Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Tư, 29 tháng 11, 2017

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cam

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cam

Sau mỗi mùa thu hái quả, công việc đốn tỉa, tạo hình cho cây cam phải được tiến hành thường xuyên như: cắt bỏ những cành khô, cành bị sâu bệnh, cành tăm, cành vượt, cành xiên vào tán, cành mọc quá dày, cành quá yếu nhằm tạo cho cây thông thoáng, ít sâu bệnh.


1. Mật độ trồng cam, kỹ thuật làm đất và chọn cây xen canh

Trước khi trồng một tháng, đất phải được dọn sạch cỏ, cày bừa kĩ, chia lô, rạch hàng, đào hố bón phân lót (hoặc làm mô trồng)

Mật độ trồng đối với các cây ghép trên gốc gieo hạt là 300-500 cây/ha. Khoảng cấy cây và hàng có thể là 4mx5m.

Các loại cam ghép gốc nhân vô tính (Chiết ghép), có thể trồng với mật độ dày hơn 800-1200 cây/ha, với khoảng cách khoảng 4mx2m, 3mx3m, 3mx4m.

Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long người ta thương làm mô để trồng cam. Để đắp thành mô, tốt nhất dùng đất ao, nương vườn cũ đất mặt ruộng hay đất bãi bồi ven sông, phơi khô. Mô có kích thước rộng 60-80cm, cao 20-30cm. Phần giữa mô nên trộn với 100-200 g phân lân và 5-10kg phân chuồng hay rơm rác ủ mục để tạo điều kiện cho rễ cây phát triển trong giai đoạn đầu.

Hoặc có thể trồng bằng hố với kích thước hố đào 40cmx40cmx40cm hoặc 60cmx60cmx60cm. Ở vùng đồi núi cao cần đào hố sâu hơn, rộng hơn: 70cmx70cmx70cm. Lớp đất đào lên được trộ đều với 30kg phân chuồng hoai mục loại tốt, trộn với 0,2-0,5kg phân Văn Điển (tecmô phôt phát), với 0,1-0,2kg sulfat kali (K2SO4). Lấp hố trước khi trồng 15-20 ngày.

Như vây khi vườn cam nhà bạn trồng với khoảng cách giữa các cây là 1m là quá dày. Với khoảng cách quá dày này bạn khó chăm sóc và đặc biệt là không nên trồng xen bạc hà vì không còn khoảng cung cấp dinh dưỡng cho vườn cam của bạn.

2. Kỹ thuật bón phân

Tùy vào tuổi của cây, điều kiện tự nhiên, khí hậu mà tiến hành bón phân cho vườn cam có khác nhau. Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long các nhà trồng cây ăn quả thường bón:

Cây 1-3 tuổi bón cho 1 cây: 70-300g ure; 100-300g DAP và 100g clorua kali (KCl)

Cây 4-6 tuổi bón: 350-450g ure; 450-550g DAP và 250g clorua kali/cây.

Cây 7-9 tuổi bón: 600-750g ure; 650-850gDAP; 350g clorua kali/cây

Cây 10 tuổi bón: 800-1700g ure; 900-1100g DAP, 450g clorua kali/cây.

Cách bón: Đối với cây 1-2 năm tuổi pha phân hóa học vào nước tưới cho cây. Đối với cây đã cho quả thì chia làm 4 lần để bón:

Lần 1: Trước khi ra hoa: bón 1/3 lượng phân đạm

Lần 2: sau khi đậu quả 6-8 tuần, bón 1/3 đam và 1//2 kali

Lần 3: trước khi thu hoạch 1-2 tháng bó 1/2 kali

Lần 4: sau khi thu hoạch xong, bón toàn bộ phân lân và 1/3 phân đạm

Bón thêm phân hữu cơ với lượng 20kg/cây.

3. Chăm sóc


- Thời kí kiến thiết cơ bản cây cam chưa có quả cần chú ý xen tỉa cành tạo tán cho cây. Người ta cắt tỉa bớt các cành nhỏ, cành vợt và cành mọc sâu trong tán. Đặc biệt cần tỉa bỏ những cành nhánh bị sâu gây hại. Công việc tỉa cành, tạo tán cũng cần được tiến hành thường xuyên hàng năm sau mỗi mùa thu hái quả. Cần cắt bỏ những cành khô, cành tăm, cành quả mọc yếu và những cành bị sâu bệnh gây hại nhằm tạo tán cây thông thoáng loại bỏ một phần sâu bệnh hại.

- Hoa cây ăn quả có múi thường rất nhiều, nhưng tỉ lệ đậu quả thường thấp, chỉ vào khoảng 2-8% tùy thuộc vào điều kiện thời tiết chăm bón và đặc điểm giống,loài. Do đó thời kì nụ, hoa, quả non người ta thường tỉa bớt các hoa dị hình, nhưng hoa quả non ra muộn và ở các vị trí không thích hợp cho việc hình thành và phát triển quả. Công việc này có thể được thực hiện bằng cách phun các chất điều hòa sinh trưởng.

- Ở thời kì quả khoảng 1-2 tuần lễ cần tiến hành sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng kết hợp với bón phân bổ sung và các nguyên tố vi lượng để tăng tỷ lệ đậu quả và thúc đẩy nhanh quá trình lớn của quả, giảm lượng hạt và làm đẹp mã quả. Biện pháp này đặc biệt có hiệu quả khi sử dụng dạng chelat.

- Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nông dân thường thực hiện trong những năm đầu khi cây còn nhỏ, giữ cho xung quanh mô trồng cam, thật sạch và phủ ở mô bằng rơm rạ, cỏ khô để giữ ẩm.

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

Kỹ Thuật Trồng Cam Sành

Kỹ Thuật Trồng Cam Sành

Cam sành là một giống cây ăn quả thuộc chi Cam chanh có quả gần như quả cam, có nguồn gốc từ Việt Nam. Quả cam sành rất dễ nhận ra nhờ lớp vỏ dầy, sần sùi giống bề mặt mảnh sành, và thường có màu lục nhạt khi chín có sắc cam, các múi thịt có màu cam.


I./ Đặc tính giống:

Cam sành được nhân giống từ nguồn sạch bệnh, Trái dạng tròn dẹp, màu vàng sậm, thịt trái nhiều nước, dẻo, hương vị chua ngọt, trọng lượng trung bình 275 gram/ trái. Chu kỳ khai thác 10 – 15 năm. Phù hợp ăn tươi, chế biến và tiêu thụ nội địa.

Chọn cây giống ghép, đảm bảo tiêu chuẩn trồng và đúng giống, qui cách 60-80 cm, cây xanh tốt, không vàng lá, sâu bệnh.

II./ Kỹ thuật trồng:

1/ Chuẩn bị đất trồng:

- Khoảng cách trồng: 6m x 5m, hoặc 5m x 4m

- Kích thước hố: 40cm x 40cm x 40cm, hoặc 60 x 60 x 60 cm.

- Bón phân vào hố: Bón lót: 30 - 40 kg phân chuồng hoai mục + 0,3 – 0,5 kg lân + 0,1-0,2 kg Kali + Vôi bột 0,5 - 1 kg; thuốc sâu bột (Basudin 10H...) 0,1kg). Trộn đều lượng phân trên (không có vôi và thuốc) với lớp đất mặt và lớp đất giữa (khi đào hố để riêng). Trả lớp đất dưới xuống hố, tiếp đó lấp phân và đất đã trộn xuống hố, dùng cuốc phá thành hố sau đó rải vôi lên mặt hố và lấp đất mỏng 2-3 cm. Tiếp đó bơm nước vào đầy hố, khoảng 10-15 ngày sau bón thuốc sâu bột trên mặt hố, dùng cuốc đảo trộn đều khoảng 15 ngày sau là trồng được. Nếu không có phân chuồng có thể sử dụng phân hữu cơ sinh học với lượng 10 – 15 kg/hố. Dùng phân xanh thì phải ủ trước 2 -3 tháng với vôi cho đến khi hoai mục.

2. Bón phân cho cam sành:
Tuổi cây Phân chuồng (kg/cây) Urê Kg/cây Lân Kg/cây Kali Kg/cây
1-3 20-30 0,1-0,3 0,3-0,5 0,2
4-6 30-50 0,4-0,5 0,6-1,2 0,3
7-9 60-90 0,6-0,8 1,3-1,8 0,4
Trên 10 100 0,8-1,5 2,0 0,5
* Thời kỳ bón:

- Cây từ 1-3 tuổi:có phân chuồng + phân lân bón vào tháng 12 đến tháng 01.
Đạm urê và kali bón làm 3 lần: Lần 1: vào tháng 1-2: 30% đạm; Lần 2: vào tháng 4-5: 40% đạm + 100%kali; Lần 3: tháng 8 - 9: 30% đạm. (thời gian bón còn tùy thuộc vào khí hậu từng vùng)

- Năm thứ 4 trở đi: phân chuồng + lân + vãi sau khi thu hoạch quả (quả tháng 12 sang tháng 1). Thúc lần 1(Bón đón lộc xuân ): Khỏang từ 15/2-15/3: 40% đạm + 40% kali; + Thúc lần 2: vào tháng 4-5: 30% đạm + 30% kali; Thúc lần 3 (Bón thúc cành thu và nuôi quả ): vào tháng 6-7: 30% đạm + 30% kali.
Cách bón: Sau khi thu hoạch: bón theo vành mép tán, đào rãnh sâu 20cm, rộng 30cm. Các loại phân trộn đều cho vào rãnh lấp kín đất, tủ rơm giữ ẩm. Bón thúc vào Lần 1, lần 2 và 3: trộn đều các loại phân hóa học rải đều trong vòng tán cây, với đảo sâu 4-5cm, vùi đất lấp kín, tủ rơm rác giữ ẩm.

