luống gieo:

Che tủ: Tủ mặt luống bằng rơm rạ đã khử trùng.

Bảo vệ: Chống kiến, chuột, gia cầm hại hạt và mầm.

Tưới nước giữ ẩm thường xuyên.

Làm cỏ phá váng, tỉa dặm cây và phòng trừ sâu bệnh theo định kỳ

7. Tạo cây con

- Cây con có bầu kích thước lớn ( Đường kính 10 -12 cm, cao 15- 20cm): Áp dụng cho cây con trên /dưới 2 năm tuổi.

- Cây con có bầu kích thước trung bình (Đường kính 8- 10 cm, cao 12-15 cm): Áp dụng cho cây con trên 1 năm tuổi sinh trưởng chậm hay dưới 1 năm tuổi sinh trưởng nhanh.

- Cây con có bầu kích thước nhỏ ( Đường kính 4-5 cm cao, 6-8 cm): Nhưng thường chỉ dùng cho Keo, Bạch Đàn.

- Có thể tạo cây rễ trần để trồng: Cây trồng dễ sống, sinh trưởng nhanh, có thể trồng bằng thân cụt (Stump).

- Có thể trồng bằng hom thân/cành cắm trực tiếp vào hố: Loài cây rất dễ ra rễ từ hom thân và cành.

8. Hỗn hợp ruột bầu (vỏ bằng túi Polyetylen)

- Đối với cây mọc nhanh: 94% đất tầng mặt +5% phân chuồng hoai + 1% supe lân. (Có thể gia tăng thêm 5% phân chuồng hoai và giảm bớt lượng đất tương ứng).

- Đối với cây mọc chậm: 89% đất tầng mặt + 10% phân chuồng hoai + 1% supe lân. (Có thể tăng thêm 5% phân chuồng hoai và 1% lân và giảm bớt lượng đất tương ứng).

9. Cấy cây vào bầu

- Bứng cây mầm: Khi cây đủ tiêu chuẩn ( Dựa vào kích thước và số là, tùy theo loài) và đã chuẩn bị xong bầu cần bứng từng cây để cấy. Tưới đẫm nước luống gieo, dùng bay nhỏ để bứng từng cây hay cụm cây, rũ nhẹ đất cát và đem ngâm rễ trong khay nước cho ngập phần rễ mầm. Bứng cây vừa đủ để cấy hết trong buổi, không để cây mầm sang buổi sau.

- Kỹ thuật cấy: Dùng que nhọn tạo một lỗ giữa bầu đủ sâu và rộng theo kích thước của bộ rễ. Đặt phần rễ cây ngay ngắn vào giữa lỗ sao cho cổ rễ hơi thấp hơi miệng hố rồi nhấc nhẹ lên cho rễ khỏi bị quằn. Một tay vẫn giữ cây, tay kia dùng que cắm sâu vào bên ngoài hố rồi bẩy nhẹ vào trong để ép đất vào rễ và gốc cây. Có thể dùng thêm các đầu ngón tay để ấn nhẹ đất quanh gốc và xóa lấp vết hố mới tạo ra.
Chú ý: chọn thời tiết cấy râm mát và tạo độ ẩm cao cho bầu trước khi cấy. Cần che bóng và tưới nước đủ ẩm thường xuyên sau khi cấy.

10. Kỹ thuật chăm sóc

- Che nắng: Ngay sau khi cấy xong, dùng vật liệu che tủ đã được chuẩn bị để che cho cây, tạo bóng râm che chắn được khoảng 70-75% ánh nắng cho tới khi cây phục hồi. Sau đó tùy loài cây và giai đoạn phát triển, thay dần tấm che có độ che bóng giảm xuống; thường là giảm xuống 50% rồi 30% và dỡ giàn che, mở sáng hoàn toàn để huấn luyện cây 1-2 tháng trước khi đi trồng.

Đối với những cây ưa sáng ngay từ khi nhỏ (Thông Ngựa, Trám, Sưa, Xoan…) có thể dùng ràng ràng (tế, guột/vọt) để cắm trực tiếp lên luống thay thế cho giàn che.

Để chắn mưa có thể làm giàn che mài nghiêng nhằm kết hợp phủ vải nhựa khi cần thiết. Ngoài ra cần chú ý cả việc che chắn gió hại cho cây con trong mùa mưa bão hoặc gió Tây Nam khô nóng.

Tưới nước:

* Lượng nước và số lần tưới: Một tháng đầu sau khi cấy, tưới mỗi ngày 1 lần, lượng nước tưới 2-3 lít/m2. Từ tháng thứ 2 sau khi cấy nước khi xuất vườn 1-2 tháng, tưới 1-2 ngày/ lần, 4-5 lít/m2. Thời tiết khô nóng nên tăng thêm số lần và lượng nước tưới.

* Cách tưới: Luống nền mềm tưới phun bằng thùng nước có hoa sen hay thiết bị tưới phun mưa. Luống nền cứng hay bề ươm cây tưới thấm bằng cách dẫn hay đổ hoặc tháo nước ngập 1/3 thành bầu, sau 8 giờ tháo hết nước thừa còn lại.

- Làm cỏ xới đất: Tùy theo tình hình cỏ dại và đất đai mà từ 10-15 ngày hoặc 20-30 ngày (thường là từ 2-3 tuần) làm cỏ 1 lần, kết hợp xới đất phá váng bề mặt và cấy dặm những cây bị chết. Dùng tay nhỏ cả gốc cỏ lúc còn non rễ chưa phát triển và dùng bay hay que nhọn xới nhẹ đất mặt kết hợp xén đào hết gốc cỏ già, thân ngầm cỏ, nhặt sạch đưa ra khỏi luống. Kết hợp nhổ bỏ những cây bị sâu, bệnh để đốt, tỉa bớt và tận dụng cây ở chỗ dày dặm vào chỗ thưa hay không có cây.

- Bón phân:

Bón thúc vào lúc cây có biểu hiện thiếu dinh dưỡng: Áp dụng cho cây gieo ươm trên luống, trong bầu đặt nền mềm và nền cứng cho cả đất luống hay ruột bầu đã được bón đủ từ đầu.

Loại phân thường dùng là N, P, K hoặc NPK hỗn hợp.

Phương pháp bón thúc bằng cách hòa phân trong nước để tưới hoặc phun.

Liều lượng thường dùng: 0,5kg phân NPK hòa trong 370 lít nước, tưới 2-3 lít cho 1m2 mặt luống.

Cách bón: Dùng thùng có hoa sen tưới vào lúc râm mát; Sau khi tưới phân, rửa lá bằng cách tưới lại 2 lít nước lã cho 1m2 mặt luống; thường bón 2 -3 lần, cách nhau ít nhất là 1 tuần.

- Đào bầu và xen rễ:

* Đối với cây con có bầu: Kết hợp đồng thời giữa đảo bầu và xen rễ nhằm phân loại cây theo các nhóm sinh trưởng và chất lượng, điều tiết cự ly cây, kết hợp vệ sinh luống ươm và kích thích cây ra thêm nhiều rễ con, hạn chế rễ cọc phát triển, đồng thời hãm cây ở giai đoạn cuối.

* Đối với cây rễ trần: Thời gian xén rễ thích hợp khi cây được 2-3 tháng tuổi; cây 1 năm tuổi cần xén ít nhất 2 lần và lần cuối cùng là trước khi xuất vườn 1 tháng.

- Hãm cây: Ngừng tưới nước hoặc giảm dần số lượng và lượng nước tưới cho cây trước khi xuất vườn 1 tháng. Ngừng tưới hay chỉ tưới phân P, K, không tưới phân N trong 1 tháng cuối. Ngừng che nắng hoặc dỡ bớt giàn che 1-2 tháng trước khi đem trồng.

11. Tiêu chuẩn cây con xuất vườn.

Cây con xuất vườn cần đạt các tiêu chuẩn sau:

(1)- Tuổi cây được nuôi dưỡng ở vườn đúng quy định theo từng loài cây và mục đích trồng;
(2)- Kích cỡ chiều cao, đường kính cổ rễ cân đối theo đúng quy định;
(3)- Sinh lực tốt, phát triển cân đối, khỏe mạnh, không sâu bệnh và cụt ngọn, nhất là đối với cây lá kim, cây nảy chồi kém. Cây xuất vườn không ở giai đoạn thay lá và đang ra lá non;
(4)- Bộ rễ không bị tổn thương, phát triển nhiều rễ phụ, không bị xây xát, ngập nát, long rễ, vỡ bầu, khô ngọn.

II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc


1. Chọn lập địa trồng

Kiểu 1: Có thực vật thân gỗ che phủ, đất còn tính chất đất rừng, tầng đất sâu ẩm. Loài cây có thể trồng: Thích hợp với hầu hết các loại cây dược liệu, đặc biệt là các loại cây có khả năng chịu bóng tuổi nhỏ.

Kiểu 2: Có cây bụi, gỗ nhỏ che phủ, đất còn mang tính chất đất rừng, tầng đất trung bình, hơi khô. Loài cây thích hợp: Những cây thuốc nam có thân bò, cần phải có cây khác để bám.

Kiểu 3: Đất có cây bụi thấp, hoặc đất trảng cỏ, tầng đất dày trung bình, hơi khô, nghèo mùn. Đây là hiện trường trồng cây dược liệu trên diện rộng, có thể phát triển mô hình vườn hộ, vườn gia đình.

2. Chọn phương thức trồng

Tùy yêu cầu và tình hình cụ thể để lựa chọn một trong các phương thức: Thuần loại, hỗn giao, nông lâm kết hợp (NLKH), trồng dưới tán, hay trồng dưới tán rừng tự nhiên, dưới tán rừng trồng.

3. Chọn mật độ trồng

- Mật độ thấp: Dưới 1.000 cây/ha; Đây là một độ trồng chủ yếu của cây dược liệu quý hiếm, nguồn giống khó khăn và cho thu hoạch lâu năm (Nhàu,…).

- Mật độ trung bình: 1.000 – 2.500 cây/ha; Áp dụng cho cây dược liệu thân, lá (Chóc máu,…).

- Mật độ cao: Trên 2.500 cây/ha (thậm chí trên 5.000 cây/ha như loài Củ Dòm, Sa nhân); Áp dụng cho cây dược liệu lấy củ, rễ, thường mọc thành cụm, khóm.

4. Xử lý thực bì và làm đất

- Xử lý thực bì và đào hố cục bộ:
Áp dụng cho hầu hết các trường hợp trồng cây dược liệu. Hố đào kích thước 30x30x30cm (bầu trung bình) hay 40x40x40cm (bầu lớn).

- Xử lý thực bì toàn diện và cây đất: Chỉ áp dụng cho một số trường hợp trồng cây dược liệu trên quy mô nhỏ như vườn hộ. vườn gia đình.

5. Bón lót

- Bón đầy đủ: Phân chuồng hoai (hoặc Phân hữu cơ sinh học), NPK; nên áp dụng cho tất cả các loài cây khi điều kiện cho phép. Lượng phân bón thông thường: 2-5kg phân chuồng hoai (hoặc 0,5kg phân hữu cơ sinh học) + 30-50g NPK (hoặc 15g Supe lân).

6. Thời vụ trồng

- Miền Bắc: Có thể trồng 2 vụ chính - vụ Xuân tháng 2-4, vụ Thu tháng 7-9.

- Miền Trung: Vụ Thu Đông (tháng 9 đến tháng 12); vùng núi và nơi có lập địa thích hợp có thể trồng thêm vụ Xuân (từ tháng 1-3).

- Miền Nam: Trồng vào đầu mùa mưa (tháng 6 đến tháng 10).

7. Kỹ thuật trồng cây

- Trồng cây con có bầu:
Trộn đều phân và đất trong hố; đặt bầu cây ở vị trí trung tâm sao cho mặt trên bầu ngang bằng tay hơi cao hơn so với mặt đất mép hố: Rạch và xé bỏ vỏ bầu. Đặt cây thật ngay ngắn rồi dùng tay gạt và lén đất chặt ít nhất là ½ phần dưới bầu, dùng cuốc cào vun đất và dùng chân dẫm đất xung quanh gần sát với thành bầu, tiếp tục sửa thế cây và vun đất cao hơn mặt bầu độ 2-3cm. Nếu có điều kiện có thể tưới nước ngay sau khi trồng, nếu thời tiết khô hạn hay nắng nóng đột xuất trong thời vụ trồng cần tiếp tục tưới nước thời gian đầu cho tới khi thời tiết thuận lợi.

- Trồng cây con rễ trần: Chọn thời tiết trồng cây phù hợp (râm mát, mưa nhỏ, đất đủ ẩm) mới đem cây ra trồng. Cắt bỏ bớt lá và cành bên và rễ cọc nếu dài. Trộn đất và phân trong hố, moi một lỗ phù hợp với kích thước của bộ rễ và có phần sâu hơn. Đặt cây ngay ngắn vào lỗ, một tay giữ cây, tay kia gạt đất và lèn nhẹ cho đến khi đất lấp đầy miệng hố, dùng tay kéo nhẹ cây lên một chút cho rễ duỗi thẳng và cổ rễ hơi thấp hơn mép hố, đồng thời dùng chân dẫm chặt đất sát xung quanh gốc cây, vun đất vừa đủ so với mặt đất. Dùng rơm ra, cỏ khô hay lá cây che phủ quanh gốc cây rồi tưới đẫm cho cây vừa trồng. Có thể cắm thêm rào bảo vệ và chống gió lay.