3. Tưới nước:

Sau trồng tưới ướt đẩm đất, Sau trồng hai ngày tưới 1 lần, khi cây xanh tốt trở lại 5 - 7 ngày tưới 1 lần. thời kỳ khô hạn, ít mưa nên tưới 3 - 5 ngày 1 lần. Tưới dặm nếu nắng gắt, thoát nước kịp thời khi bị úng. Tiến hành tủ gốc cam.

4/ Sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ:

- Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella ): Sâu non đục vào lá gây nên những đường ngoằn ngoèo, thường đi chung với bệnh loét gây nên.

- Tỉa cành, bón phân hợp lý, điều khiển sự ra chồi sao cho đồng loạt để hạn chế sư lây nhiễm liên tục trong năm. Phòng trừ bằng cách phun thuốc sớm ngay từ giai đoạn cây ra lộc non . Sử dụng 1 trong các loại thuốc: Phosphomidon, Dimethoate, Trigard, Abamectin và Dimilin có hiệu qủa phòng trị tốt sâu vẽ bùa. Bên cạnh các loại thuốc hóa học thì hiệu quả của dầu khoáng đối với sâu vẽ bùa cũng đã được khẳng định.

- Sâu đục thân, cành: Sâu đục rỗng thân cành gây chảy mủ, cành chết. Sâu đùn mạt cưa ra ngoài miệng hang. Phòng trừ bằng cách cắt bỏ cành bị hại nặng, chích thuốc trừ sâu vào lỗ đục (Dùng thuốc cypermap 25EC, Map permethrin 50EC…), có thể rải ít Basudin 10 H, dùng móc sắt bắt sâu.

- Nhện đỏ, nhện trắng: Có thể sử dụng thuốc hoá học khi mật số Nhện đạt 3 con thành trùng /lá hoặc trái. Sử dụng các loại thuốc đặc trị Nhện, các loại thuốc trừ Sâu gốc Cúc hoặc Lân hữu cơ kết hợp với Dầu khoáng. Ðể ngăn chặn sự bộc phát tính kháng thuốc, khi sử dụng thuốc hóa học cần luân phiên các loại thuốc có gốc hóa học khác nhau. Có thể sử dụng các loại thuốc như Comite, Trebon, Pegasus, Bi 58, Kelthane, Danitol, Ortus 5SC, Selecron 500EC/ND... (theo liều lượng khuyến cáo) và Dầu khóang DC-Tron Plus (nồng độ 0,5%)...

Bệnh Bồ hóng: Bệnh thường xuất hiện nơi râm mát, và đây là bệnh kế phát sau khi có sự hiện diện của côn trùng họ chích hút. Nấm phát triển trên bề mặt lá, cành non, tạo thành lớp dày che kín cả mặt lá, thân, trái. Hạn chế sự phát triển của nhóm côn trùng họ chích hút, bằng các loại thuốc đặc trị cho từng nhóm côn trùng chích hút ấy. Dùng máy phun nước lên tán cây rửa trôi các chất thải của côn trùng họ chích hút thải ra. Hạn chế sử dụng phân bón qua lá, nếu phun phân bón qua lá nhiều bệnh gây hại ngày càng nặng hơn. Phun thuốc trị khi bệnh nặng: Copper B 75 WP, Derosal 60 WP, Kumulus 80 DF, Champion 77 WP với nồng độ 0,2-0,5% hoặc Chlorine 0,04%, phun 7-10 ngày/lần.

5. Các biện pháp chăm sóc khác:

Thường xuyên làm sạch cỏ và trồng cây xen che phủ đất, giữ ẩm, hạn chế cỏ dại theo phương châm lấy ngắn nuôi dài (có thể trồng chuối trong 2 -3 năm đầu)

Tạo tán: đối với cây ghép được tiến hành như sau:Khi chồi mắt ghép cao 30-40 cm thì bấm ngọn tạo cành cấp 1. Khi cành cấp 1 dài 30-40 cm bấm ngọn để tạo cành cấp 2, từ các cành này mọc ra cành cấp 3. Nên để 3-4 cành cấp 1; 6-8 cành cấp 2 và 12-16 cành cấp 3 để tạo cho cây có tán hình mâm xôi, thấp cây dễ chăm sóc.

Thời kỳ nụ hoa, quả non: tỉa hoa dị hình, quả ra muộn. Thời kỳ đậu quả 1-2 tuần: phun bổ sung chất dinh dưỡng và nguyên tố vi lượng.

6/ Chăm sóc cam sau thu hoạch:

Cam, quýt sau thu hoạch cần được chăm sóc, vệ sinh, cắt tỉa, phòng trừ sâu bệnh để cây tiếp tục phát triển và cho mùa bội thu sau.

- Tiến hành làm sạch cỏ dại, sau 25 - 30 ngày thu hoạch cắt tỉa các cành sâu bệnh, cành tược, khô héo, cành tăm hương, mọc không đúng hướng...

- Quét vôi vào gốc cây ngăn sự cư trú của sâu bệnh.

- Phòng trừ sâu bệnh bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp: bón phân đầy đủ, cân đối, kịp thời, bón đúng kỹ thuật, phun thuốc đúng lúc, đúng cách.

7/ Xử lý ra hoa:
Ngưng tưới và rút nước mương (nếu có) khoảng 2-4 tuần cho đến khi cây vừa "xào lá" (lá hơi héo vào buổi chiều nhưng sáng mai không tươi lại hoàn toàn). Sau đó tưới nước đẫm lại ba ngày liền, ngày tưới hai lần. Ngày thứ tư thì tưới mỗi ngày/lần.

Sau khi tưới nước lại bộ lá tươi trở lại, pha 35ml RA HOA C.A.T + 15g F.Bo/8 lít hoặc kích phát tố hoa trái Thiên Nông 7g + 15g F.Bo/8 lít , phun sương đều tán cây và trong thân cây hai lần (5 ngày/lần) thúc ra hoa đồng loạt, sau khi cây ra đọt non tưới hai ngày/lần.

8/ Thu hái và bảo quản:

Khi quả có màu đỏ da cam và vàng lá cam 1/3 – 1/4 diện tích vỏ quả thì thu hoạch, thu hoạch và ngày nắng ráo, dùng kéo cắt hạn chế rụng lá gãy cành.

Kỹ thuật trồng cam

Kỹ thuật trồng cam

Chọn cây giống ghép, đảm bảo tiêu chuẩn trồng và đúng giống, qui cách 60-80 cm, cây xanh tốt, không vàng lá, sâu bệnh


1. Thời vụ trồng:

- Miền Bắc: Vụ Xuân tháng 2, 3, 4. Vụ Thu trồng trong tháng 8 - 10.
Đặt bầu cây thẳng đứng và cao hơn mặt đất ở giữa hố đã đào, nén chặt đất và tưới nước giữ ẩm. Trồng xen cây họ đậu khi cây cam còn nhỏ.

2. Làm đất, đào hố, bón phân:

Trước khi trồng, cày cuốc sâu 20 - 30 cm, bừa nhỏ và phẳng, nhặt hết cỏ. Đào hố rộng 60cm - 80cm, sâu 60cm. Lượng phân bón cho 1 hố như sau: Phân hữu cơ 30 - 50kg, super lân 250 - 300kg, kali 200 - 250gr + 1kg vôi bột trộn đều với lớp đất mặt. Việc đào hố, bón lót phải chuẩn bị xong trước khi trồng 1 tháng.

3. Mật độ, khoảng cách trồng:

Tuỳ theo giống, đất đai, khí hậu, địa hình để xác định khoảng cách trồng có thể 5m x 4m, 4m x 4m, 3m x 4m. Mật độ tương ứng các khoảng cách này là 500 cây/ha, 620 cây/ha và 830 cây/ha.

4. Chăm sóc vườn cam, quýt:

- Làm cỏ: Thường xuyên làm sạch cỏ dại cho vườn cam, quýt.