8. Chăm sóc cây trồng

- Năm thứ 1: Chăm sóc 2-3 lần. Nội dung chăm sóc: Trồng dặm lại những cây bị chết, phát dọn thực bì cạnh tranh, làm cỏ, xới đất quanh gốc 40-45cm, vun gốc, sửa thế cây, bón thúc, phòng chống gia súc và sâu bệnh gây hại.

- Năm thứ 2: Chăm sóc 3-4 lần. Nội dung chăm sóc: Phát dọn thực bì, làm cỏ, xăm xới đất quanh gốc 50-70cm, vun gốc, sửa thế cây, tạo tán, bón thúc, diệt trừ sâu hại.

- Năm thứ 3: Chăm sóc 3- 4 lần. Nội dung chăm sóc: Phát dọn thực bì cạnh tranh, làm cỏ, xới đất quanh gốc 70-100cm, vun gốc, diệt trừ sâu hại.

- Các năm tiếp theo: Tiếp tục chăm sóc, nhất là sau khi thu hoạch.

9. Bảo vệ cây trồng

- Phòng chống gia súc: Cần quản lý việc chăn thả ở giai đoạn cây còn non.

- Phòng chống sâu bệnh: Cây dược liệu trong tự nhiên rất ít khi bị dịch sâu bệnh gây hại. Một số loài cây khi trồng có thể xuất hiện dịch bệnh, do vậy cần có biện pháp điều tra phát hiện và tổ chức phòng trừ theo khả năng cho phép.

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2018

Cây nhàu trị phong thấp, nhức mỏi

Cây nhàu trị phong thấp, nhức mỏi

Đông y cho rằng, rễ nhàu có tác dụng nhuận trường, lợi niệu, làm êm dịu thần kinh, hạ huyết áp.


Cũng như nhiều loại cây cỏ khác, tùy theo địa phương mà nhàu cũng có nhiều tên gọi khác nhau như nhàu núi, nhàu rừng, nhàu lớn…, tên khoa học Morinda citrifolia L, thuộc họ cà phê (Rubiaceae).

Cây nhàu mọc hoang ở những nơi ẩm thấp như ở góc vườn, bờ rào, bờ ao, dọc theo sông suối hay trồng làm thuốc ở những vùng nhiệt đới châu Á hoặc châu Đại dương, thường thấy nhiều tại các nước như Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam.

Bộ phận thu hoạch để làm thuốc là lá, vỏ cây, rễ và quả nhàu. Trong đó rễ nhàu là được sử dụng nhiều hơn cả. Rễ nhàu được rửa sạch, thái lát mỏng và phơi hay sấy khô để làm thuốc; các bộ phận khác của cây được dùng tươi là chủ yếu. Dược liệu được thu hoạch quanh năm nhưng lá nhàu sử dụng tốt nhất vào mùa xuân, còn quả vào mùa hạ.

Đông y cho rằng, rễ nhàu có tác dụng nhuận trường, lợi niệu, làm êm dịu thần kinh, hạ huyết áp, nên thường sử dụng rễ nhàu để trị cao huyết áp, nhức mỏi tay chân do phong thấp, đau lưng.

Quả nhàu có công năng nhuận trường, lợi tiểu, kích thích tiêu hóa, trừ thấp nhiệt, điều kinh. Do vậy thường sử dụng quả nhàu để trợ tiêu hóa, chống táo bón, điều hòa kinh nguyệt, chữa bạch đới, băng huyết, hỗ trợ trị chứng tiểu đường, cao huyết áp…

Liều lượng: Với quả nhàu tươi dùng ngoài không kể liều. Nếu dùng quả khô hoặc chế phẩm trà túi lọc pha như trà uống bình thường.

Còn với người bình thường khỏe mạnh, trẻ tuổi mỗi ngày chỉ cần uống 30ml. Đối với người cao tuổi uống 60ml/ngày vào các buổi sáng và chiều…Để tham khảo và áp dụng trị liệu một số chứng bệnh từ cây nhàu, dưới đây xin chỉ giới thiệu những phương tiêu biểu.

* Trị chứng stress, trầm cảm (kể cả chấn thương): Lấy quả nhàu ép lấy nước cốt uống. Uống vào lúc đói, từng ngụm nhỏ giữ trong lưỡi và cuống họng.

* Dưỡng tóc, da đầu: Dùng nước ép của quả nhàu thoa lên da đầu.

* Chữa nấm da, bầm tím (kể cả vùng da xương bị đau): Lấy quả nhàu tươi chà lên da bị nấm hay bầm tím nhiều lần trong ngày. Riêng để giảm đau vùng da xương có thể ngâm một lượng quả nhàu tươi giã nhuyễn cùng nước ép quả nhàu và chút nước ấm vào bông gạc tạo thành miếng đắp lên vùng da xương đau nhức, ngày thay 1 lần.

* Dùng cho huyết áp cao (kể cả đau lưng, nhức mỏi chân tay): Rễ nhàu 20 – 40g sắc lấy nước uống hoặc nấu thành cao lỏng tỉ lệ 1: 3; cũng có thể sao vàng rồi ngâm rượu uống ngày 2 lần, mỗi lần 1 chén chừng 30ml.

* Trị phong thấp, nhức mỏi:
Làm món quả nhàu ngâm với đường. Quả nhàu 1kg, đường trắng 300g, cho quả nhàu đã rửa sạch vào lọ thủy tinh, ủ thật chín rồi trộn đều với đường đậy nắp kín để trong 3 tuần (21 ngày), mang ra tán nhuyễn lọc lấy nước cốt, bảo quản cẩn thận (cho tủ lạnh nếu có) dùng dần. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 thìa canh (30ml), vào trước bữa ăn cơm hằng ngày.

Hay quả nhàu non hoặc rễ nhàu 600g, thái lát mỏng phơi hoặc sấy khô, cho vào 1 lít rượu cao độ (40 – 45 độ) sau 3 tuần là dùng được. Ngày uống 1 – 2 lần trước bữa ăn, mỗi lần uống khoảng 30 – 50ml.

* Kích thích tiêu hóa, co sản phụ: Lấy vỏ cây nhàu 8 – 12g, sắc uống ngày 1 thang.

* Làm êm dịu thần kinh, hạ sốt (dùng cho cả chảy máu cam): Lá nhàu tươi 20 – 30g, sắc lấy nước uống ngày 2 lần. Hoặc nấu canh ăn cũng hiệu nghiệm.

Công dụng chữa bệnh từ trái chùm ruột

Công dụng chữa bệnh từ trái chùm ruột

Mặc dù không được nhiều người chú ý bởi không hấp dẫn vị giác, nhưng trái chùm ruột là trái cây có thể khống chế rất tốt một số bệnh thông thường như bệnh gan, phổi…


Theo các chuyên gia y tế, quả chùm ruột chứa 0,73 – 0,90% protide, 0,6 – 0,76% lipide, 5,89 – 7,29% glucide, lượng vitamin C đạt tới 40mg % và nhiều dưỡng chất khác có tác dụng rất tốt trong việc lọc máu, kích thích sự thèm ăn, trị viêm phế quản, rối loạn tiêu hóa, viêm tiết niệu và tiêu chảy.

Không chỉ vậy, một số kết quả nghiên cứu gần đây đã chứng minh hiệu quả trị bệnh của chùm ruột như sau:

1. Trị bệnh gan

Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of Chinese Integrative Medicine (Trung Quốc) cho biết, chất chống ôxy hóa dồi dào trong quả chùm ruột có tác động tích cực đến quá trình điều trị bệnh gan.

2. Trị xơ nang phổi


Một công bố khác được xuất bản trong tạp chí Molecular Pharmacology (Mỹ) cho thấy, tinh chất từ nước ép chùm ruột cũng hỗ trợ đắc lực trong việc điều trị bệnh xơ nang phổi.

3. Điều trị chứng huyết áp cao

Không chỉ thế, một bài báo đăng trên tạp chí European Journal of Pharmacology (châu Âu) khẳng định, chiết xuất từ lá chùm ruột cũng có tác dụng hạ huyết áp rất mạnh.

4. Chống viêm, giảm đau

Trong khi đó, kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Asian Pacific Journal of Tropical Biomedicine (châu Á) chỉ ra rằng, chiết xuất từ lá chùm ruột còn có khả năng chống viêm, giảm đau và chống ôxy hóa mạnh mẽ.

5. Trị tiêu chảy

Ngoài ra, theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature and Science cho rằng, các dưỡng chất trong lá chùm ruột cũng có thể ức chế và tiêu diệt vi khuẩn E.coli (gây tiêu chảy) và khuẩn tụ cầu rất tốt.

6. Đẹp da

Trái chùm ruột chứa nhiều vitamin C và chất chống oxy hóa mạnh nên rất tốt cho làn da. Da bạn sẽ tươi sáng, mịn màng hơn khi uống 1 ly nước ép chùm ruột mỗi ngày.

Bạn có thể dùng chùm ruột dưới dạng nguyên trái, ngâm nước đường, ép lấy nước, làm mứt, giã nát lá chùm ruột uống. Với những công dụng đặc biệt này, bạn nên “kết” món ăn vặt giá rẻ lại rất bổ dưỡng, có lợi cho sức khỏe này.

Lưu ý: Tuy trái và lá chùm ruột rất tốt cho sức khỏe, còn vỏ và rể lại chứa nhiều độc tố, gây hại cho sức khỏe.

Ca cao có thể giúp cải thiện chứng suy giảm trí nhớ

Ca cao có thể giúp cải thiện chứng suy giảm trí nhớ

Các chuyên gia tại Trung tâm Y khoa Đại học Columbia - Mỹ mới đây cho biết, thành phần có hoạt tính sinh học flavanol trong trái ca cao có thể giúp cải thiện đáng kể chứng suy giảm trí nhớ do tuổi tác.

Trong nghiên cứu được công bố trên tạp chí Khoa học thần kinh tự nhiên, các chuyên gia chia 37 tình nguyện viên khỏe mạnh độ tuổi 50-69 thành hai nhóm, một nhóm dùng thức uống chứa flavanol hàm lượng cao 900mg/ngày, nhóm còn lại dùng flavanol hàm lượng thấp, chỉ 10mg/ngày.

Các chuyên gia cũng chụp ảnh não, đo lưu lượng máu tại bộ phận chính của vùng chân hải mã gọi là vùng nếp nhăn hình răng cưa, khu vực phụ trách hình thành ký ức và thường sa sút theo tuổi tác.

Sau khi đối chiếu kết quả kiểm tra trí nhớ trước và sau cuộc thử nghiệm kéo dài 3 tháng, nhóm nghiên cứu nhận thấy nhóm được uống flavanol hàm lượng cao có mức độ cải thiện trí nhớ và lượng máu lưu thông đến vùng nếp nhăn hình răng cưa tốt hơn hẳn nhóm đối chứng. Thậm chí, “những người có trí nhớ ở độ tuổi 60 lúc bắt đầu nghiên cứu đã phục hồi năng lực ghi nhớ tương đương người ở độ tuổi 30-40 sau 3 tháng thử nghiệm” – Giáo sư thần kinh học Scott Small cho biết.

Được biết, ngoài ca cao chứa hàm lượng cao flavanol, hợp chất này còn hiện diện trong quả nho, việt quất, một số loại rau củ và trà nhưng với hàm lượng thấp hơn.

Những lợi ích thiết thực từ trái me

Những lợi ích thiết thực từ trái me

Không chỉ là món ăn vặt khoái khẩu của nhiều người, trái me - me chua còn mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho sức khỏe mà có thể bạn chưa biết đến.


1. Kiểm soát huyết áp

Trái me chứa kali cao gấp hai lần lượng kali trong trái chuối. Do đó, nó có tác dụng kiểm soát huyết áp rất tốt. Me giúp ổn định huyết áp bằng cách kiểm soát các tác động của natri trong cơ thể, tránh để tình trạng lượng natri tăng cao làm cho huyết áp tăng.

2. Tốt cho hệ thần kinh

Thiamin là một loại vitamin B có vai trò quan trọng đối với các hoạt động của dây thần kinh và cơ bắp. Nếu thiếu thiamin, các màng bọc myelin của dây thần kinh có thể bị tổn thương. Đây là lý do khiến bạn thường xuyên có các cảm giác tê chân tay, chuột rút, đau mỏi, cảm giác như bị gai châm ở lòng bàn tay, bàn chân…Me là một nguồn cung cấp thiamin tuyệt vời với hàm lượng 29% nên rất có lợi cho hệ thần kinh của chúng ta. Vì thế, các bạn nên bổ sung thêm món ăn vặt này vào thực đơn hàng ngày.

3. Ngừa thiếu máu

Với hàm lượng sắt lên tới 16%, quả me sẽ giúp chúng ta tránh được tình trạng thiếu máu do thiếu sắt. Đặc biệt, rất tốt cho chị em trong việc bổ sung lượng sắt bị mất vào những ngày “đèn đỏ”. Không chỉ thế, me còn là trái cây chứa nhiều canxi- hỗ trợ tích cực trong quá trình đông máu. Vì thế, me được xem là thực phẩm có thể giúp cơ chế đông máu hoạt động hiệu quả hơn.