- Bón phân: Lượng phân bón tính theo tuổi và tuỳ tình hình sinh trưởng của cây theo 2 thời kỳ: cam, quýt chưa có quả (từ 1 đến 3 năm tuổi) và cam quýt đã có quả (từ 4 năm tuổi trở đi).
Tuổi cây Phân chuồng / cây (kg) Urê / cây (kg) Super lân / cây (kg) Clorua Kali / cây (kg)
Từ 1 - 3 năm tuổi 20-25 0,2-0,3 0,5-0,7 0,2
Từ 4 - 6 năm tuổi 25-50 0,5-0,6 0,8-1,2 0,3
Từ 7 - 8 năm tuổi trở đi 60-90 0,8-1,0 1,2-1,5 0,5


- Thời vụ bón cho vườn cam đang có quả: Bón làm 4 đợt trong năm:

+ Đợt 1: Bón vào tháng 9 - 11, 100% lượng phân hữu cơ, lân, vôi.
+ Đợt 2 (bón đón hoa, thúc cành Xuân): từ ngày 15/1 - 15/2 bón 40% lượng đạm urê + 30% lượng kali.
+ Đợt 3 (bón thúc quả, chống rụng quả): Tháng 5 bón 30% lượng đạm urê + 40% lượng kali.
+ Đợt 4 (bón thúc cành Thu và tăng khối lượng quả) Tháng 7 - 8, bón 30% lượng đạm + 30% lượng kali. Nếu có điều kiện, sau khi cam đậu quả 10 - 15 ngày phun phân bón qua lá phức hữu cơ Pomior 4 lần, mỗi lần cách nhau 1 tuần.

- Phương pháp bón phân:


- Bón lót: Đào rãnh quanh tán lá sâu 20 - 30cm, rộng 30 - 40cm, cho phân hữu cơ, lân, vôi xuống lấp đất lại, ủ rơm rạ.

- Bón thúc: Xới nhẹ đất theo tán cây sau đó rắc phân, rồi tưới nước cho cây để phân ngấm vào đất.

5. Phòng trừ sâu bệnh cho cam, quýt:

a.  Sâu vẽ bùa: Phá hại quanh năm nhất là từ tháng 4 đến tháng 10.

- Phòng trừ: Phun cho các đợt lộc của cây từ 1 - 2 lần bằng 1 trong các loại thuốc sau đây: Sumisizin pha đồng độ 0,1%, Decis pha nồng độ 0,1%, Sherpa pha nồng độ 0,1% Padan pha nồng độ 0,1 - 0,2%, Nicotex, Supracide nồng độ 0,1-0,2%.

b. Nhện đỏ: Hoạt động quanh năm, nhiều nhất là mùa Đông và mùa Xuân phá hoại cành lá non và quả.

- Phòng trừ: Dùng 1 trong các loại thuốc sau đây để phun: lưu huỳnh vôi (Vụ Hè Thu: 0,2-0,30 Bô mê, Vụ Xuân: 0,5 - 10 Bômê), Kentan pha nồng độ 0,1%, Danitol - S 50EC pha nồng độ 1%, Monocrotophos 56% pha nồng độ 0,1 - 0,2%, Methamidsphos 600 dạng nước nồng độ pha 0,2%.

c.  Sâu đục cành: Sâu bắt đầu phá từ tháng 5 và tháng 6. Trên 1 cây có thể có hàng chục con sâu đục cành, nếu 2 - 3 năm liền bị hại thì cây sẽ mau chết.

- Phòng trừ: Dùng vợt để bắt khi chúng bắt đầu vũ hoá, dùng rơm, rạ, Ofatox pha nồng độ 0,1% quất chặt thâ cây và cành to, khi xén tóc chiu ra gặp thuốc sẽ chết.

 + Trừ sâu non: Dùng ống tiêm bơm thuốc Ofatox hoặc SumisiZin pha nồng độ 1/200 hoặc 1/100, Monito nồng độ 0,2% vào đường hầm của sâu non rồi dùng đất sét bịt kín lỗ lại.

 d. Rầy chổng cánh: Đây là môi giới truyền bệnh vàng lá cam, một bệnh nguy hiểm trong sản xuất cam, quýt hiện nay.

- Phòng trừ: Dùng 1 trong các loại thuốc Bassa 50EC (pha nồng độ 0,2%) Applaud - Mipcin pha nồng độ (0,2%), Shrezol pha nồng độ 0,2% phun cho các đợt lộc của cây, mỗi đợt lộc 2 lần (lần đầu khi cây phát lộc, lần 2 khi lộc ra rộ).

e. Ruồi đục quả: Dùng bẫy bả để diệt là chủ yếu. Pha Methyl. Euzennol loãng cùng với Nales 5% bôi vào mặt cắt quả cam, quýt đổ bôi lên cây dẫn dụ và diệt ruồi đực, ngoài ra có thể phun Dipterex 0,05%.

f. Bệnh loét: Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas Citri hại lá, cành, quả, gai, lá bị loét nặng sẽ mau rụng, quả bị bệnh có thể rụng nhưng phần lớn các quả bị bệnh dễ thối.

- Phòng trừ:

+ Làm vệ sinh vườn ươm, vườn sản xuất cam, cắt bỏ cành bị bệnh đem đốt.
+ Diệt sâu vẽ bùa trong các tháng mùa hè để tránh vi khuẩn xâm nhiễm theo vết đục của sâu non.
+ Phun 1 trong các loại thuốc: Booc-đô nồng độ 1%, Zineb nồng độ 0,5 - 1%, Casuran nồng độ 1%.

Kỹ thuật nhân giống cam quýt

Kỹ thuật nhân giống cam quýt

Giới thiệu các phương pháp nhân giống phổ biến với cam quýt, ngoài ra có thể áp dụng cho các dòng cây có múi


1. Nhân giống bằng phương pháp gieo hạt:

Là phương pháp lấy hạt giống cam quýt cho nảy mầm thành cây con. Hạt giống được thu từ quả đã chín thuần thục, trong điều kiện thích hợp, nảy mầm hình thành cây mới.

Nhân giống theo phương pháp này có ưu điểm: vận chuyển và bảo quản hạt giống dễ dàng, kích thước hạt giống nhỏ nên có hệ số nhân giống cao, cây con mọc từ hạt có bộ rễ khỏe, ăn sâu xuống đất.

Nhược điểm: cây con mọc từ hạt thường biến dị, không giữ được phẩm chất cây mẹ. Thời kỳ kiến thiết cơ bản dài, lâu cho ra quả. Sản lượng quả trên đơn vị diện tích thông thường thấp hơn so với sử dụng giống nhân bằng các phương pháp khác.

2. Nhân giống bằng phương pháp giâm cành:

Cam quýt và nhiều loại cây ăn quả khác có thể nhân giống bằng phương pháp giâm cành. Cắt một đoạn cành bánh tẻ dài khoảng 15 cm, bỏ hết lá, cắm nghiêng xuống đất ẩm, nơi thoáng mát, đầu cành chồi lên khoảng 5 cm. Sau một thời gian cành ra rễ và phát triển thành cây mới.

Phương pháp này dễ làm nhưng có nhược điểm là tỷ lệ cành giâm bị chết cao.

3. Nhân giống bằng phương pháp chiết cành:

Đây là phương pháp nhân giống cổ truyền cho nhiều loại cây ăn quả.

Cách làm: Cắt một khoanh vỏ dài khoảng 3 - 4 cm trên cành định chiết, cạo hết thượng tầng, để se khô, bọc đất xung quanh, khi ra rễ cắt khỏi cây mẹ sẽ được một cây mới.

Chú ý:
Chọn cây mẹ khỏe, cành chiết đủ tiêu chuẩn của cây mẹ, tuổi cành khoảng 2 - 3 năm.

Thời vụ chiết: vào khoảng tháng 3 - 4, hạ bầu vào tháng 5 - 6

- Vụ Thu: chiết vào tháng 8 - 9, hạ bầu vào tháng 10 - 11

4. Nhân giống bằng phương pháp ghép:

Là phương pháp nhân giống phổ biến nhất hiện nay, khắc phục được những nhược điểm của gieo hạt, giâm cành, chiết cành và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn. Nhưng để có được cây giống tốt, cần làm tốt các công việc sau:

- Sản xuất gốc ghép: giống cây gốc ghép là bưởi chua hoặc chấp. Vườn ươm nhân giống phải cách xa vùng bệnh vàng lá cam quýt. Cây gốc ghép có thể ra ngôi trực tiếp trên luống hoặc túi bầu có kích thước 15 x 25 cm đựng hỗn hợp đất phân. Cây gốc ghép cần giữ trong điều kiện cách ly nguồn bệnh và đặc biệt cần phòng trừ triệt để rầy chổng cánh là môi giới truyền bệnh vàng lá.

- Tuyển chọn cây mẹ ưu tú để lấy mắt ghép: chọn cây mẹ lấy mắt ghép ít nhất đã có 5 năm cho quả, cây sinh trưởng tốt, cho năng suất cao và ổn định, chất lượng quả ngon. Đặc biệt là cây lấy mắt ghép không nhiễm bệnh vàng lá.

Chỉ lấy những mắt trên các cành khỏe, lấy mắt ở phần giữa cành dài khoảng 20 cm cho 5 - 6 mắt ghép.

- Thời vụ ghép: thời vụ ghép thuận lợi ở các tỉnh phía Bắc là các tháng 2, 3, 5, 7, 8, 9 khi thời tiết khô ráo.

- Phương pháp ghép: phương pháp ghép cam quýt phổ biến hiện nay là ghép chữ T hoặc ghép mắt dạng mảnh.

+ Phương pháp ghép chữ T: có thể ghép trên gốc từ 9 - 12 tháng tuổi. Dùng dao ghép cắt 2 lát trên gốc ghép cách mặt đất 15 - 20 cm (1 dọc, 1 ngang) tạo ra hình chữ T. Lấy mũi dao nạy vỏ theo vết dọc để luồn mắt ghép vào. Lấy mắt ghép bằng một lát cắt từ dưới mắt ghép đưa lên, sao cho mắt ghép lấy đi có dính một màng gỗ mỏng, đặt lên vết cắt hình chữ T đã tạo trên gốc ghép rồi cuốn lại bằng dây tự hoại.

+ Ghép mắt dạng mảnh: dùng dao ghép cắt 2 lát trên cành lấy mắt ghép để lấy mắt (cả gỗ và vỏ), cắt 2 lát tương tự trên gốc ghép, đưa mắt ghép vào và cuốn lại bằng dây tự hoại.

- Chăm sóc sau ghép: cây giống sau khi ghép cần được chăm sóc tốt. Tưới và bón phân đầy đủ, thông thường sử dụng NPK với tỷ lệ 5 : 7 : 5 pha loãng tưới hàng tháng. Cây giống tốt nhất được giữ trong nhà lưới chống côn trùng và phòng trừ triệt để sâu bệnh như rầy chổng cánh, sâu vẽ bùa, bệnh sẹo, loét... Cây con trong vườn ươm cần được bấm ngọn, tạo tán... Khi cây có 2 - 3 cành cấp 1, chiều cao thân chính từ 40 - 60 cm và sinh trưởng tốt, không bị bệnh vàng lá mới đem đi trồng.

Kỹ thuật trồng cây cam canh

Kỹ thuật trồng cây cam canh

Cây cam Canh (còn gọi là cam đường) có giá trị kinh tế cao nhưng đòi hỏi phải áp dụng tốt các biện pháp thâm canh. Để trồng cam đạt hiệu quả cao, khắc phục một số hiện tượng: ít quả, nứt hoặc khô quả, ra quả cách năm, cần áp dụng đồng bộ các biện pháp thâm canh


I. Nguồn gốc, đặc điểm

* Nguồn gốc: Là giống được trồng lâu đời ở xã Vân Canh – Hoài Đức (Hà Tây). Đang được trồng nhiều ở Từ Liêm (Hà Nội), Văn Giang (Hưng Yên).

* Đặc điểm: Cây sinh trưởng khoẻ, tán cây hình dù, lá không eo, màu xanh đậm. Cây cao 3-3,5 m, đường kình 3-4 m, ra hoa tháng 2-3. Thu hoạch tháng 11-12.

  Quả hình cầu dẹt, chín màu đỏ, vỏ mọng, ruột màu vàng, ăn ngọt, thơm. Trọng lượng trung bình 80 gr – 120 gr/quả.

II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

1. Làm đất, đào hố, bón lót

* Làm đất và đào hố: Làm sạch cỏ dại, đào hố theo kích thước rộng 60 cm, sâu 60 cm.

* Bón lót:
- Phân chuồng hoai mục: 20-30 kg/hố
- Super lân: 0,5-0,7 kg/hố
- Vôi bột: 0,3-0,5 kg/hố

2. Thời vụ, mật độ, cách trồng

* Thời vụ:

- Vụ Xuân trồng tháng 2-4.

- Vụ Thu trồng tháng 8-10.

* Mật độ khoảng cách

  Tuỳ theo từng vùng đất xấu tốt mà bố trí mật độ khác nhau: Khoảng cách trung bình (5 x 6 m), mật độ 333 cây/ha. Có điều kiện thâm canh cao trồng dày khoảng cách (3 x 3,5 m), mật độ 800 – 1.000 cây/ha.

* Cách trồng

  Hố thường phải đào trước khi trồng 15-30 ngày. Trộn đều toàn bộ lượng phân ở trên với lớp đất trên mặt, sau đó cho xuống đáy hố, tiếp theo lấp đất thành ụ cao so với mặt hố 15-20 cm.  Vét một hố nhỏ đặt bầu rồi lấp đất vừa kín bầu và nén chặt. Sau đó cắm cọc chéo chữ X vào cây và buộc để tránh làm lay gốc làm chết cây.

3. Chăm sóc sau  khi trồng

* Tưới nước:

  Sau khi trồng xong cần phải tưới nước ngay. Nếu trời nắng hạn tưới 1lần/ngày đến khi cây hồi phục sinh trưởng. Sau đó tuỳ điều kiện sinh trưởng và thời tiết để tưới.

* Bón phân

- Thời kỳ cây còn nhỏ 1-3 tuổi: Hàng năm cần bón thúc vào thời điểm: Tháng 1, tháng 2, tháng 5 và tháng 11.

  Lượng bón:
- Phân hữu cơ hoai mục: 5-20 kg/cây
- Đạm Urê: 0,1-0,2 kg/cây
- Super lân: 0,2-0,5 kg/cây
- Kali: 0,1-0,2 kg/cây
  Khi bón cần kết hợp xới xáo, làm cỏ.

- Thời kỳ thu hoạch từ năm thứ 4 trở đi: Hàng năm cần bón thúc vào thời điểm:

  + Bón cơ bản (tháng 8 – tháng 11): Phân hữu cơ + Super lân + Vôi.

  + Bón đón hoa, cành xuân từ 15/1 – 15/3: Đạm Urê + Kali.

  + Bón thúc tăng trọng quả vào tháng 5: Đạm Urê + Kali.

  + Bón thúc cành thu và tăng trọng quả tháng 7 – tháng 8: Đạm Urê + Kali.

  Ngoài ra bón cho cây sau khi thu hoạch làm cây chóng phục hồi, lượng bón thúc như sau:
  - Phân hữu cơ hoai mục::   20-30 kg/cây
  - Đạm Urê:   0,5-0,8 kg/cây
  - Super lân:   0,5-1,0 kg/cây
  - Kali:  0,1-0,3 kg/cây
  - Vôi bột:  0,5-1 kg/cây


  Các năm sau lượng phân tăng theo tuổi cây, năng suất quả và tuỳ thuộc loại đất để tăng hoặc giảm lượng phân bón.

  Cách bón: Đào rãnh hoặc hốc rộng 20 cm, sâu 15-20 cm xung quanh tán cây, rắc phân lấp đất, tưới đẫm nước.

* Bón tỉa cây

  Khi cây có quả, sau mỗi lần thu hoạch cần đốn tỉa bỏ cành nhỏ, cành trong tán, cành sâu bệnh... và tiến hành thường xuyên tạo thuận lợi cho việc hình thành quả.

* Phòng trừ sâu bệnh

  Thường xuyên kiểm tra vườn cây, phát hiện sâu bệnh kịp thời.

  Sử dụng các biện pháp canh tác (xén tỉa cành lá sâu bệnh...) sử dụng các loại thuốc BVTV sinh học, thuốc hoá học ít độc, không dùng thuốc cấm và chú ý sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và chú ý một số loại sâu bệnh...

- Bọ xít, nhện chích hút, rầy, rệp phun: Sherpa 25 EC; Trebon 2,5 EC; Pegasus 500 EC; Actara 25 WG; Danitol 10 EC...

- Bệnh loét sẹo, đốm lá thân và cành lớn, thân quả cần phun: Rhidomil MZ 73 WP; Score 250 EC; thuốc gốc đồng...

  Ngoài ra có thể dùng Basudin 10 G để trị kiến, mối, bọ cánh cứng: Trộn tỷ lệ 1 thuốc + 10 cát rắc xung quanh gốc và hố.

* Chú ý: Sử dụng thuốc theo nồng độ ghi ở nhãn thuốc.

III. Thu hoạch và bảo quản

   Khi quả già, vỏ quả hơi vàng màu đặc trưng của giống thì thu hoạch. Nên thu hái vào lúc trời râm mát, khô ráo. Quả thu hái về cần phân loại. Nếu vận chuyển đi xa khi đóng vào sọt hoặc thùng không quá 5 lớp (đóng sọt phải có lót rơm hoặc giấy giữa các lớp quả).

   Sau khi thu hoạch vệ sinh xung quanh tán cây, cắt tỉa cành già, cành sâu bệnh và tiếp tục chăm sóc.
  

Thứ Năm, 16 tháng 11, 2017

Kỹ thuật giâm cành bưởi diễn

Kỹ thuật giâm cành bưởi diễn

Kỹ thuật giâm cành là kỹ thuật nhân giống vô tính và có hệ số nhân giống tương đối cao so với kỹ thuật chiết cành. Đối với kỹ thuật giâm cành thì cây con mau cho trái, quần thể trồng tương đối đồng đều và đồng nhất về đặc tính giống.