4. Giúp xương chắc khỏe

Bạn có thể bổ sung magiê tự nhiên cho cơ thể bằng cách ăn me và những món ăn từ me tươi. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng, những người có chế độ ăn giàu kali và magiê sẽ có mật độ xương cao và chắc khỏe hơn so với những người không được bổ sung đầy đủ hai chất này.

5. Ngăn ngừa táo bón


Me cũng là một trong những loại trái cây chứa nhiều chất xơ có tác dụng điều hòa nhu động ruột, nhuận tràng tự nhiên mà không gây tác dụng phụ. Do đó, ăn me có thể ngăn ngừa táo bón rất hiệu quả.

6.Tăng cường sức đề kháng

Lượng protein có trong me cũng là một chất dinh dưỡng quan trọng giúp sản xuất kháng thể chống lại virus, vi khuẩn gây bệnh khi chúng xâm nhập vào cơ thể. Song song đó, vitamin C từ quả me hỗ trợ hiệu quả trong việc tăng cường sức đề kháng cho cơ thể và rất tốt cho răng lợi.

7. Cung cấp năng lượng

Nếu bạn cảm thấy mệt mỏi, uể oải, hãy thử dùng một ít quả me có vị ngọt. Các dưỡng chất riboflavin trong me sẽ giúp chuyển hóa carbohydrate trong cơ thể thành năng lượng. Bởi vậy, khi ăn me, bạn không cần nạp thêm tinh bột mà vẫn có năng lượng cho các hoạt động.

8. Chữa ốm nghén

Để chống tình trạng ốm nghén trong thời gian đầu mang thai, bạn có thể dùng 30g thịt me, cho vào nồi nấu với 300 ml nước, đun sôi còn 200 ml, chắt nước bỏ bã. Cho 10 g đường trắng vào quấy đều, chia 3 lần uống trong ngày. Uống trong vài ngày liên tiếp sẽ cải thiện tình hình hiệu quả.

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2018

Công dụng của quả chà là khô

Công dụng của quả chà là khô

Trong số những loại hoa quả khô, chà là được xem là món ăn nhẹ có giá trị dinh dưỡng cao đồng thời cũng mang đến lợi ích cho sức khỏe.

Nhiều chất xơ


Chà là chứa rất nhiều chất xơ, giúp giảm chứng táo bón và làm sạch đường ruột. Chà là khô được xem loại quả có đặc tính nhuận tràng tự nhiên cùng nhiều lợi ích dinh dưỡng khác.

Tốt cho tim

Chà là khô giúp tăng cường sức khỏe cho tim bằng cách loại cholesterol xấu ra khỏi các động mạch. Do đó chà là khô được xem là món ăn nhẹ yêu thích của những bệnh nhân tim mạch.

Giảm cân


Chà là khô chứa hàm lượng chất xơ cao và là nguồn thực phẩm giàu năng lượng, do đó được xem là thực phẩm tuyệt vời cho những người muốn giảm cân. Chà là khô có thể hãm cơn thèm ăn của bạn.

Hỗ trợ tiêu hóa

Những món ăn cay là nguyên nhân của chứng ợ nóng, ợ chua, khó tiêu, và chà là khô có thể chữa những chứng bệnh này.

Khỏe xương

Chà là khô chứa hàm lượng can xi cao, hỗ trợ tốt cho xương và được xem là thực phẩm hữu ích trong việc ngăn ngừa chứng loãng xương và viêm khớp.

Bổ máu

Người Ấn Độ thường nằm sấp để cải thiện lượng máu lưu thông trong cơ thể. Ngoài ra, chà là luôn có mặt trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày của họ bởi trong quả chà là, hàm lượng sắt rất cao.

Chống ô xy hóa

Các hợp chất chống ô xy hóa và axit amino cũng có trong thành phần của chà là, giúp tăng cường sức khỏe cho cơ thể.

Nguồn năng lượng dồi dào

Glucose và fructose trong chà là sẽ giúp bạn nhanh chóng lấy lại năng lượng trong những lúc mệt mỏi.

Chăm sóc tóc


Những vấn đề tóc chẻ ngọn, hư tổn, gãy rụng sẽ được khắc phục nếu bạn thường xuyên ăn chà là khô. Vitamin B5 và B6 có trong chà là khô hỗ trợ rất tốt cho tóc.

Chăm sóc da

Chà là khô còn chứa vitamin A giúp tăng cường chất lượng cho làn da. Vitamin A và B5 đóng vai trò quan trọng trong việc làm trẻ hóa da.

Bảo vệ sức khỏe

Chà là khô chứa nhiều vitamin như A, B, E, K, niacin, thiamine và khoáng chất như sắt, kali, lưu huỳnh, magie, phốt pho, đồng sẽ giúp tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể.

Vị thuốc chữa bệnh của cây thị

Vị thuốc chữa bệnh của cây thị

Theo kinh nghiệm dân gian, hầu hết các bộ phận của cây thị đều có vị thuốc được dùng làm thuốc chữa bệnh rất tốt.


Cây thị có tên khoa học là diospyros decandra lour thuộc họ Thị Ebenaceae rất gần gũi với chúng ta, cây thị được trồng rải rác trong các vườn gia đình, nhất là ở đình chùa, miếu để lấy quả.

Quả thị đã được nghiên cứu dược lý trên giun đất bằng cách dùng 20g bột thịt quả thị phơi khô, tán nhỏ, chiết với 200ml nước, lấy liều vừa phải làm giun bị tê liệt, liều cao làm chết giun và liều càng cao, giun chết càng nhanh. Có giả thiết cho rằng tác dụng này do tamin glucosidic, dẫn chất pyrocatechic phlobaphen. Trên cơ sở đó, người ta thấy trẻ nhỏ ăn nhiều thịt quả thị chín vào sáng sớm lúc đói có ra giun, chủ yếu là giun kim, mặc dù quả thị chín ít được ăn tươi vì không ngon, lại sít răng làm răng cáu bẩn…

1. Mô tả cây thị

Thị là một cây gỗ, cao tới 5-6m. lá mọc so la, phiền lá hình thuôn, dài 5-8cm, rộng 2-4cm, dài, cuống dài 6-9mm, có phủ lông. hoa đa tính, họp thành xim, màu trắng. đài hợp ở gốc 4 răng, nhị 8-14. nhuỵ có 2 vòi. quả tròn hơi dẹp, đường kính 3-5cm, có 6-8 ngăn, khi chín màu vàng, mang đài tồn tại. hạt cứng, dẹt, dài 3cm, phôi sừng. mùi thơm hay khó chịu tuỳ theo người thích hay không thích.

Cây thị Được trồng khắp nơi ở Việt Nam, chủ yếu lấy quả ăn. quả hái về vào các tháng 8-9. ngoài ra người ta còn dùng lá tươi hay phơi khô làm thuốc. không cần có chế biến .

Quả thị: Có hai dạng đó là dạng quả hình cầu, đít tròn, thường được gọi là thị muộn và dạng quả nhỏ hơn hơi dẹt, đít bằng, có tên là thị sáp hay thị lục sáp. Quả thị có mùi thơm mát khi vừa chín tới, trong vỏ quả chứa một ít tinh dầu mùi gần giống mùi ester valerianic. Hương thơm này có tác dụng trấn tĩnh, giảm căng thẳng thần kinh, thư giãn. Đến khi quả đã chín rục, mềm nhũn và chuyển sang màu vàng sẫm thì mùi thơm giảm nhiều.

Vỏ quả chứa một ít tinh dầu gần giống mùi ête amyl valerianic. Thịt quả thị: theo kết quả phân tích của Peirier (1932) có 86,2% nước; 0,16% chất béo; 0,67% chất protit; 12% gluxit; 0,33% tanin; o,47% xenluloza; 0,50% tro.

2. Vị thuốc chữa bệnh của cây thị

Lá thị: Được dùng rất phổ biến để trị chứng táo bón, bụng anh ách căng đầy bạn chỉ cần lấy một nắm lá thị rải dưới chiếu rồi nằm lên chỉ sau 15 là có hiệu quả không ngờ, hoặc dùng lá thị tươi giã đắp làm mụn nhọt chóng vỡ mủ, hòa với rượu  rịt vào chữa viêm tinh hoàn (thiên trụy) …

Vỏ thị: Nhân dân thường lấy vỏ bằng cách khía quả thị thành 6 – 8 mảnh, bóc ra dán lên tường vách hoặc cột nhà cho khô, khi dùng mới gỡ xuống.

Hạt thị: Theo tài liệu nước ngoài, hạt thị ngâm nước trà, uống có tác dụng kích thích sinh trưởng, chống lão hóa, làm thuốc dưỡng da, làm cho da hết nhăn, trở nên căng phồng, hồng hào. Về sau, hạt thị trở thành vị thuốc “cung đình” để giữ sắc đẹp (theo sử sách đời nhà Đường, Trung Quốc).

Rễ thị: Thu hoạch quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa thu đông, rửa sạch, lột vỏ và chỉ lấy lớp vỏ trắng ở mặt trong, phơi hoặc sấy khô cất dùng dần.

3. Những bài thuốc vị thuốc chữa bệnh của cây thị

* Chữa sốt nóng, ngộ độc, nôn mửa hoặc ngâm rửa trị mẩn ngứa, lở loét: Lấy rễ thị chừng 30 – 50g thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.

* Trị táo bón, bụng anh ách căng đầy: Lấy lá thị rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, quấn hút (như hút thuốc lá) thấy dễ chịu ngay, trung tiện được, ngày làm vài lần.

* Chữa viêm tinh hoàn (thiên trụy): Lấy lá thị tươi giã nhỏ hòa với ít rượu rịt vào chỗ tinh hoàn đau, ngày 2 – 3 lần.

* Làm mụn nhọt chóng vỡ mủ:
Lấy lá thị tươi giã nhỏ đắp vào nơi mụn nhọt băng rịt lại, ngày 1 – 2 lần.

* Chữa bỏng lửa: Lấy lá thị phơi khô, giã nhỏ thành bột, tẩm nước rồi đắp vào nơi bị bỏng lửa.

* Chữa sâu quãng, lở loét: Lấy lá thị khô đốt thành than, rắc chữa sâu quãng, lở loét hoặc sắc lấy nước đặc rửa vết thương.

* Chữa dị ứng: Lấy lá thị 100g phối hợp với rễ cây ráy 50g thái nhỏ, phơi khô, nấu nước đến sôi, xông nơi bị dị ứng.

* Chữa phù thũng: Lấy lá thị, lá đu đủ, lá lộc mại và lá trầu không, mỗi thứ 50g, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày, kết hợp lấy lá tươi của 4 thứ với lượng như trên, giã nhỏ, gói bằng lá chuối đã dùi nhiều lỗ thủng, nướng chín, rồi rịt vào rốn, băng lại.

* Chữa giời leo (herpes): Lấy vỏ quả thị phơi khô, đốt thành than, hòa với dầu vừng hoặc mỡ lợn, bôi lên những vết phồng rộp chữa “giời leo” (một loại bệnh ngoài da).

Lưu ý khi trồng bòn bon

Lưu ý khi trồng bòn bon

Cây bòn bon ghép 2 tuổi được trồng trong hố kích thước khoảng 60 x 60 x 60 cm. Trong 1 hố trộn thêm 10kg phân hữu cơ hay phân chuồng hoai, sau đó tưới đẫm nước vào hố



Bòn bon (Lansium domesticum) có nguồn gốc từ vùng Tây Mã Lai, là dạng cây trung bình, mọc thẳng đứng cao khoảng 10-15 mét. Bòn bon cho trái kết chùm ở thân và cành, đây là loại cây ưa mát, ưa bóng râm do đó khi trồng nên trồng xen với cây ăn quả khác như măng cụt, chuối, sầu riêng, chôm chôm…

Cây bòn bon ghép 2 tuổi được trồng trong hố kích thước khoảng 60 x 60 x 60 cm. Trong 1 hố trộn thêm 10kg phân hữu cơ hay phân chuồng hoai, sau đó tưới đẫm nước vào hố. Tùy theo từng vùng sinh thái mà chuẩn bị hố trồng khác nhau và hố phải chuẩn bị trước khi trồng cây 20 ngày. Khi bón phân chuồng hoai, ta có thể trộn chung với 250g chế phẩm nấm Vi - ĐK (Trichoderma)/hố, loại nấm Trichoderma phát triển được trong đất sẽ hạn chế được các nấm gây bệnh thối rễ cây con của bòn bon cũng những cây ăn quả khác trong vườn.

Khi cây bắt đầu cho ra quả (khoảng năm thứ 10) thì cần tăng lượng phân bón NPK, sau đó bón ổn định làm 2 lần, một lần trước khi ra hoa và lần hai sau khi kết quả. Vào giai đoạn cho quả cũng có nhiều sâu bệnh quan trọng như thán thư trái, sâu đục quả nhện đỏ và rệp sáp. Tuy nhiên xử lý rệp sáp trên bòn bon rất khó bởi vì cây cho trái mọc thành chùm rất nhiều quả, rệp sáp lại thường sinh sôi ở những kẽ trái mà khi phun thuốc thường ít hiệu quả, khi đó bà con lại càng phun thuốc nhiều lần sẽ làm cho môi trường càng ô nhiễm và không an toàn cho người sử dụng, không đáp ứng được qui trình VIETGAP.

Khi rệp sáp sinh sôi nhiều trên chùm trái còn kéo theo nấm mồ hóng (muội đèn), làm giảm giá trị thương phẩm và người tiêu dùng cũng ngần ngại khi chọn mua sản phẩm. Do đó khi cây bắt đầu cho trái, chúng ta thường xuyên theo dõi vườn.