Bưởi diễn là một trong những loại cây có giá trị kinh tế cao nhưng lại là loại cây rất khó ra rễ khi giâm cành. Tuy nhiên, nếu bà con áp dụng đúng kỹ thuật giâm cành, cây bưởi diễn vẫn có thể nhân giống được bằng cách giâm cành. Để đạt kết quả tốt khi giâm cành bưởi diễn, bà con cần tuân thủ nghiêm ngặt quy trình nhân giống, bao gồm từ khâu chọn cây giống mẹ, chọn cành giâm, hóa chất sử dụng để kích thích ra rễ, giá thể giâm cành đến những yếu tố ngoại cảnh như ẩm độ, nhiệt độ, ánh sáng. Tổng hợp những yếu tố này sẽ quyết định thành công của kỹ thuật giâm cành Bưởi diễn.

Quy trình trong kỹ thuật giâm cành bưởi diễn

1. Chọn cây Bưởi diễn đầu dòng để giâm cành:

Cây đầu dòng được sử dụng để nhân giống phải khỏe mạnh, không mang mầm bệnh và những côn trùng nguy hiểm. Cây bưởi diễn đầu dòng dùng để lấy cành giâm không nên sử dụng để khai thác trái, vì khi vừa khai thác trái cây vừa làm cây để giâm cành sẽ làm cho cây kiệt sức rất mau.

2. Chuẩn bị cành giâm:

Cành Bưởi diễn được sử dụng để giâm có thể lấy ở hai vị trí cành là cành ngang (mang trái) hoặc là cành đứng (cành vượt). Cành ngang thì chỉ lấy từ ngọn vào bên trong khoảng 20-25 cm. chú ý lấy cành giâm ở giai đoạn cây không ra hoa. Cành vượt có thể lấy từ phía ngọn vào trong 40-50 cm, cây con từ cành vượt này  sẽ có sức sống mạnh.

Chú ý: Cành giâm nên được thu lúc sáng sớm và trong tình trạng trương nước. Có thể giữ cành bưởi trong các bao plastic lớn, có phun nước bên trong và cột miệng bao để tránh tình trạng mất nước. Để bao plastic ở nơi thoáng mát, tránh ánh sáng tiếp xúc trực tiếp làm nhiệt độ bên trong bao tăng cao.

Chiều dài cành giâm từ khoảng 15-20cm. Tỉa bớt lá phía dưới đáy cành, giữ lại 5-7 lá. Cắt bớt 1/2 chiều dài lá để giảm thoát hơi nước. Vạt xéo đáy cành 1 góc 45 độ và dùng dao rạch vài đường ở đáy cành để tạo mô sẹo nhằm kích thích sự ra rễ ở mô sẹo.

3. Chuẩn bị hóa chất:

Hóa chất được sử dụng để giâm cành Bưởi diễn là các auxin tổng hợp, bao gồm 2,4-D và NAA . Nồng độ sử dụng: 500 ppm 2,4-D + 4.000 ppm NAA để kích thích ra rễ cành giâm bưởi diễn. Các hóa chất này bà con có thể mua ở các cửa hàng bán hóa chất tinh khiết và thường được chỉ dẫn cách pha trong cồn.

4. Giá thể giâm cành:

Giá thể giâm cành có 4 chức năng: giữ ẩm tốt, cố định cành giâm,  thoáng khí và che tối cho đáy cành. Có thể dùng trấu hoặc mụn xơ dừa để làm giá thể giâm cành. Dụng cụ giâm cành có thể là bồn chứa, rổ nhựa, khay bên trong chứa giá thể giâm cành. Đặt dụng cụ giâm cành trong nhà giâm cành hay đơn giản hơn là trùm lại bằng tấm nhựa kín, khoảng trống phía trên càng cao càng tốt, vì khi đó nó sẽ tăng khả năng giữ ẩm độ và giảm được nhiệt độ bên trong.

5. Cách giâm cành:

Lấy các cành giâm đã được chuẩn bị sẵn,sau đó nhúng đáy cành giâm vào hóa chất trong thời gian từ 3-4 giây. Cành giâm sau khi xử lý xong  ta để cho hóa chất thấm vào đáy cành. Khi hóa chất thấm khô, cắm cành giâm vào giá thể giâm.

6. Chăm sóc sau khi giâm cành:

Điều kiện ngoại cảnh sẽ ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ ra rễ, sức sống hay tỷ lệ chết của cành giâm. Nhiệt độ trong môi trường tốt nhất khoảng 2o-30 độ C. Nhiệt độ cao sẽ làm cho lá cành giâm trở nên vàng và rụng. Tỷ lệ lá còn trên cành ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ ra rễ của cành giâm. Chú ý, Ẩm độ của nơi giâm cành phải được duy trì ở mức 85-90% trong suốt thời gian giâm cành. Ánh sáng ở nơi giâm cành không quá cao, nên sử dụng ánh sáng khuếch tán trong khoảng 1.000 – 2.000lux. Tốt nhất, bà con nên để trong nhà có mái che bằng lá và không có ánh sáng trực tiếp chiếu vào. Ba yếu tố ngoại cảnh trên ảnh hưởng đến 60% sự thành công. Trong suốt quá trình giâm cành, bà con chú ý nếu thấy lá trên cành giâm còn xanh, không rụng, không vàng thì mức độ thành công sẽ trên 50%. Nên theo dõi nhiệt độ và ẩm độ thường xuyên, cần phải bảo đảm các yếu tố này trong khoảng tối hảo thì tỉ lệ thành công mới cao.

Phòng trừ sâu bệnh hại bưởi Diễn

Phòng trừ sâu bệnh hại bưởi Diễn

Bưởi Diễn là một trong những loại cây ăn quả mang lại giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, cũng có khá nhiều loại sâu bệnh gây hại tới đối tượng cây trồng này.


Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella)

Triệu chứng: Là loại sâu phá hoại cây ở thời kỳ lộc non, nhất là đợt lộc xuân. Sâu non nở ra ăn các lớp biểu bì trên lá non, cành non, quả non tạo thành các lớp ngoằn ngoèo có phủ sáp trắng, lá non xoăn lại cuối đường cong vẽ trên mặt lá, có sâu non bằng đầu kim. Sâu phá hoại mạnh ở tất cả các tháng trong năm, mạnh nhất từ tháng 2 - 10.

Biện pháp phòng trừ: Phun thuốc Polytrin 440 EC 25 ml/10 lít nước hoặc Selecron 500 EC 25 ml/10 lít nước, phun phòng 1 - 2 lần trong mỗi đợt cây có lộc non, quả non và hiệu quả nhất lúc lộc non dài từ 1 - 2 cm, quả non có đường kính 2 - 3 cm, phun ướt hết mặt lá non, quả non.

Bọ xít xanh (Rhynchocoris humeralis)

Triệu chứng: Trưởng thành và ấu trùng dùng vòi để chích hút dịch quả từ khi quả còn rất nhỏ. Chỗ vết chích có một chấm nhỏ và một quầng màu nâu. Trái còn nhỏ đã bị bọ chích hút nhiều thì sẽ vàng, rám và rụng sớm. Quả đã lớn bị bọ xít xanh gây hại thì dễ bị thối rụng.

Biện pháp phòng trừ: Dùng vợt tay để bắt bọ xít vào lúc sáng sớm hay chiều mát. Thường xuyên kiểm tra quả và những lá gần quả để phát hiện và thu gom ổ trứng đem tiêu hủy. Sử dụng một số loại thuốc như Bascide 50EC, dầu khoáng SK, Enspray 99 EC, Hoppercin 50 EC… để phun trừ.

Nhện đỏ (Panonychus citri)

Triệu chứng: Phát sinh quanh năm hại lá, chủ yếu vào vụ xuân. Nhện đỏ rất nhỏ, màu đỏ thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo đi. Trên lá nơi nhện tụ tập, mặt lá có những vòng tròn, lá bị bạc và hơi phồng.

Biện pháp phòng trừ: Dùng thuốc Comite 73EC 10 ml/10 lít nước; Ortus 5 SC, dầu khoáng SK, Newsodan 5.3 EC pha theo nồng độ khuyến cáo của nhà SX, phun ướt cả 2 mặt lá, phun lúc cây ra lộc non, quả non và phun sau khi cây đậu quả 10 - 15 ngày để phòng ngừa.

Rệp muội xanh (Aphis spiraecola) và rệp muội đen (Toxoptera aurantii)

Triệu chứng: Rệp muội xanh và rệp muội đen là 2 loài gây hại phổ biến với mật độ cao, làm lá vàng úa, phủ kín muội đen, dẫn đến giảm khả năng quang hợp, năng suất cũng như chất lượng quả. Rệp muội gây hại chủ yếu trên lá non, cành non, lá bị xoắn rộp, rệp tiết nước nhờn khiến lá bị muội đen.

Bón phân cho cây bưởi

Bón phân cho cây bưởi

Để duy trì tuổi thọ cây, từ khi bưởi bắt đầu cho trái, mỗi năm xới gốc bón 2 đợt phân hữu cơ hoai, mỗi đợt 1 bao phân cút hoặc phân gà trộn tro trấu, chủ yếu là sau thu hoạch và lúc đậu trái non.