- Ghi chú ngày ra hoa (từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 3 tháng), ngày đậu trái.

- Ghi chú ngày phát hiện ra rệp sáp trong vườn.

- Ghi chú vị trí rệp sáp xuất hiện ở cơ quan nào trên cây (gốc, thân, cành, lá, trái).

- Nếu đã xuất hiện rệp sáp thì nên phun thuốc ngay, nhất là khi trái chưa đủ lớn để giao tiếp nhau lúc này phun thuốc rất dễ tiếp xúc với rệp sáp do đó hiệu quả thuốc sẽ nâng cao, hạn chế được việc phun thuốc kéo dài về sau.

- Ghi rõ tên hoạt chất thuốc, tên thương mại và ngày phun thuốc, cũng như lượng thuốc đã dùng.

- Theo dõi và ghi lại ngày rệp sáp bắt đầu chết, ngày nào rệp tái xuất hiện và cần phải xử lý lại.

- Thuốc trừ rệp sáp cây ăn trái có thể sử dụng: VIDIFEN 40 EC, VITHOXAM 350SC… khi phun thuốc nên chỉnh vòi phun mịn đảm bảo thuốc thấm đều trên cây.

- Khi phun cần phải lưu ý thời gian cách ly. Ví dụ thời gian cách ly của VITHOXAM 350SC là 7 ngày nhưng 6 - 7 ngày nữa cũng là ngày thu hoạch, vậy chúng ta không nên phun thuốc thêm nữa dù có rệp sáp phát sinh.

- Lưu ý khi thu hoạch tránh xây xát để vỏ trái không bị thâm đen.

Cách chuyển vị trí cây trồng lâu năm

Cách chuyển vị trí cây trồng lâu năm

Khi trồng cây cảnh, cây bóng mát, cây lâm nghiệp, cây ăn quả nhiều khi cần đào, đánh để chuyển vị trí các loại cây nhiều năm tuổi, có kích thước lớn sẽ được cây nhanh thu hoạch hoặc tạo thế cây lâu năm trong nghề trồng cây cảnh. Xin mách cách chuyển vị trí các loại cây có tỷ lệ sống cao.

Đào, đánh cây ăn quả, cây bóng mát, cây cảnh có 1-3 năm tuổi, đường kính gốc <10cm, chiều cao cây <4m: Với các loại cây dễ sống như cây si, đa, xanh, sấu, chám, keo, cam, chanh, quất, quýt…, gội (cắt bỏ) khoảng 2/3 tán cây, tưới đủ ẩm, đào sâu 30-40cm cắt các rễ ngang cách gốc 1-2m, cây càng to đào cách gốc càng xa, càng sâu. Khoảng 2 tháng cây hồi sức, trước khi ra lộc mới (có một vài nách lá nhú lộc dài <1cm) thì tiến hành đào chặt nốt rễ cọc, rễ cái rồi chuyển vị trí cây đi nơi khác. Trước khi chuyển vị trí cần chuẩn bị hố trồng có đường kính lớn hơn bầu cây định đánh khoảng 40-50cm, sâu hơn bầu cây định đánh 10-15cm. Đặt nhẹ nhàng bầu cây xuống hố, lấp đất nhỏ quanh bầu cho đầy khe hở, dùng chân nhẵm chặt xung quanh cách bầu 10cm, tưới đẫm 5-10lít nước/hốc lần đầu, tưới đủ ẩm trong 10-15 ngày cho cây bén rễ hồi xanh thuận lợi.

Đánh các loại cây to khó sống hơn như cây hồng, cây xoài, cây nhãn, vải, cách đánh như trên, đánh lần đầu vào tháng 11-12, đánh trồng vào tháng 2-3. Nếu đánh trồng vào các tháng 4-10 cần phải che nắng bằng cách rát bằng lưới đen tản nhiệt trong 20-30 ngày.

Đào đánh các loại cây lâu năm, có đường kính gốc 0,5-1m: Chủ yếu áp dụng cho các loại cây làm cảnh như: Lộc vừng, đa, si, xanh, cây sắn thuyền…Trước khi đào gốc cắt toàn bộ tán cây và thân chính cách gốc 1-3m tùy theo yêu cầu thẩm mỹ. Cắt toàn bộ rễ cái, rễ con cách gốc cây0,5cm, dùng cần cẩu hay người khênh để chuyển vị trí đến vườn ươm. Trát 1 lớp đất thịt, hay bùn ướt (không dùng bùn ở những ao tù có màu đen, mùi hôi tanh) dày 1cm, vùi gốc cây trong cát ẩm, che thân và gốc cây bằng nilon tản nhiệt màu đen trong 40-50 ngày ở vườn ươm, khi nào thấy thân cây nẩy lộc; các lộc (đọt) non chuyển thành lá bánh tẻ mới thôi.

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2018

Kinh nghiệm và kỹ thuật trồng gấc

Kinh nghiệm và kỹ thuật trồng gấc

Kinh nghiệm và kỹ thuật trồng gấc ở Đồng bằng Sông Cửu Long


Trước đây ở miền Nam, rất ít người biết đến cây gấc và công dụng của trái gấc. Từ sau ngày giải phóng, nhiều người quê miền Bắc vào định cư ở các tỉnh phía Nam mới đem gấc vào trồng. Đến nay, ở TP.Cần Thơ và một số nơi ở ĐBSCL đã có cơ sở chế biến trái gấc làm thực phẩm và thuốc. Để giúp bà con có thể trồng gấc trong vườn nhà, xin giới thiệu một số kinh nghiệm sau đây:

+ Thời vụ: Thời tiết ở Nam bộ luôn ấm áp nên cây gấc sinh trưởng, phát triển và cho trái quanh năm. Đa số bà con trồng gấc vào đầu mùa mưa (cuối tháng 3, đầu tháng 4 DL). Vào mùa mưa gấc sinh trưởng rất nhanh, chỉ sau 3 tháng là bắt đầu cho trái, thời gian thu hoạch trái kéo dài đến giữa mùa khô (tháng 12-1). Cuối mùa khô cây phát triển kém và cho trái nhỏ. Đến thời kỳ này bà con thường cắt gốc và chờ mùa mưa xuống cây gấc sẽ tái sinh.

+ Cách trồng: Gấc có thể trồng từ hạt, bằng thân cây hoặc để gốc tái sinh.

Trồng bằng hạt: Ươm hạt giống bằng hạt có tỷ lệ nẩy mầm cao nhưng nếu không biết cách chọn hạt giống thì tỷ lệ cây đực rất cao (có thể trên 50%). Theo những người có kinh nghiệm trồng gấc thì cần chọn trái lấy hạt ở những cây có trái to, sai trái, đợi cho trái chín đỏ hoàn toàn mới thu trái và nên để cho trái chín rực thêm vài ngày sau đó dùng tay bóp lấy hạt. Chọn những hạt có hình dạng tròn, đầy đặn sẽ cho tỷ lệ cây cái cao, những hạt có dạng nhỏ dài,cong queo, vặn vẹo thường là cây đực. Trước khi gieo thì cần chà rửa thật sạch lớp nhớt bọc quanh vỏ hạt để hạt dễ nẩy mầm hoặc ngâm hạt trong dung dịch acid sunfuric 10% trong một ngày cho vỏ hạt mềm gieo sẽ dễ nẩy mầm hơn. Chọn hạt giống tốt để gieo là cơ sở để có năng suất cao về sau. Sau khi xử lý ngâm nước có thể đem gieo hạt trực tiếp ở các hố đào. Một hố gieo 3–5 hạt sau đó tỉa để lại chừng 1–2 cây. Khi cây ra trái nếu có cây đực thì nhổ bỏ, mỗi hố cách nhau 4-5 m.

Trồng bằng cách giâm thân: Có thể nhân giống vô tính bằng cách giâm thân. Nên chọn đoạn cành bánh tẻ ở những cây gấc cho năng suất và chất lượng cao (sai quả, hình dáng quả đẹp, kích thước quả lớn). Chọn cành cây không quá già hoặc quá non để làm vật liệu trồng, cắt cành ra từng đoạn từ 20 – 40 cm, cành cắt xong nên giâm ngay hoặc xử lý bằng các dung dịch thuốc trừ nấm bệnh như Benlate C hoặc Rovral 2 – 4 phần ngàn, ngâm 5 – 10 phút để chống thối cành. Đặt dây, lấp đất để hở 2-3 đốt, tưới ẩm và đậy để bảo vệ, khi nào mầm gấc bắn lên, gấc bò thì làm giàn cho gấc leo. Một gốc gấc chăm sóc tốt và cân đối cần diện tích leo giàn khoảng 5-6 m2, tận dụng bờ rào, mái các công trình phụ cũng có thể trồng được gấc. Tưới đủ nước giữ ẩm và che bớt nắng bằng cách lấy rơm rạ phủ quanh gốc giâm, nơi giâm cành cũng cần thoát nước tốt.

Để gốc tái sinh: Gần cuối mùa khô, cắt gốc để lại 10-15cm, xới xáo quanh gốc, bón phân. Khi mưa xuống từ các mắt ở gốc gấc sẽ nảy mầm và phát triển thành cây cho năm sau.

+ Chăm sóc:

Cần làm giàn leo cho gấc: Có giàn gấc mới ra nhiều quả và đặc biệt cho leo ngang quả sẽ nhiều hơn. Tìm hướng cho hàng gấc để tránh gió, bão làm đổ, trên một đường thẳng theo hướng gió đã chọn, trồng những cây để làm cọc như tre, tận dụng các loại cây có sẵn như: Tràm, tre, bạch đàn làm cọc và giàn đỡ, chăng dây thép tạo thành các ô rộng 30 x 30 cm. Giàn tốt có thể giữ được từ 3 - 5 năm, cách làm giàn này đang được sử dụng rộng rãi.

Khi cây dài 30 - 40 cm, theo dõi  bắt ngọn leo vào giàn và thường xuyên bắt các ngọn phân tán đều trên giàn, thường xuyên kiểm tra các gốc, gốc nào có nhiều quả sau năm thứ nhất giữ lại. Cuối mùa hoa, cắt bớt các nhánh con không có hoa để tập trung nuôi quả. Thường xuyên làm cỏ, xới nhẹ đất quanh gốc cách gốc từ 25 - 30 cm để kích thích rễ phát triển.

- Bón phân: Bón lót mỗi gốc gấc 10-15 kg phân chuồng hoai mục. Khi cây được 25-30 ngày, dùng phân hỗn hợp NPK16-16-8 để bón cho gấc (mỗi hốc 0,5-1,0 kg) để cây sinh trưởng mạnh cho nhiều trái, trái to.

- Tưới và thoát nước: Cây gấc cần đất đủ ẩm nhưng rất sợ úng do đó phải tưới đủ nước khi khô và thoát nước ở gốc cây cho tốt. Cây gấc cần nước nhiều nhất ở giai đoạn ra hoa và phát triển trái, cần lấy rơm rạ hay bèo lục bình phủ kín gốc gấc nhằm giảm thiểu bốc hơi nước và cỏ mọc. Thiếu nước trong giai đoạn này sẽ làm hoa rụng, trái phát triển kém, năng suất thấp. Quanh gốc cũng cần làm rãnh để thoát nước khi mưa nhiều.

Phun chất kích thích tố NAA (Naphthalen Acetic Acid) phun ở nồng độ 25 - 100 ppm (phần triệu) trong giai đoạn cây còn nhỏ có 1 - 2 lá thật sẽ làm tăng số hoa cái trên cây.

- Thụ phấn nhân tạo: Gấc là loại cây đơn tính, thụ phấn chủ yếu nhờ gió, sâu bọ, ong bướm... để tăng năng suất tiến hành thụ phấn nhân tạo bằng cách dùng bông ướt lấy phấn trên đầu nhị của hoa đực bôi đều lên nhụy của hoa cái vào thời điểm hoa đực và hoa cái đã nở đều.

Chăm sóc tốt 1 gốc cho thu hàng tạ quả, sau thu quả, cắt dây để lại gốc, đến vụ gấc lại bắn mầm lên cây mới, cây vụ sau khoẻ và cho năng suất cao hơn vụ trước.

+ Sâu bệnh: Gấc là loại cây trồng có sức chống chịu tuyệt vời, chưa thấy sâu bệnh hại, chim chuột ít phá, thân lá gấc có mùi hôi nên trâu bò ít phá. Gấc không kén đất và chỉ cần một khoảng đất nhỏ đã có thể trồng được một gốc, một gốc có tuổi thọ 10-15 năm, đầu tư rất thấp, nhưng hiệu quả cao. Một số vùng trồng gấc xen với cây ăn trái , trồng tận dụng, hoặc trồng ở ruộng cao, bạc màu, làm cọc tre, chăng dây thép cho dây gấc leo, thu nhập cao gấp 2-3 lần trồng lúa.

Kỹ thuật trồng trám trắng

Kỹ thuật trồng trám trắng

Trám trắng là cây bản địa, đa mục đích, đ­ược nhân dân ta ­a chuộng. Là cây gỗ lớn. Trám trắng có thể cao 25 đến 30m, đ­ường kính ngang ngực 70-80cm, thân tròn thẳng, tán lá gọn và xanh quanh năm


1. Kỹ thuật hạt giống cây con.

Giống.

- Giống phải thu hái từ những cây đã có 2 mùa quả trở lên (9-10 tuổi), cây mẹ sinh trư­ởng tốt, phát triển cân đối, không bị sâu bệnh, cong queo.

- Quả trám trắng chín vào tháng 9-10. Khi thấy quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng mơ, ăn có vị chua ngọt, nhân hạt màu trắng mới thu hái. Không thu hái non ảnh hư­ởng đến chất lư­ợng cây con.

- Sau khi thu hái về, cần loại bỏ những quả kém phẩm chất, sau đó vun thành đống ủ trong 2-3 ngày. Ngâm quả vào n­ước nóng khoảng 60°C (2 sôi 3 lạnh) trong thùng có nắp đậy kín, sau 2-3 giờ vớt ra và tách lấy hạt, có thể đem gieo ngay hoặc bảo quản ẩm.

- Hạt chế biến xong cần bảo quản trong cát ẩm từ 5-8% hoặc bảo quản trong tủ lạnh có nhiệt độ ổn định 5°C.

V­ườn ­ươm: V­ườn ­ươm nên gần nơi trồng rừng và thuận tiện cho việc vận chuyển cây con. Mặt v­ườn cần bằng phẳng, thoát n­ước, rọi nắng và gần nguồn nư­ớc. V­ườn phải đặt xa nguồn bệnh và tách rời khu canh tác nông nghiệp.

Tạo bầu:

- Vỏ bầu đ­ược làm bằng PE màu trắng đục hay đen, bảo đảm độ bền để khi đóng bầu và vận chuyển không bị rách. Kích thư­ớc bầu 9x14cm, không đáy đục lỗ xung quanh để ­ươm cây 6-7 tháng và 12x18 cm có đáy như­ng cắt góc đục lỗ xung quanh cho cây ­ươm trong v­ườn 15-16 tháng.

- Thành phần ruột bầu gồm đất tầng A dư­ới tán rừng 90%, phân chuồng hoai 9% và Supe lân Lâm Thao 1%. Ba thành phần đ­ược trộn đều nhau.

- Bầu đư­ợc đóng đầy, chặt sau đó xếp thành luống rộng 0,8-1m, dài 5-10m, mặt bầu bằng phẳng. Các luống bầu đặt cách nhau 50-60cm để thuận tiện việc đi lại chăm sóc cây con. Xung quanh luống bầu lấp đất cao bằng 2/3 bầu, rải đất bột vào khe hở giữa các bầu.

Gieo ­ươm:

- Xử lý hạt: Ngâm hạt vào n­ước lã từ 10-12 giờ sau đó tiến hành ủ hạt. Chọn nền xi măng hoặc nền đất cứng ngoài trời, đổ 1 lớp hạt cát xuống d­ưới dày 5cm, tiếp đó rải 1-2 lớp hạt ở giữa sau đó đổ cát và san đều để cát lấp kín hết khe hở giữa các hạt trám, trên cùng rải 1 lớp cát dày 3-5cm và t­ới đẫm n­ước, dùng rơm rạ phủ lên trên để giữ ẩm. Sau 20 ngày hạt bắt đầu nảy mầm.

- Thời vụ gieo ­ươm thích hợp nhất là tháng 10-11 ngày sau khi thu hái và chế biến xong.

- Khi hạt đã nảy mầm áp dụng 1 trong 2 cách cấy cây như­ sau: để cho cây mọc khỏi mặt luống, khi lá đã xòa hết và màu lá đã chuyển từ vàng sang xanh thì nhổ lên đem cấy vào bầu, hoặc chọn những hạt đã nứt nanh đem cấy vào bầu, lấp kín đất dày 1cm và t­ưới nư­ớc cho đủ ẩm ngay sau khi cấy xong.

Chăm sóc cây:

- Giai đoạn cây con ở v­ườn ­ươm cần có dàn che bóng, mức độ che giảm dần theo tháng tuổi, 20 ngày đầu che bóng 100% sau đó giảm 50%, khi cây mầm đã có 1-2 lá thật (khoảng 40 ngày) thì giảm xuống 25%. Giỡ bỏ dàn tr­ước lúc trồng khoảng 1-1,5 tháng.

- Th­ường xuyên phải t­ưới nư­ớc đủ và định kỳ 20 ngày 1 lần làm cỏ phá váng cho cây con.

- Định kỳ bón thúc 1 tháng 1 lần bằng phân NPK tỷ lệ 2%, t­ới 3 lít/1m2, phải t­ưới rửa lá ngay sau khi t­ưới phân. Tuyệt đối không dùng đạm urê để tư­ới thúc cho cây.

- Thư­ờng xuyên quan sát để đề phòng nấm bệnh và sâu hại cây con. Nếu bị lở cổ rễ thì dùng Benlat nồng độ 0,03-0,05% phun đều lên luống và ngừng tư­ới nư­ớc. Nếu bị sâu ăn lá thì bắt bằng thủ công hoặc dùng thuốc Malathion nồng độ 0,1% phun 1 lít n­ước/5m2.

- Trong quá trình chăm sóc cây con ở vư­ờn ư­ơm cần tiến hành đảo bầu 2 lần, lầ 1 sau khi cấy 2 tháng và lần 2 tr­ớc lúc trồng 1-1,5 tháng.

Trồng rừng:

Vùng trồng: Trám có thể trồng được cả 3 miền Bắc, Trung Nam nơi có tính chất đất rừng, độ dày tầng đất trên 0,5m, thoát nư­ớc và nơi ít bị khô hạn.

Ph­ương thức trồng.

- Trám trắng có thể trồng hỗn giao với các loài cây bản địa khác và có sử dụng cây họ đậu che bóng 3-4 năm đầu. Kỹ thuật xử lý thực bì trong phư­ơng thức này là phát trắng lớp thực bì cũ, dọn sạch trên mặt đất sau đó thiết kế đào hố trồng rừng. Giữa 2 hàng cây chính gieo hoặc trồng 1 hàng cây phù trợ. Mật độ trồng là 1200-1600 cây/ha, trong đó trám trắng 50%.

- Trồng kết hợp với cây nông nghiệp trong 2-3 năm đầu.

- Trồng theo rạch ở những nơi thực bì là cây bụi, cây tái sinh có chiều cao bình quân d­ới 3m. Kỹ thuật xử lý thực bì là mở các rạch rộng 2m, trên rạch phát trắng, thiết kế trồng 1 hàng cây ở giữa. Mật độ 550-600 cây/ha.

Thời vụ trồng.

- Tùy theo từng vùng sinh thái khác nhau nh­ng trám trắng có thể trồng đ­ược cả 3 vụ xuân hè từ tháng 2 - tháng 4 và hè thu từ tháng 5 - tháng 8.

Hố trồng:

Kích thư­ớc: 40x40x40cm, hố phải cuốc tr­ước khi trồng 1-1,5 tháng, lấp hố sau khi cuốc 15 ngày. Hố lấp phải đầy, ở giữa cao hơn hỗ 3-5cm.

2. Trồng cây:

Trồng bằng cây có bầu đ­ược ­ươm tại vư­ờn có tuổi từ 7-9 tháng hoặc 15-16 tháng. Tiêu chuẩn cây con loại 7-9 tháng có chiều cao 40-60cm, đ­ường kính cổ rễ lớn hơn 0,45cm, loại cây 15-16 tháng có chiều cao bình quân 70-100cm và đ­ường kính cổ rễ lớn hơn 0,7cm, cây sinh tr­ưởng bình thư­ờng không sâu bệnh hoặc cụt ngọn.

3. Chăm sóc và bảo vệ rừng non:

Sau khi trồng cần chăm sóc tiếp 4 năm liền.

- Năm thứ nhất, thứ hai và thứ ba mỗi năm chăm sóc 3 lần: 2 lần phát và xới quanh gốc, 1 lần phát quang cỏ dại và cây bụi chèn ép cây trồng, kết hợp điều chỉnh cây phù trợ không cho cây phù trợ che bóng ngọn Trám trắng.

- Năm thứ tư­: chăm sóc 2 lần gồm 1 lần phát, xới quanh gốc và 1 lần phát quang.

- Trong ph­ương thức nông lâm kết hợp việc chăm sóc chủ yếu là kết hợp lúc chăm sóc cây nông nghiệp.

Bảo vệ và phòng trừ sâu bệnh:

- Rừng trồng cần đ­ược bảo vệ nghiêm ngặt không chăn thả trâu, bò, dê trong khu vực rừng trồng.

- Khi phát hiện có sâu bệnh cần báo với cơ quan chuyên môn để có biện pháp phòng trừ kịp thời.

Kinh nghiệm chống rụng hoa, quả non ở cây ăn quả

Kinh nghiệm chống rụng hoa, quả non ở cây ăn quả

Để hạn chế hiện tượng rụng hoa, quả non ta cần chú ý một số điểm sau đây


Trước khi cây ra hoa, phải đảm bảo đủ nước và đủ chất dinh dưỡng cho cây (lưu ý cây bắt đầu ra hoa không được tưới nước và bón phân nữa, nhất là các loại phân hóa học). Khi hoa đã nở xong, đã có quả nhỏ cây lại cần được tưới nước, bón phân, thời kỳ này là bón phân qua lá, phun lên lá, lên quả non hợp chất kích phát tố, kích thích sinh trưởng, bổ xung chất dinh dưỡng cho cây.

Để cây đậu quả nhiều, ngoài những điểm chú ý trên ta nên phun các hợp chất (gọi chung là thuốc đậu quả) rất sẵn có bán trên thị trường. Nhưng qua sử dụng thấy 2 loại hợp chất có tác dụng tốt là hợp chất CRT và hợp chất Thiên Hải Ngọc, có hướng dẫn thành phần cấu tạo, công dụng, nồng độ, cách sử dụng. Có loại hợp chất được pha chế ở dạng lỏng, chứa trong lọ nhựa, có loại đóng túi nilon (đã có hướng dẫn cách sử dụng cụ thể trên bao bì), nhưng nhìn chung 1 lọ nhựa 10ml, hay một gói bột nhỏ thường hòa tan với 8-10 lít nước, phun dưới dạng sương mù trên quả non, hay trên hoa đã đổ nhụy, chỉ cần phun một lần, nếu có thấy quả non rụng thì mới phải phun lại.

Sau khi phun thuốc đậu quả có thể quả đạt nhiều, nên bón thêm phân ở gốc cây, tốt nhất ở thời kỳ này là phân N.P.K, bón phân xong cần tưới nước cho phân tan dần, ngấm vào rễ dưới gốc cây.

Riêng với nhãn, vải, nên phun 3 lần, lần 1 sau khi hoa tắt đã đỗ quả, lần 2 khi thấy có quả non rụng, lần 3 phun trước khi hái quả khoảng 2 tuần và kết hợp phun thuốc trừ nấm bệnh và côn trùng (nhất là bọ xít)

Làm đúng như kinh nghiệm trên, chắc chắn vườn cây trái sẽ đậu quả nhiều hơn, quả sẽ to đẹp hơn, chất lượng tốt hơn.

Kỹ thuật ghép một số loại cây ăn quả

Kỹ thuật ghép một số loại cây ăn quả

Lấy cành ghép vào mùa Xuân và Thu, cành 1 tuổi khoẻ, không sâu bệnh. Cắt sành xong phải bó ngay giữ ẩm và tiến hành ghép càng sớm càng tốt.

1. Cam quýt

Trồng và tuyển chọn gốc ghép.

1- Quýt hôi là gốc ghép cho quýt ngọt. Cây ghép có tán thấp, mau ra quả, năng suất cao, phẩm chất tốt, chịu lạnh, chịu hạn, chống bệnh thối gốc.

2- Quýt hồng (Phúc Kiến) là gốc ghép cho quýt Phúc Kiến, cam. Phát triển khỏe chịu lạnh, chịu hạn, năng suất cao, chậm ra quả.

3- Quýt chua thích hợp cho quýt Phúc Kiến. Phát triển trung bình, bộ rễ khỏe, thích ứng với nhiều loại đất, năng suất cao.

4- Bưởi rất thích hợp cho bưởi Văn Đán, bưởi Bình Sơn, quýt ngọt, sinh trưởng nhanh, chịu đất kiềm, khả năng thích ứng cao.

Thời gian thu hạt: Từ tháng 8 đến tháng 12. Hạt phải rửa ngay bằng nước sạch, chọn hạt mập, để nơi râm mát, thoáng. Phơi dưới nắng nhẹ trong vài giờ.

Trước khi gieo nên ngâm trong nước 45°C khoảng 10 phút, sau ngâm trong nước 56°C trong 50 phút (luôn giữ 56°C). Không được ngâm hạt non, hạt chưa phơi trong bóng râm vào nước 56°C.

Gieo vào mùa Xuân, mùa Thu. Gieo vãi vào mặt đất làm kỹ và lên luống, lấp đất bột 1-1,5cm rồi phủ rác khô. Khi cây nhú 50-60% thì bỏ rác. Tưới đều và sau tưới nước giải pha loãng.

Mùa Xuân và Thu có thể di dời cây con để trồng với khoảng cách 17x23cm, tức là cứ 1m2 trồng 25-26 cây.

Lấy cành ghép vào mùa Xuân và Thu, cành 1 tuổi khoẻ, không sâu bệnh. Cắt sành xong phải bó ngay giữ ẩm và tiến hành ghép càng sớm càng tốt.