Nếu đất chua cần bón vôi để nâng pH = 5,5 - 6 trước khi trồng.

Cây mới trồng, bón lót 10kg phân chuồng, 0,5kg phân lân, 0,2kg vôi. Lượng phân bón tuỳ thuộc vào tình trạng sinh trưởng của cây:

- Cây 1 - 3 năm tuổi, bón 1 - 3kg NPK (16-16- 8), 0,5 - 1kg super lân.

- Cây 4 - 6 năm tuổi, bón 4 -7kg NPK (16 - 16 -8), 0,5 - 1kg super lân.

- Cây 7 - 9 năm tuổi, bón 8 -15kg NPK (16 -16 -8), 0,5 - 1kg super lân.

Cách bón phân như sau:

- Cây từ 1-3 tuổi nên pha vào nước, tưới định kỳ 1 - 2 lần/tháng.

- Cây từ năm thứ 3 trở đi, bón 4 lần/năm, bón theo tán cây với lượng phân bón cho mỗi gốc:

Lần 1, sau khi thu hoạch, bón 10kg phân chuồng kèm 1/3 lượng phân NPK.
Lần 2, trước khi ra hoa 1 tháng, bón 1/3 lượng phân NPK.
Lần 3, sau khi đậu trái 1 tháng, bón 1/3 lượng phân NPK.
Lần 4, trước khi thu hoạch 1 - 2 tháng, bón 1 -2kg Kali.

Tăng cường phân bón vào những năm được mùa.

Ruồi – côn trùng mới đang gây hại trên bưởi

Ruồi – côn trùng mới đang gây hại trên bưởi

Hiện nay trên các vườn bưởi ở tỉnh Bến Tre đang bị đe dọa bởi một loại dịch hại mới phát triển và gây hại phổ biến trên các đọt bưởi mới ra, làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự sinh trưởng và phát triển của cây bưởi, đó là ruồi hại đọt bưởi


Trong những năm gần đây, diện tích trồng bưởi ngày càng mở rộng, nhất là bưởi da xanh, vì đây là loại trái cây có giá trị kinh tế cao.

Tuy nhiên, hiện nay trên các vườn bưởi ở tỉnh Bến Tre đang bị đe dọa bởi một loại dịch hại mới phát triển và gây hại phổ biến trên các đọt bưởi mới ra, làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự sinh trưởng và phát triển của cây bưởi, đó là ruồi hại đọt bưởi

Ruồi thuộc bộ Diptera họ Cecidomyiidae, tên tiếng Anh là Gall midge. Ruồi trưởng thành rất nhỏ, màu vàng nâu, dài khoảng 1,5mm. Chúng đẻ trứng trên các đọt bưởi vừa mới nhú ra như búp trà, sau đó nở ra dòi. Trứng rất nhỏ, mắt thường khó có thể nhìn thấy. Trứng nở trong vòng 1-2 ngày. Ấu trùng dạng dòi, mới nở màu trắng, tuổi lớn ngã màu vàng, dài khoảng 1,9mm. Chúng sống trong các đọt non chưa mở ra. Ấu trùng sống khoảng 8-12 ngày. Ấu trùng sau khi đẫy sức bún mình xuống đất hóa nhộng. Nhộng có màu vàng sáng khi mới và chuyển màu vàng đen khi sắp thành ruồi.

Đây là loại côn trùng mới xuất hiện trong thời gian gần đây, phá hại rất nhiều vườn bưởi, gây thiệt hại khá nặng. Triệu chứng để nhận biết sự xuất hiện của côn trùng này là những lá non bị nâu đen và rụng, chỉ còn trơ lại cọng đọt. Tuy nhiên, nếu nông dân phát hiện giai đoạn này thì quá trễ mà phải quan sát khi đọt vừa mới nhú ra khoảng 1-2cm, dùng tăm vạch lá non sẽ thấy dòi sinh sống trong đó với mật số rất cao.

Ruồi thuộc loài đa ký chủ ký sinh trên nhiều loại cây trồng.

Biện pháp phòng trừ:

Đây là loại côn trùng mới phát triển trong thời gian gần đây nên những nghiên cứu cũng như kinh nghiệm phòng trừ chưa nhiều, song bước đầu có những khuyến cáo như sau:

+ Ruồi gây hại ở giai đoạn đọt non mới phát triển, vì thế nên phun thuốc vào lúc lá non chưa mở, mới có sự hiện diện của chúng.

+ Cần vệ sinh vườn cho thông thoáng.

+ Dùng bẫy màu vàng để bắt ruồi trưởng thành.

+ Phủ màng bạc nylon ở gốc để ngăn cản sự hóa nhộng của ruồi.

+ Có thể phun dầu khoáng SK Enspray 99 ngay lúc ra đọt non.

+ Một số thuốc hóa học có hiệu quả như Map Jono 700WP + Map Green 6AS ( liều lượng 1gr + 8ml / bình 8 lít ) ; Map Winner 5 WG + Map Green 6AS ( liều lượng 2gr + 8ml / bình 8 lít ), Confidor 100SL liều lượng 6ml / bình 8 lít.

Chú ý: Ruồi rất mau tái nhiễm trở lại khi cây có đọt non mới, do đó phải theo dõi thường xuyên khi đọt non ra để xử lý.

Bưởi đỏ Luận Văn

Bưởi đỏ Luận Văn

Theo các bậc cao niên ở làng Luận Văn, xã Thọ Xương, huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa) giống bưởi đỏ nơi đây vốn là quả tiến vua có từ thời Hậu Lê.


Những năm gần đây các ngành chức năng đã phục tráng thành công và khuyến cáo sản xuất đại trà giống bưởi này. Vùng bảo hộ chỉ dẫn địa lý của bưởi Luận Văn được xác định của 2 xã Thọ Xương và Xuân Bái và một số xã phụ cận của huyện Thọ Xuân với diện tích 955 ha.

Đặc điểm thực vật


Bưởi Luận Văn thuộc nhóm bưởi đơn (Citrus grangdis), họ cây có múi (Citrus), là cây thân gỗ, cao trung bình 3 – 4m, vỏ thân có màu vàng nhạt, các cành nhỏ có gai nhỏ, nhọn. Lá hình trứng, có thùy, dài 11 – 12 cm, rộng 4,5 – 5,5 cm. Hoa kép, màu trắng, mọc thành chùm, thường nở vào tháng 2 ở Thanh Hóa và các tỉnh Bắc Trung bộ.

Quả hình cầu dẹt, đường kính trung bình 15 – 16 cm, khối lượng bình quân đạt 1 – 1,2 kg/quả. Vỏ quả màu xanh, khi chín chuyển dần từ màu vàng, màu hồng và cuối cùng là màu đỏ gấc rất hấp dẫn. Cùi màu hồng, nhiều hạt, tép màu đỏ tươi, ăn giòn, nhiều nước, dôn dốt ngọt, vị đậm, không the đắng và có mùi thơm đặc trưng. Bắt đầu chín từ tháng 12 dương lịch đến hết tháng 1 năm sau, trùng vào dịp tết cổ truyền của dân tộc.

Điều đáng quý đối với quả bưởi đỏ Luận Văn là có thể bảo quản trong điều kiện tự nhiên được 3 tháng mà không bị hỏng, chất lượng và hương vị không thay đổi. Bưởi Luận Văn khá sai quả, nếu chăm sóc, thâm canh tốt, ở tuổi kinh doanh thứ 5 có thể cho 150 – 200 quả/cây.

Bưởi Luận Văn vỏ đỏ hấp dẫn khách hàng

Hiệu quả kinh tế

Thấy được giá trị và hiệu quả kinh tế của giống bưởi đặc sản, sau khi được phục tráng và được cấp chứng nhận chỉ dẫn địa lý, huyện Thọ Xuân đã quyết định đưa giống bưởi Luận Văn làm cây mũi nhọn trong cơ cấu các giống cây trồng của địa phương trong thời gian tới.

Theo thống kê, ngoài 5 ha trồng theo dự án ở xã Thọ Xương, toàn huyện hiện có khoảng 500 hộ tham gia trồng bưởi đỏ Luận Văn với diện tích trên 50 ha, tập trung chủ yếu ở các xã Thọ Xương, Xuân Bái, Xuân Lam và một số xã lân cận. Một số hộ có diện tích trồng tập trung lớn như hộ ông Lê Minh Tâm, Nguyễn Văn Mậu, Nguyễn văn Tường (thôn Mục Ngoại, xã Thọ Xương), Trần Công Thắng, Lê Văn Nghiệp (thôn 2, xã Xuân Bái)… Hộ ông Trần Công Thắng trồng 70 gốc, trong đó có 60 gốc đang cho thu hoạch. Với giá bán bình quân từ 80 – 100 ngàn đồng/quả, mỗi năm cho thu nhập trên 30 triệu đồng. Ông Lê Trí Nhạc ở làng Luận Văn cho biết, hiện ông có 50 gốc bưởi, trong đó có 20 cây 10 năm tuổi, với giá bán buôn tại vườn từ 80 – 100 ngàn đồng/quả, vụ tết này ông cầm chắc 100 triệu đồng.