Phương pháp ghép: Ghép áp mầm đơn, ghép bụng mầm đơn, ghép phiến mầm. Do hình cam quýt có hình ba cạnh nên khi cắt cành ghép cần chọn phần cành rộng, bằng để cắt mặt cắt dài của cành ghép.

Chăm sóc sau khi ghép.

Kiểm tra tỷ lệ ghép sống: sau khi ghép 25-20 ngày thì kiểm tra ghép bổ sung; những cây ghép có mầm ghép biến màu nâu xám, khô thì tiến hành ghép lại; những cây mắt ghép sống thì tiến hành cắt ngọn gốc ghép cách mầm ghép 1-1,5cm cưa nghiêng 30-45°C. Khi mầm ghép phát triển, phải cắt hết mầm ở góc cây ghép.

Khi cây non phát triển đến độ cao nhất định thì cắt ngọn để cố định thân, cắt ngọn ở độ cao 25-30cm, đồng thời bỏ các cành mọc không cần thiết. Khi các cành dài 6-8cm thì chọn các cành khỏe để làm cành chính.
Tiến hành tưới, bón và trừ sâu.

2. Nhãn


Trồng cây gốc ghép: thu giống gốc ghép ở những cây khỏe, khả năng thích ứng cao, hạt mẩy. Thu hạt trước và sau Bạch Lộ. Hạt cần được rửa nhẹ và để sạch cùi và có thể gieo ngay, không nên phơi hạt và để lâu quá một tuần. Trước khi gieo có thể trộn hạt với cát mịn chứa 5% nước, có nhiệt độ 25°C để thúc mầm. Sau 3-5 ngày, phôi mầm nhú 0,5-1cm thì đem gieo. Giống gốc ghép cho nhãn là nhãn. Gieo hạt theo hốc cách nhau 20-25cm, cần làm cho hạt chìm sâu xuống đất. Sau đó rải đất nung, cát mịn lên trên, phủ rơm rác thô.

Khi hạt nảy mầm nhú lên thì dần dần dỡ bỏ rơm rác đi. Lúc cây có 4 lá thật thì tưới nước phân pha loãng 2 lần 1 tháng, đồng thời dùng dao sắc cắt rễ cọc cách thân 3,5-4cm, để rễ nhánh phát triển. Năm sau, vào thời gian tiết Thanh minh tới Cốc vụ, khi các cành đã chắc thì có thể di dời đi trồng với mật độ 20x30cm/1 cây. Tưới liên tục trong 7-10 ngày. Sau đó chăm sóc 1-2 năm và tiến hành ghép.

Cành ghép có đường kính 1-1,5cm có vỏ màu hồng, là khúc giữa của cành 1-2 tuổi. Trước khi ghép 20-30 ngày, tiến hành cắt khoanh vỏ tại phần gốc của cành ghép, cắt bớt ngọn, bỏ hoa để tăng cường tích lũy trong cành ghép các chất dinh dưỡng dự trữ.

Thời gian và cách ghép: dùng cách ghép phiến mầm, ghép hình lưỡi, ghép áp, ghép bụng, ghép chắc, ghép nêm.

Ghép hình lưỡi vào mùa Xuân, ghép cách mặt đất 40cm. Mỗi đoạn ghép dài 4-5cm có 2 mắt mầm.

Ghép phiến mầm từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 10, thích hợp nhất là tháng 4 tháng 6, 9. Vị trí ghép cao 10-20cm. Miệng ghép rộng 0,8-1,2cm, dài 3-4cm. Phiến mầm nhỏ hơn và tách bỏ phần gỗ. Buộc để lộ mầm.

Ghép nêm vào giữa mùa Xuân đến đầu mùa Hạ, tốt nhất là khoảng từ tiết Thanh minh đến Cốc vụ. Cắt cây gốc ghép cao 1m hoặc có thể ghép ở nhiều cành chính nếu là cây to. Nếu ghép ở nhiều cành thì cần giữ 1 cành ở nơi thấp hơn để điều tiết nước.

Khi ghép phải cắt phẳng gốc ghép, dùng cưa tay cưa 1 đến 4 nhát tại miệng cắt, trong rộng ngoài hẹp có hình mãng lõm. Dùng dao cắt phẳng hai bên. Hình nêm rộng 1cm dài 5-7cm, phần trên ăn sâu vào gỗ 2-3cm. Cành ghép dài 10-12cm sau khi ghép bao bọc bằng mảnh nilon rộng 3cm dài 0,5-0,7m và buộc lại bằng dây nilon.

Chăm sóc: Nếu ghép hình lưỡi thì sau 15-40 ngày, cành ghép phát triển, cần cắt bỏ các cành dại ở gốc ghép. Nếu ghép không sống, cần ghép bổ sung ngay.

Ghép phiến mầm thì sau 30-40 ngày, nếu ghép sống, mới có thể cởi bỏ nilon. Sau một tuần nữa, đã chắc chắn ghép sống thì cắt gốc ghép ở phía trên vị trí ghép 3-4cm. Tiến hành chăm sóc, bón phân và cắt bỏ các mầm dại để cây tập trung nuôi phần ghép.

3. Cây vải

Trồng gốc ghép. Cây gốc ghép cho vải tốt nhất là cây cùng họ (vải chua...), lấy hạt chín già. Rửa sạch nhẹ nhàng, chọn hạt mẩy rồi đem gieo; có thể ủ thúc mầm trong các ẩm.

Làm luống đất, bón lót. Luống rộng 1m, cao 20-25cm rãnh rộng 30cm gieo theo rạch cách nhau 20-25cm hoặc gieo thời vụ cách nhau 10cm. Lấp đất bột và phủ rơm rác khô.

Chăm sóc đầy đủ để cây mọc khỏe, mập

Sau khi gieo 1-2 tuần, mầm cao 10cm, cần tỉa mầm yếu. Sau 2 tháng, đối với cây có cành, cần điều chỉnh khoảng cách giữa các cây non. Nếu di dời đi trồng, thì khoảng cách giữa các cây là 20-25cm. Cắt bỏ bớt lá, chỉ để một số lá ở đỉnh cây. Tưới và che mát cho cây. Khi cây có đường kính ở gốc từ 0,8cm trở lên, thì có thể tiến hành ghép.

Cành ghép chọn ở cây có nhiều ưu điểm, ở đó lấy cành 1-2 năm tuổi, có gỗ, mầm khỏe, vỏ trơn, độ lớn tương ứng với gốc ghép. Nếu cây gốc ghép to, có thể chọn cành ghép 2-3 năm tuổi. Ghép trên cây to có thể lấy cành của cây 3-4 năm tuổi. Trước khi ghép 2-3 tuần, có thể cắt khoanh vỏ ở phần gốc cành ghép để tập trung dinh dưỡng cho phần cành ghép.

Phương pháp và thời gian ghép. Thường dùng cách ghép mầm và ghép cành cho vải và ghép vào tháng 4, 5 và tháng 9, 10 khi vỏ gốc ghép dễ tách vỏ.

Các thao tác ghép phải nhanh, chính xác để giảm thiểu sự oxy hóa ta-nanh tại miệng vết thương. Đảm bảo đủ ẩm cho vết ghép, do đó phải buộc kín cành ghép và miệng ghép, có thể dùng sáp bôi lên cành ghép, nên buộc thêm một lớp giấy bên ngoài để che nắng.

Chăm sóc gồm cắt cây cây gốc ghép (nếu mắt ghép sống) hoặc ghép bổ sung (nếu mắt ghép không sống). Khi cây non mọc 30cm thì ngắt ngọn, giữ lại 3-5 cành để nuôi thành cành chính. Cây vải non 1 năm tuổi có thể có 4-5 cành. Cần bón phân khi cây non ra cành mới. Tiến hành phun thuốc trừ sâu bệnh khi cần thiết.



Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2018

Kỹ thuật trồng cây Dâu Tây

Kỹ thuật trồng cây Dâu Tây

Cây dâu đòi hỏi ánh sáng dồi dào thì mới sinh trưởng mạnh, thiếu ánh sáng thường ảnh hưởng đến khả năng ra hoa kết quả. Am độkhông khí cao và mưa kéo dài thường xuất hiện bệnh cây.


Dâu tây thích hợp với các loại đất thịt nhẹ, hàm lượng chất hữu cơ cao, đất ấm, giữ ẩm nhưng thoát nước tốt. Nếu đất giàu chất hữu cơ cây dâu tây sẽ phát triển tốt, năng suất cao và kéo dài thời gian thu hoạch quả. Độ ẩm cần thiết trên 4%, độ pH thích hợp từ 6-7.

Dâu tây thích hợp với khí hậu mát lạnh. Nhiệt độ phù hợp cho cây dâu từ 18-22°C. Đặc biệt là nhiệt độ ngày đêm cao sẽ tạo điều kiện để tăng năng suất và chất lượng trái.

Cây dâu đòi hỏi ánh sáng dồi dào thì mới sinh trưởng mạnh, thiếu ánh sáng thường ảnh hưởng đến khả năng ra hoa kết quả. Am độkhông khí cao và mưa kéo dài thường xuất hiện bệnh cây.

KỸ THUẬT LÀM ĐẤT, LÊN LUỐNG:

Chọn đất thịt nhẹ, vùng cao ráo, thoát nước tốt. Cây dâu tây là đối tượng của sâu bệnh khá phong phú. Anh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng trái khi thu hoạch, do đó biện pháp chọn đất, làm đất, xử lý đat cần phải chú trọng đúng mức để hạn chế nguồn bệnh ban đầu lây lan từ đất.

· Vệ sinh đồng ruộng thu dọn tất cả tàn dư cây trồng, cỏ dại.

· Làm đất và xử lý vôi 100 kg/1.000m2 và các loại thuốc sâu, thuốc bệnh.

· Bón lót các loại phân.

Luống trồng:


· Luống cao 20 – 25 cm ở vùng đất thấp.

· Luống cao 15 – 20 cm ở vùng đất cao.

Trồng trong nhà nilông: Trồng hàng 3, rò rãnh 1,2m – 1,3m; cây x cây: 35 – 40 cm.

Trồng ngoài trời: Trồng hàng 3 (kiểu nanh sấu), rò rảnh 1,2m – 1,3m, cây x cây: 40 – 45 cm (tùy thuộc vào giống, đất và điều kiện thâm canh). Với điều kiện khí hậu Đà Lạt nếu trồng mật độ dày sẽ dễ phát triển bệnh cây.

PHÂN BÓN:

Cây dâu đòi hỏi dinh dưỡng nay đủ và cân đối. Ngoài NPK, cần quan tâm đến nhóm trung lượng, vi lượng vì nó quyết định quan trọng đến chất lượng và khả năng kháng bệnh của cây dâu. Thâm canh cây dâu đòi hỏi phải bón phân đầy đủ phân hữu cơ để bảo đảm lượng mùn trong đất cao ( 8% - 10%) trong điều kiện thuộc đất Đà Lạt thuộc diện nghèo mùn.

Phân hữ cơ sử dụng cho cây dâu cần phải ủ nóng và xử lý thuốc nấm bệnh và đạt yêu cầu hoai mục trứớc khi sử dụng để tránh lây lan nguồn sâu bệnh và cỏ dại.

Bón phân đạm cho cây dâu cần chú ý đến màu sắc của lá thời kỳ, tốc độ sinhtrưởng phát dục để điiều chỉnh liều lượng tăng hay giảm thích hợp.

Phân lân ảnh hưởng đến khả năng ra hoa, đậu trái, phát triển hệ rễ và ra ngó(mạ) của cây dâu.

Phân Kali quyết định về năng suất, trọng lượng độ cứng, chất lượng trái. Khả năng kháng bệnh của cây dâu và tăng cường quang hợp trong điều kiện thiếu ánh sáng trong vụ hè thu, nhất là canh tác trong nhà nilông (cây dâu yêu cầu ánh sáng dồi dào).

Canxi, Bo, Magiê  ảnh hưởng quang trọng đếnchất lượng trái. Canxi còn tạo điều kiện cho sự hấp thụ dinh dưỡng được điều hòa vả hạn che một số bệnh sinh lý trên trái.

Bo ảnh hưởng đến khả năng phân hóa mầm hoa, đậu hoa, chất lượng vàkể cà độ cứng của trái.

Lượng phân đề nghị bón cho cây dâu 1.000m2 (bìnhquân) trong năm thứ nhất (kiến thiết cơ bản và định hình).

· Bón vôi 2 đợt/năm:

- Đợt 1: Bón lót 100 kg.

- Đợt 2: 06 tháng sau khi trồng bón bổ sung 50 kg.

· Lượng phân định kỳ bón năm thứ nhất là 10 lần/năm, nếu 02 tháng bón 01 lần thì sử dụng lượng gấp đôi. Nếu sử dụng phân đơn thì mỗi đợt bón phân định kỳ có thể bón 10 kg ure, 08 kg kali sunphat và 06 kg supper lân, thay phân hỗn hợp. Sử dụng Acid Boric và MgSO4 phun xịt định kỳ qua lá.

· Chu kỳ kinh doanh của cây dâu thu hoạch trái kéo dài đến 02 năm hay hơn. Nếu dâu tây trên 01 năm tuổi chức năng sinh lý của rễ kém ảnh hưởng đến hấp thụ dưỡng liệu, do đó nên bổ sung phân qua lá. Đa dạng: đa vi lượng, đa trung lượng định kỳ 10-15 ngày xịt 01 lần.

· Bón phân cho dâu theo nguyên tắc bón ít nhưng bón nhiều lần trong năm. Lượng phân theo khuyến cáo như trên đối với bón định kỳ có thể tăng hay giảm tùy thuộc vào sức sinh trưởng, phát dục, giai đoạn bội thu, chu kỳ ra trái của cây dâu.

Thu hoạch và bảo quản dâu tây

Thu hoạch và bảo quản dâu tây

Cách bảo quản quả dâu tây sau khi đã thu hoạch trên ruộng về


1. Thu hoạch


- Khi thị trường gần, thu hoạch khi 75 % quả đỏ hoặc hồng.

- Khi thị trường xa, thu hoạch khi 20-40% quả đỏ hoặc hồng. .

- Một biểu hiện khác của qu gần chín là khi thu hoạch tai qu cong lên, da bóng có mùi thm đặc biệt.

- Thu hái vào lúc trời mát, ráo sương, thường từ 8-10 giờ sáng hoặc sau 3 giờ chiều.

- Không để nơi có ánh nắng lọt vào, dùng lá dâu phủ lên rổ chứa qu.

- Dùng ngón tay bấm nhẹ cuống qu để vào các rồ nhỏ sạch, kết hợp phân loại sau đó dồn chung vào rổ to chừng 20 kg, có lót và phủ lá dâu bên trên.

2. Phân loại

Loại l: Quả to đẹp, không sâu bệnh, không dập nát.

Loại 2: Quả vừa đẹp, không sâu bệnh, không dập nát.

Loại 3: Quả nhỏ, sâu, dập nát, quả quá chín.

3. Đóng gói và vận chuyển

-Dâu tây được đóng gói trong những hộp carton nhỏ nông, hoặc giỏ nông có lót lá. Trong khi vận chuyền, những hộp hoặc giỏ nhỏ được xếp vào giỏ lớn, cũng nông.

-Lớp quả ờ đáy hộp xếp cuống quả quay xuống dưới, các lớp giữa thì để nằm ngang đấu cuống vào nhau.

- Khi vận chuyền không để chồng hộp vào nhau. Trên xe có giá gỗ để hộp được thông thoáng và vận chuyển khi trời mát hoặc ban đêm.

4. Bảo quản


Quả dâu mọng dễ dập nát vì vậy nếu không bán được trong ngày thì phải chế biến làm rượu hay mứt.

5. Cách làm si rô dâu

- 3-4 kg dâu tươi, nhặt cuống, rửa sạch, đề ráo.

- Trộn đều với 1kg vòng trắng. Bỏ vào thấu đề nơi thoáng mát.

- Sau 3-5 ngày (tại Đà Lạt), khi đã lên men xong, các trái nổi lên. Đem lọc qua vải mùng được si rô hay cocktail.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc vườn lê

Kỹ thuật trồng và chăm sóc vườn lê

Khi trồng, cuốc 1 hốc vừa bằng bầu cây ở chính giữa hố, mặt bầu đặt cao hơn mặt hố 5-6cm, chèn đất chặt xung quanh, tưới đẫm nước. Tuần đầu, nếu không mưa thì tưới hàng ngày, sau đó vài ngày tưới 1 lần tùy theo thời tiết.


Thời vụ trồng thích hợp với cây lê từ tháng 2 - 4, nếu trời ấm có thể trồng từ tháng 1.

Đất trồng lê được cày sâu 25 - 30cm, hố được chuẩn bị trước 1 đến 2 tháng, kích thước hố 50 x 50 x 60cm, bón lót 30 - 40 kg phân chuồng hoai, 1 kg super lân, 0,2 kg vôi bột, 0,1kg kali. Trộn đều phân với đất mặt và lấp đầy hố. Hố đào cách nhau 5 x 5m hoặc 5 x 7m

Khi trồng, cuốc 1 hốc vừa bằng bầu cây ở chính giữa hố, mặt bầu đặt cao hơn mặt hố 5-6cm, chèn đất chặt xung quanh, tưới đẫm nước. Tùy theo địa hình mà trồng thẳng cả hàng dọc và hàng ngang. Tuần đầu, nếu không mưa thì tưới hàng ngày, sau đó vài ngày tưới 1 lần tùy theo thời tiết.

Năm đầu bón thúc 0,3 - 0,4kg urê cho 1 cây. Từ năm thứ 2 đến khi cây có hoa bói, bón hàng năm cho 1 cây 20 - 30 kg phân chuồng, 1 kg super lân, 0,7kg ure, 0,5kg kali vào đầu năm. Khi cây cho thu hoạch hàng năm bón cho 1 cây 30 - 40kg phân chuồng, 1,5 super lân, 1 kg ure, 1kg kali và chia ra làm 2 lần: đón hoa và sau thu hoạch.

Những năm đầu, cần thường xuyên tạo tán cho cây lên, để cây có tán tròn, các cành hướng về các phía, cân đối.

Loại bỏ các cành vô hiệu, các cành tăm, cành ở giữa khung tán. Kịp thời cắt bỏ những chồi dại mọc từ gốc ghép, các cành vượt ở thân chính.

Hàng năm, khi cây lê trút hết lá để qua đông, cần tiến hành các biện pháp vệ sinh cho vườn lê. Cắt bỏ các cành khô, cành bị sâu bệnh. Thu dọn các cành lá sâu bệnh để đốt.

Quan sát trên thân và cành lớn, nếu có dấu hiệu sâu đục thân, đục cành, gặm vỏ thì khoét rộng lỗ đục của sâu để bơm thuốc hoặc luồn dây kẽm diệt sâu.

Bới lớp đất xung quanh gốc để phát hiện nấm bệnh hại vỏ ở cổ rễ. Nếu có thì dùng dao sắc gọt vỏ và quét Boóc đô đặc 10% hoặc phun Aliette.

Trong quá trình sinh trưởng, cây lê thường bị sâu ăn lá, sâu cuốn lá, sâu đục quả, đục thân. Đối với các loại côn trùng này có thể phun Padan 25SP pha 0,05 - 0,1%, hoặc ofatox 50EC pha 0,05%. Cây lê có thể bị các loại rệp muội, rệp sáp, rệp vảy vỏ và nhện đỏ hại lá, có thể phun supracid 20EC pha 0,1% hoặc selecron 500ND pha 0,1%

Các loại bệnh hại lá và quả lê có nấm gây đốm xám hoặc nấm phấn trắng... cần phun tilt super 300ND pha 0,1%. Trên cành to và thân nếu có hiện tượng chảy nhựa thì cạo sạch vết bệnh và xử lý bằng aliette 80WP pha 0,2%.

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2018

Quả Trâm mốc hạ đường huyết

Quả Trâm mốc hạ đường huyết

Cây trâm có tên khoa học là Syzygium cumini, là loại cây gỗ lớn, cao đến khoảng 10m, nhánh cây có màu trắng mốc nên có nơi còn gọi là trâm mốc.


Cây có lá đơn, mọc đối, phiến nguyên hình bầu dục, đầu tù, gân phụ nhiều cách nhau 4- 6mm. Hoa tạo thành chùm, kéo dài 5cm, ở nách lá rụng, đài hình đĩa không răng, 4 – 5 cánh hoa, dính thành chóp và cùng rụng, bầu nhụy 2 buồng, cọng có đốt ở đáy.

Trái phát triển vào tháng 6 hay tháng 7 và hình dáng là những quả nạc, trái trâm hình bầu dục, màu xanh lúc bắt đầu, trổ sang màu hồng và cuối cùng màu tím đen bóng khi trưởng thành, chín mùi có vị chua, chát, ngọt…

Theo các thầy thuốc, trái trâm có chứa nhiều chất anthocyanine, giàu chất vitamin A và giàu vitamin C, giúp tiêu hóa tốt, hạ thấp đường huyết, trị tiêu chảy, giảm kích thích thần kinh dạ dày và thần kinh trung ương, hạn chế tiết dịch vị, chữa ợ chua, viêm dạ dày…

Lá trâm mốc chứa nhiều tanin dễ tiêu và được dùng nấu nước uống như trà, có lợi cho bệnh nhân tiểu đường…

Chăm sóc cho cây ăn trái trong mùa mưa

Chăm sóc cho cây ăn trái trong mùa mưa

Cây ăn trái lâu năm nếu chăm sóc theo cách truyền thống đều sinh trưởng mạnh và cho trái trong mùa mưa


Tuy vậy cũng có những loại cây ăn trái cho trái quanh năm như chuối, dừa, đu đủ…Đối với những cây ăn trái theo mùa mưa nhưng áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp có thể giúp cây ra hoa đậu trái sớm hoặc ra trái vụ.


Theo PGS.TS Trần Văn Hâu – Trường ĐH Cần Thơ, vào đầu mùa mưa, cây ăn trái thường phát đọt mạnh, song rễ cây lại yếu do mưa nhiều làm đất yếm khí, khả khăng hút bón phân trước khi vào mùa mưa. Mặt khác mùa mưa cũng làm sâu bệnh dễ bộc phát, do đó cần bón các loại phân có tỷ lệ dinh dưỡng cân đối như NPK 16-16-16 Đầu Trâu hoặc NPK 20-20-15 Đầu Trâu +kali. Đối với những cây ra trái theo mùa cần bón phân theo thời kỳ sinh trưởng phát triển mới đem lại hiệu quả.

Giải đáp một số câu hỏi của nông dân về hiện tượng vàng lá, thối rễ trong mùa mưa hay cây cam sành mang trái sắp thu hoạch nhưng bón phân không những làm cây không phát triển mà còn bị rụng trái, vàng lá, TS. Nguyễn Văn Hòa – Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam cho rằng có thể do vườn cây ăn trái bị bệnh vàng lá thối rễ. Do vậy trước khi bón phân cần phải xử lý bệnh bằng cách xẽ rảnh để tiêu thoát nước, chống đọng nước, đồng thời bón vôi bột và tưới thuốc trị bệnh từ 2-3 lần, định kỳ 7 ngày/lần. Sau khi xử lý bệnh xong mới bón phân lân hoặc các loại phân có tác dụng kích thích bộ rễ phát mạnh. Khi cây hồi phục và bộ rễ phát triển mới bón phân tiếp tục.

Trả lời các câu hỏi về phân bón và cách bón phân của bà con nông dân, ThS. Phan Văn Tâm – Cty CP Phân bón Bình Điền cho rằng trong mùa mưa bà con cần phải áp dụng bón phân cân đối, sử dụng những loại phân có thành phần cân đối như NPK 16-16-16 và những loại phân có bổ sung thêm trung và vi lượng. Những loại phân có hiệu quả trong mùa mưa là phân chậm tan, giúp cây không phát quá nhanh nhưng bền cây và nuôi trái tốt.

Nhiều nông dân còn băn khoăn về cách bón rải trên mặt hay xới đất hoặc bón xong rồi tưới, PGS.TS Trần Văn Hâu hướng dẫn bà con nên xới nhẹ đất bằng cào răng ngắn rồi mới rải phân để hạn chế thất thoát phân bón cũng như không xới quá sâu làm tổn thương bộ rễ cây trồng.

Ngày nay, rất ít nhà vườn trồng cây ăn trái theo cách truyền thống mà hầu hết đã biết điều tiết bằng nhiều biện pháp kỹ thuật để cây ăn trái ra hoa theo ý muốn nhằm nâng cao hiệu quả, do vậy việc bón phân cũng cần phải áp dụng theo thời kỳ sinh trưởng của cây như sau:

Ngay sau thu hoạch: Cần cắt tỉa bớt các cành sâu bệnh, cành trong tán, cành đã mang trái vụ trước đồng thời bón vôi và phân hữu cơ cùng vô cơ vào gốc. Biện pháp này ngoài mục đích giúp vườn thông thoáng, hạn chế sâu bệnh còn kích thích cây đâm đọt mới, tạo cành lá cho cây ra hoa kết trái trong vụ tới.

Một số ý kiến lo ngại bón phân vô cơ cùng phân hữu sẽ làm chết vi sinh vật trong phân hữu cơ, điều này không đáng ngại vì lượng bón theo khuyến cáo là không nhiều, đồng thời vi sinh vật trong đa số các loại phân hữu cơ hiện nay không cao. Cần dùng cào ba răng xới nhẹ đất trong tán, sau đó rải phân theo đường chiếu của mép tán nhằm giúp phân bón tiếp cận với vùng rễ non của cây để dễ dàng hút phân hơn; đồng thời hạn chế thất thoát phân bón và tránh gây tổn thương rễ cây.

Với những cây ra hai cơi đọt mới ra hoa như xoài, nhãn có thể bón thêm một lần phân gốc khi cơi đọt 1 đã già, cơi đọt 2 chuẩn bị nhú. Để dưỡng đọt, bà con nên bổ sung thêm các loại phân bón lá có tác dụng kích phát đọt như 30-30-30 +TE, phân amino acid…nhằm giúp đọt phát triển mạnh và cân đối, nhanh bước vào thời kỳ ra hoa.

Để kích thích cây phân hóa mầm hoa và ra hoa tốt, bà con cần bón phân gốc với tỷ lệ lân và kali cao, đạm thấp vào thời điểm cơi đọt 2 chuyển già. Đồng thời cần xiết nước để hạn chế phát đọt mới và phun bổ sung phân bón lá có hàm lượng lân cao như 6-30-30 +TE và phân có vi lượng Bo cao để kích thích phân hóa tạo mầm hoa và kích thích hạt phấn phát triển.