Đánh giá về hiệu quả của dự án “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình, trồng, thâm canh bưởi đặc sản Luận Văn” đang thực hiện tại địa phương, lãnh đạo xã Thọ Xương khẳng định, giống bưởi này sinh trưởng khỏe, phát triển nhanh, cho quả sai, chất lượng tốt, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng ngày càng cao nên bán được giá, cho hiệu quả kinh tế cao gấp nhiều lần so với các cây trồng khác.

Một số khuyến cáo

Từ các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh lý, sinh thái của giống, điều kiện thổ nhưỡng, qui trình canh tác… để xây dựng chỉ dẫn địa lý cho giống bưởi Luận Văn, ngoài việc áp dụng các biện pháp trong Quy trình kỹ thuật trồng bưởi do Bộ NN-PTNT đã ban hành, các nhà khoa học khuyến cáo bà con cần làm tốt một số điểm sau đây:

– Trồng bằng cây giống khỏe mạnh, không bị sâu bệnh, được nhân bằng phương pháp ghép từ mắt ghép của những cây đầu dòng đã được Sở NN-PTNT Thanh Hóa công nhận.

– Nên ưu tiên phát triển trong vùng bảo hộ đã được xác định có diện tích 955 ha của 2 xã Thọ Xương, Xuân Bái và một số xã phụ cận của huyện Thọ Xuân. Chất lượng đặc thù của sản phẩm gắn liền với đặc điểm nông hóa thổ nhưỡng đặc biệt của khu vực địa lý (đất đỏ vàng trên nền đất sét và đá biến chất, đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, tầng đất mặt dày trên 30 cm, tơi xốp, pH (KCL) trung tính. Vùng chỉ dẫn địa lý có thể được mở rộng bằng các biện pháp kỹ thuật canh tác được chuẩn hóa của ngành chức năng và người dân địa phương.

– Theo kinh nghiệm của một số người trồng bưởi Luận Văn giỏi ở Thọ Xương: Bưởi sẽ phát triển tốt và cho quả sai, chất lượng tốt, mã quả đẹp nếu được trồng trên đất thịt nhẹ, đất phù sa; được tưới nước, bón phân đầy đủ, cân đối các thành phần và đúng thời điểm cây cần. Có thể sử dụng nhiều loại phân khác nhau như: phân vi sinh, phân NPK tổng hợp, phân hữu cơ… trong đó quan trọng nhất vẫn là phân chuồng được ủ hoai mục sẽ giúp bền cây, ít sâu bệnh, tăng cường chất lượng và hương vị. Thường xuyên theo dõi, phát hiện để có biện pháp phòng trị kịp thời các đối tượng sâu bệnh hại.

Những năm đầu khi cây bưởi chưa khép tán có thể trồng xen thêm một số cây ổi vừa có thêm thu nhập, vừa để ngăn ngừa, xua đuổi rầy chổng cánh, một đối tượng gieo rắc bệnh greening rất nguy hiểm cho cây bưởi.

Hướng dẫn kỹ thuật trồng bưởi Quế Dương

Hướng dẫn kỹ thuật trồng bưởi Quế Dương

Cây giống phải được nhân từ cây mẹ đầu dòng tuyển chọn và phải đạt tiêu chuẩn ngành 10 TCN – 2001, cụ thể: cây giống sản xuất bằng phương pháp ghép phải được tạo hình cơ bản trong vườn ươm, có ít nhất 2 cành cấp 1 và không nhiều quá 3 cành.


I. Nguồn gốc giống

Bưới Quế Dương có nguồn gốc lâu đời ở Thôn Quế Dương, xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Quả hình tròn, hơi dẹt, khối lượng bình quân 1,2-1,5kg, có nhiều quả to tới 5kg/quả, cùi mỏng, khi chín vỏ có màu vàng đất đẹp, rất thơm; múi dày, tép nhiều nước, màu đỏ hồng, độ ngọt vừa phải (11-12% độ Brix) nên rất hấp dẫn người tiêu dùng. Năng suất rất cao, mỗi gốc bưởi cho từ 400-500 quả. Đây là giống bưởi chín sớm vào khoảng rằm tháng Tám âm lịch, vừa kịp phục vụ nhu cầu Tết Trung thu của các cháu, người trồng vừa có thời gian chăm sóc, phục hồi, dưỡng cây cho vụ quả tiếp theo nên giống bưởi này hầu như không có tính cách niên, mất mùa như các giống bưởi khác. Ngoài ra, Bưởi Quế Dương có khả năng kháng sâu bệnh và chịu úng rất tốt.

II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

1. Tiêu chuẩn giống trồng

Cây giống phải được nhân từ cây mẹ đầu dòng tuyển chọn và phải đạt tiêu chuẩn ngành 10 TCN – 2001, cụ thể: cây giống sản xuất bằng phương pháp ghép phải được tạo hình cơ bản trong vườn ươm, có ít nhất 2 cành cấp 1 và không nhiều quá 3 cành. Đường kính cành ghép cách điểm ghép đạt từ 0,5 – 0,7 cm; dài từ 50 cm trở lên; có bộ lá xanh tốt, không sâu, bệnh.

2. Chọn đất trồng và chuẩn bị đất trồng

- Chọn đất: Bưởi Quế Dương thích nghi tốt với loại đất thịt pha cát hay đất phù sa ven sông nên rất bền cây, khỏe mạnh, ít bị sâu bệnh hại và khả năng chịu úng ngập rất cao.

– Chuẩn bị đất trồng

Bao gồm: phát quang, san mặt bằng; thiết kế vườn trồng; đào hố; bón phân lót và lấp hố; các công việc khác như làm đường, mương rãnh tưới tiêu nước,…

+ Phát quang và san ủi mặt bằng

Đối với những đồi rừng chuyển sang trồng cây ăn quả nói chung và trồng bưởi Quế Dương đều phải phát quang, thậm chí phải đánh bỏ toàn bộ rễ cây rừng và san ủi tạo mặt phẳng tương đối để cho việc thiết kế vườn được dễ dàng. Trừ những nơi đất quá dốc (từ khoảng 100 trở lên) sẽ áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, nghĩa là chỉ phát quang, dãy cỏ, san lấp những chỗ quá gồ ghề sau đó thiết kế và đào hố trồng cây, còn ở những nơi đất không quá dốc hoặc bằng, sau khi phát quang, san ủi sơ bộ có thể dùng cày máy hoặc cày trâu cày bừa một lượt để vừa sạch cỏ vừa tạo cho bề mặt vườn tơi xốp ngăn được sự bốc hơi nước của vườn sau khi bị phát quang.

Đối với các loại đất chuyển đổi khác sang trồng bưởi Quế Dương cũng cần phải dọn sạch và tạo lại mặt bằng trước khi thiết kế.

– Thiết kế vườn trồng

+Tuỳ theo quy mô diện tích và địa hình đất mà có thiết kế vườn trồng một cách phù hợp. Đối với đất bằng hoặc có độ dốc từ 3 – 50 nên bố trí cây theo kiểu hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tam giác (kiểu nanh sấu). Đất có độ dốc từ 5 – 100 phải trồng cây theo đường đồng mức, khoảng cách của hàng cây là khoảng cách của đường đồng mức. Ở độ dốc 8 – 100  nên thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang đơn giản, dưới 80 có thể áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, trên 100 phải thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang kiên cố.

+ Bố trí mật độ, khoảng cách 4 m (tương ứng với 500 cây/ha). Đối với những vùng đất tốt hoặc có điều kiện đầu tư thâm canh và áp dụng các biện pháp đốn tỉa hàng năm có thể bố trí mật độ dày hơn (600 cây/ha). Mật độ trồng phụ thuộc vào và khả năng đầu tư thâm canh. Thông thường đối với bưởi Quế Dương trồng với khoảng cách 5 m

Ở những vùng đất dốc, hàng cây được bố trí theo đường đồng mức và khoảng cách giữa 2 đường đồng mức là khoảng cách giữa 2 hình chiếu của cây. Khoảng cách cây được xác định như nhau trên cùng một đường đồng mức, đường đồng mức dài hơn thì có số cây nhiều hơn.

– Đào hố trồng và bón lót

+ Kích thước hố rộng 0,8 – 1 m sâu 0,8 – 1 m. Đất xấu cần đào rộng hơn.

+ Bón phân lót cho 1 hố:

Bót lót cho mỗi hố 30 – 50 kg phân chuồng hoai (hoặc 5 – 7 kg phân vi sinh) + 1 kg supelân + bón vôi đủ điều chỉnh pH đất về ngưỡng thích hợp (từ 6 – 6,5). Toàn bộ lượng phân lót trên được trộn đều với tầng đất mặt và lấp hố. Lượng đất lấp hố cao hơn bề mặt hố từ 7 – 10 cm, dùng cọc thiết kế vườn đánh dấu tâm hố. Hố cần phải chuẩn bị trước khi trồng ít nhất 1 tháng.