Sau đậu trái khoảng 1 tuần cần phun phân bón lá có hàm lượng Bo cao để chống rụng trái non. Sau đậu trái khoảng 1 tháng cần bón phân NPK 16-16-16 hoặc Đầu Trâu AT3 để dưỡng trái. Việc bón phân gốc cần định kỳ 1,5-2 tháng/lần cho đến trước thu hoạch 1 tháng. Trong thời kỳ cây mang trái cần phun bổ sung các loại phân bó   có đạm và kali cao như 10-5-45 và các loại phân có hàm lượng canxi cao nhằm giúp trái lớn đều, chống nứt, nám, thối trái.

Với những nhà vườn để cây cho trái liên tục lứa này tiếp lứa kia như quýt, sapoche…thì cần áp dụng bón phân theo từng đợt đọt và hoa chính và phân bón gốc nên dùng NPK 16-16-16 Đầu Trâu. Các loại phân bón lá cũng nên dùng theo từng loại kích đọt 30-10-10 +TE, kích ra hoa 6-30-30 +TE và phân có Bor cao, nuôi trái dùng 10-5-45 và phân bón lá có canxi cao. Với những loại cây ăn trái ra hoa đầu cành cùng với đọt mới như cam quýt, chanh, bưởi…thì phân bón lá dưỡng đọt và kích ra bông nên sử dụng liên tiếp nhau hoặc pha chung để phun sẽ hiệu quả hơn.

Kỹ thuật trồng Cây lê

Kỹ thuật trồng Cây lê

Lê là một cây ăn quả đặc sản của vùng ôn đới nước ta, lê được trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc tập trung ở những nơi có độ cao 500 – 1500m so với mợc nước biển.

Một số giống lê ở miền Bắc nước ta

Lê xanh: phân bố ở độ cao 6000m trở lên (SaPa, Bắc Hà) quả hình bầu dục , vỏ màu xanh có má phớt hồng, trọng lượng quả trung bình 300 – 400g, thịt quả trắng, nhiều nước, ăn ngọt, năng suất cao, phẩm chất khá, quả chín vào tháng 9,10.

Lê nâu: phân bố rộng, quả tròn, tròn dẹt nâu có chấm, trọng lượng quả trung bình 200 – 300 g thịt quả khô ngon, thơm khi chưa chín có vị chát, ra hoa vào tháng 3, 4; thu hoạch tháng 8,9; năng suất 300-750kg/cây.
ả nhỏ hình thoi, trọng lượng 150 – 170g, thtj quả mịn, nhiều nước, loại này ra 2 vụ quả trên năm. Vụ đầu ra hoa vào tháng 2,3; quả chín vào tháng 5,6. Vụ sau ra hoa vào tháng 6, 7, quả chín vào tháng 9,10.

Mắc coọc (lê cọt): phạm vi phân bố rộng, mọc khoẻ, quả nhỏ trọng lượng trung bình 100g, vỏ qủa thô ráp, thịt quả khô, có vị chát.

Kỹ thuật trồng trọt


Nhân giống:


Ghép cây: sử dụng gốc ghép là cây chua chat, nắc cọoc, thời vụ ghép từ tháng 7 đến tháng 10.

Chiết cành: như chiết các loại cây ăn quả thông thường

Giâm cành: chọn cành bánh tẻ 1 năm tuổi ở cây có năng suất caovà ổn định, lấy đoạn ở giữa cành, thời vụ giâm vào tháng 12, 1.

Thời vụ: Trồng vào vụ xuân.

Khoảng cách: cây cách cây 6 – 7m , hàng cách hàng6 – 8m.

Đào hố: sâu 50 – 60cm, rộng 60 – 80cm, bón 20 – 30kg phân chuồng, 0,5 – 1kg lân; 0,2kg vôi trộn đều với lớp đất mặt đua xuống đáy hố lấp hố trước trồng 30 ngày. Khi trồng mắt ghép phải quay về hướng gioa chính, trồng xong tưới nước, cắm cọc định vị.

Bón phân: Khi cây còn nhỏ (1 -5 tuổi) bón bổ sung 30kg phân hữu cơ, 2kg đạm, 2kg lân, 2kg kali/cây/năm. Khi cây lớn đã cho thu hoạch thì cần bón tăng cường -30-40kg phân hữu cơ, 4kg đạm, 2 kg lân, 2 kg kali/cây/năm.

Lượng phân trên bón làm 2 lần:

Lần 1: vào tháng 2,3: nhằm nuôi lộc cành

Lần 2: bón vào tháng 9,10: phục hồi cây sau thu hoạch.

Phòng trừ sâu bệnh


Sâu cắn lá, cuốn lá, xoăn lá: dùng Dipterec 0,1%, Padan 0,1%, Dimẻcon 0,1% phun lên lá vào lúc trời râm máy.

Sâu đục thân: dùng Dipterec hoặc vôphatốc hoà với vôi quét lên thân cây.

Chú ý việc phun thuốc trừ sâu phải chấm dứt trước thu hoạch tối thiểu 15 ngày.

Vị thuốc từ quả trám

Vị thuốc từ quả trám

Quả trám là một loại quả dùng làm thực phẩm và có tác dụng chữa bệnh tốt. Theo y học cổ truyền, quả trám có vị chua, ngọt, chát, tính ấm, vào kinh phế, có tác dụng thanh nhiệt, sinh tân chỉ khát, giải độc, lợi hầu họng, không độc.

Trám có nhiều loài khác nhau: trám trắng, trám đen, trám hồng. Quả trám còn gọi thanh quả hay cảm lãm (fructus canarii), được thu hái khi chín; có thể dùng tươi hoặc đem muối, sau đó phơi khô, hoặc sấy khô để chế các món ăn, có lợi cho hầu họng.

Thành phần hóa học, quả trám chứa protid, chất béo, hydrat cacbon, beta- caroten, acid oleannolic, một số khoáng chất: Ca, K, P, Fe, Mg, Mn, Zn, Cu… và vitamin C. Hạt quả trám chứa các acid béo.

1. Quả trám giải độc

1. 1 Giã rượu: 12 quả trám, 1,5g phèn chua, trước tiên dùng nước lạnh rửa sạch trám, lấy dao khía trên mỗi quả bốn năm đường rồi nhét phèn vào những vết khía ấy, nhai nhỏ nuốt dần để giã rượu. Hoặc trám tươi 10 quả sắc lấy nước uống có tác dụng giải rượu.

1.2 Nôn mửa khi có thai: Trám 12g, vỏ quýt 9g, dùng lửa to hấp cách thủy cho chín rồi uống, mỗi ngày 1 lần, dùng để chữa chứng nôn mửa khi có thai.

1.3 Chữa kiết lỵ: Trám 100g đem sắc với 200ml nước cô còn 100ml thì lọc bỏ bã lấy nước, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần khoảng 25 – 30ml, có công dụng chữa bệnh kiết lỵ.

1.4 Giải độc cá nóc: Trám tươi 50g, rửa sạch bỏ hạt sao chín, sắc uống, có công dụng giải độc cá nóc.

1.5 Hóc xương: Trám 5 quả sắc lấy nước uống hoặc ngậm quả trám, nuốt lấy nước, chữa hóc xương

1.6 Động kinh: Trám tươi 480g, uất kim 24g, phèn chua 24g. Trước tiên, đập nát trám rồi cho nước vào sắc kỹ, lấy bỏ hạt rồi lại cho uất kim vào sắc cùng, cuối cùng cho phèn chua sắc tiếp, cô còn chừng 500ml là được, uống mỗi ngày 20ml vào buổi sáng sớm với nước ấm, có tác dụng chữa bệnh động kinh.

1.7 Viêm da: Trám tươi 1.000g sắc với 1.000ml nước bằng lửa nhỏ, sau đó lọc bỏ bã lấy nước ngâm để chữa các bệnh lý ngoài da có viêm loét, viêm phần phụ…

2. Một số bài thuốc vị thuốc  trị bệnh từ quả trám

2.1 Trị đau họng, sưng amidan, ho, miệng khô, khát nước:

Quả trám rửa sạch, bỏ hạt, nấu với nước, nấu 2 – 3 lần, mỗi lần đun sôi 1 giờ, để lắng, gạn bỏ cặn, lọc qua vải xô, cô thành cao 2:1, thêm đường đủ ngọt, ngày uống 2-3 lần trước bữa ăn, mỗi lần 5-10ml. Có thể uống nhiều ngày liền cho đến khi hết các triệu chứng.

2.2 Trị lỵ:

Quả trám tươi khoảng 90g, để nguyên hạt sắc với nước (2 – 3 lần), gộp dịch chiết, cô lại lấy cao, theo tỷ lệ 1:1, chia 3 lần uống trong ngày trước bữa ăn. Khi uống cần kiêng ăn các thứ tanh: cua, cá, lòng trắng trứng… Có thể uống nhiều ngày cho tới khi hết các triệu chứng.

2.3 Trị đau nhức xương khớp:

Vỏ trám hồng, cạo bỏ lớp bần bên ngoài, thái nhỏ, sắc nước uống, ngày 10 – 12g, chia 3 lần sau bữa ăn. Có thể thay vỏ bằng lá trám.

2.4 Trị đau răng, sâu răng:

Quả trám đốt thành than, tán bột mịn, trộn với một ít xạ hương, rồi bôi và xỉa vào chỗ răng đau. Hoặc lấy vỏ thân cây trám trắng cạo bỏ lớp vỏ đen bên ngoài, thái mỏng phơi khô, sắc lấy nước, ngậm 10 phút rồi nhổ đi. Ngày làm nhiều lần. Có thể phối hợp với rễ chanh, rễ cây trẩu hoặc rễ cà dại.

2.5 Trị lở sơn:

Vỏ cây trám, cạo bỏ lớp bần, thái nhỏ, nấu nước tắm, ngày 2 lần.

2.6 Trị tràng nhạc (loa lịch):

Hạt trám, hạt gấc, vỏ quả mướp đắng, đốt thành than, tán bột mịn, trộn đều với dầu thực vật hoặc mỡ lợn, bôi vào chỗ đau.

2.7 Trị nứt nẻ kẽ ngón và gót chân khi trời rét:

Hạt trám trắng đốt thành than, tán mịn, trộn đều với dầu thực vật, bôi vào chỗ đau.

2.8 Trị hóc xương cá:

Quả trám trắng hoặc trám đen, nhai giập nuốt dần lấy nước; hoặc lấy 5 quả trám, sắc lấy nước, ngậm và nuốt dần. Hoặc chỉ lấy phần thịt quả trám, giã nát, ép lấy nước, uống dần. Hoặc lấy hạt quả trám, đốt tồn tính, rễ cây đậu ván trắng, thái nhỏ. Cả hai tán thành bột mịn, trộn đều, mỗi lần uống 4 – 6g. Tuy nhiên, cách làm này chỉ áp dụng với trường hợp bị hóc các xương cá nhỏ.

Cách phòng trừ bệnh cháy lá và chết ngọn

Cách phòng trừ bệnh cháy lá và chết ngọn

Bệnh cháy lá và chết ngọn là bệnh gây hại nghiêm trọng trên lá của cả cây con và cây trong vườn ở giai đoạn kinh doanh. Trong vườn ươm, nó có thể là bệnh hại quan trọng nhất vì chúng gây thiệt hại đến 40-50%. Trên cây lớn chúng gây chết lá, cành và rụng lá dẫn đến hiện tượng làm giảm năng suất.

1.Tác nhân

Bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây ra. Nấm bệnh phát triển và tạo nhiều hạch nấm ở điều kiện nhiệt độ thích hợp nhất là 28°C. Nấm phát triển kém ở 35°C và ngưng phát triển ở 100°C.

2.Triệu chứng


Bệnh phát sinh trên cả lá già và lá non, bắt đầu bằng những đốm nhỏ, sũng nước sau đó liên kết lại thành mảng bất dạng nhũn nước hay phỏng nước sôi trên lá.

Những đóm này sau đó khô đi và chuyển sang màu nâu sáng với rìa màu nâu tối và gây biến dạng lá và làm lá quăn lại. Bệnh thường gây hại tập trung từng cụm trên vườn ươm và sau đó lây lan rộng rãi. Các lá bị bệnh có thể kết dính lại do sự mọc lan của sợi nấm, đôi khi thấy có những hạch nấm màu nâu dạng tròn hay dẹp nhỏ. Do đó có khi khô chúng dính lại với nhau nhưng không rụng. Bệnh có thể tấn công trên thân non làm khô chết phần ngọn phía trên và sau đó có màu trắng xám.

3. Biện pháp phòng trừ

+ Ở giai đoạn cây con: Bệnh có thể được tránh bằng cách tưới nước thường xuyên nhưng không tưới quá ẩm, cây con nên để khoảng cách thưa, bệnh có thể khống chế bằng cách phun lên lá các loại thuốc như Monceren, Benomyl, Carbendazim, Topsin M. hoặc có thể tưới lên đất.
+ Trong vườn cây lớn cũng nên phun các loại thuốc trên thường xuyên hoặc có thể tiêm thuốc vào cây.
+ Loại bỏ cành, lá bị bệnh trong vườn, vệ sinh vườn cũng rất cần thiết để giảm mật số mầm bệnh.
+ Vì đây là nấm đa ký chủ nên cần giảm cỏ trong vườn sẽ giúp hạn chế bệnh tốt.