3. Thời vụ trồng và cách trồng

– Thời vụ trồng tốt nhất vào tháng 2, 3 (có thể trồng vào tháng 8, 9).

– Cách trồng: Đào 1 hố nhỏ chính giữa hố trồng, đặt cây vào hố lấp đất vừa bằng cổ rễ hoặc cao hơn 2- 3 cm. Không được lấp quá sâu, trồng xong phải tưới ngay và dùng cỏ mục ủ gốc (lưu ý phải cách gốc từ 10- 15 cm để tránh sâu bệnh xâm nhập).

4. Chăm sóc sau khi trồng

– Tưới nước

Thường xuyên giữ ẩm trong vòng 20 ngày đến 1 tháng để cây hoàn toàn bén rễ và phục hồi. Sau đó tuỳ thời tiết nắng mưa để chống hạn hoặc chống úng cho cây. Trước khi thu hoạch 1 tháng ngừng tưới nước.

Về lượng nước tưới và số lần tưới phải dựa vào khả năng giữ nước của đất, lượng bốc hơi và lượng mưa để quyết định, phương pháp tưới có thể là tưới bề mặt hoặc tưới nhỏ giọt,… mỗi lần bón phân cần phải tưới nước để phân có thể hoà tan tạo điều kiện cho cây hấp thụ tốt hơn.

– Cắt tỉa tạo hình

+ Cắt tỉa cho cây trong thời kỳ chưa mang quả: Việc cắt tỉa được tiến hành ngay từ khi trồng. Để có được dạng hình hợp lý (hình bán cầu), cần thực hiện theo các bước sau:

Tạo cành cấp 1: Khi cây con đạt chiều cao 45 – 50 cm, cần bấm ngọn để tạo cành cấp 1. Chỉ để lại 3 – 4 cành cấp 1 phân bố tương đối đều về các hướng. Các cành cấp 1 này thường chọn  cành khoẻ, ít cong queo, cách nhau 7 – 10 cm trên thân chính và tạo với thân chính một góc xấp xỉ 450 – 600 để khung tán đều và thoáng.

Tạo cành cấp 2: Khi cành cấp 1 dài 25 – 30 cm, ta bấm ngọn để tạo cành cấp 2. Thông thường trên cành cấp 1 chỉ giữ lại 3 cành cấp 2 phân bố hợp lý về góc độ và hướng.

Tạo cành cấp 3: Cành cấp 3 là những cành tạo quả và mang quả cho những năm sau. Các cành này phải khống chế để chúng không giao nhau và sắp xếp theo các hướng khác nhau giúp cây quang hợp được tốt.

+ Cắt tỉa cho cây trong thời kỳ mang quả

Cắt tỉa sau thu hoạch: Được tiến hành sau khi thu hoạch quả. Cắt tỉa tất cả các cành sâu bệnh, cành chết, cành vượt, những cành quá dày, cắt tỉa bớt cành cấp 1 (nếu số cành cấp 1/cây quá dày) sao cho cây có bộ khung tán cân đối. Đối với cành thu, cắt bỏ những cành yếu, mọc quá dày.

Cắt tỉa vụ xuân: Được tiến hành vào giữa tháng 1 đến giữa tháng 3 hàng năm: Cắt bỏ những cành xuân chất lượng kém, cành sâu bệnh, cành mọc lộn xộn trong tán, những chùm hoa nhỏ, dầy, dị hình.

Cắt tỉa vụ hè: được tiến hành từ tháng 4 đến hết tháng 6: Cắt bỏ những cành hè mọc quá dày hoặc yếu, cành sâu bệnh, tỉa bỏ những quả nhỏ, dị hình.

– Bón phân

Thứ Sáu, 10 tháng 11, 2017

Chăm sóc bưởi Quế Dương thời kỳ mang quả

Chăm sóc bưởi Quế Dương thời kỳ mang quả

Những năm gần đây, người tiêu dùng biết thêm một giống bưởi đặc sản quả màu vàng chanh, to, múi quả mọng nước, vị ngọt ngon không the đắng, đó là giống bưởi Quế Dương (xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, Hà Nội.


Để năng suất, chất lượng ổn định, cho hiệu quả kinh tế cao bà con nông dân cần chăm sóc cây bưởi Quế Dương thời kỳ mang quả như sau: Làm cỏ, xới xáo và vệ sinh vườn cây Cắt cỏ thường xuyên kết hợp với xới xáo nhẹ trên mặt luống cách gốc 30 - 40 cm, quét vôi cho gốc cây ở độ cao 60 - 70 cm vào 2 đợt đầu và cuối mùa mưa (tháng 2 - 3 và 8 - 9). Tưới và thoát nước Tưới đủ ẩm và tưới theo phương pháp phun cho cây để tránh dí đất, thoát nước vào mùa mưa, không để vườn đọng nước quá lâu dễ làm thối bộ rễ tơ. Cắt tỉa Hàng năm tiến hành cắt tỉa tạo tán vào thời điểm sau khi thu hoạch quả; cắt tỉa những cành vượt, cành tăm, cành vô hiệu, cành bị sâu bệnh hại. Những chùm nào mang 2 - 3 quả cần tỉa bớt chỉ để 1 quả. Quản lý dịch hại Thực hiện quy trình phòng trừ tổng hợp được tiến hành theo 4 bước sau: Quản lý và chăm sóc vườn cây khỏe mạnh. Thường xuyên kiểm tra sâu bệnh hại trên cây, phát hiện và phòng chống kịp thời các ổ dịch trách sự lây lan. Tiến hành tổng hợp các biện pháp phòng trừ. Sử dụng bộ thuốc trừ sâu bệnh hại có chọn lọc. Tiến hành phun thuốc phòng trừ vào những thời điểm thích hợp. Kỹ thuật bao quả

+ Chuẩn bị trước khi bao quả Trước khi cây ra hoa, phun phòng trừ sâu vẽ bùa bằng thuốc Polytrin 25ml/10lít nước hoặc Selecron 25ml/10lít nước; Phun phòng trừ nhện đỏ, nhện trắng bằng thuốc Comite 10ml/10lít nước; Furmite 12ml + 30ml dầu khoáng SK hoặc Longph ABA 5.EC; Newsodant 5.3EC hoặc thuốc có chứa hoạt chất Abamectin kết hợp với dầu khoáng trừ sâu; Phun phòng trừ rệp muội xanh, rệp muội nâu đen, rệp sáp và rệp vẩy bằng thuốc Suprathion 40EC 20ml/10lít nước, Supracid 40EC hoặc Applaud 10WP; Phun phòng trừ bệnh loét, bệnh sẹo bằng dung dịch Boocdo 1% (15g suphatđồng + 20g vôi tôi/12 lít nước) hoặc Kocide 53.8DF (35g/10 lít nước); Norshield 86.2WG (đồng đỏ).

+ Kỹ thuật bao quả


- Chất liệu túi bao: Sử dụng túi bao quả chuyên dụng làm bằng giấy có tráng parafin màu vàng nhạt, chiều rộng 30 cm, chiều dài 35 cm, có dây kẽm dùng để buộc ở trên mép túi và hai lỗ thoát nước đục sẵn ở phái đáy túi, chất liệu túi đã qua kiểm nghiệm không gây ảnh hưởng đến chất lượng quả bưởi cũng như môi trường và sức khỏe người tiêu dùng.

- Thời điểm bao quả bưởi sau khi kết thúc rụng sinh lý lần 2, đường kính quả từ 4 - 5 cm. Đưa quả bưởi vào bên trong túi bao, gấp miệng túi bao từ hai bên mép túi vào cuống quả, sau đó dùng dây kẽm ở miệng túi quấn chặt lại.

- Kiểm tra sau khi bao quả: Kiểm tra vườn thường xuyên, khi phát hiện một số loại dịch hại trong giai đoạn quả được bao như nhóm rệp sáp hại quả thì phải tiến hành phun phòng trừ.

- Tháo túi bao quả: Khi quả bưởi Quế Dương đạt độ chín sinh lý, trước thu hoạch 40 - 50 ngày, tiến hành tháo túi bao để cải thiện mã quả.

* Lưu ý: Nếu không bao đúng kỹ thuật sẽ gây ra hiện tượng rụng quả ngay sau khi bao, xuất hiện một số sâu bệnh hại quả như: nhện đỏ, nhện trắng, nhện rám vàng, rệp sáp bông, bệnh loét, bệnh ghẻ trong thời kỳ bao quả.

- Tác dụng của túi bao quả bưởi: Bao quả chống lại được sâu hại, nhện hại, rệp muội, rệp sáp, ruồi đục quả, ngài chích hút và bệnh loét, bệnh ghẻ hại quả…nhờ đó mà hạn chế được việc dùng thuốc trừ sâu, bệnh. Bao quả giúp cải thiện mã quả, vỏ quả bóng, đẹp, không bị trầy xước.

Hướng dẫn kỹ thuật trồng bưởi Hoàng

Hướng dẫn kỹ thuật trồng bưởi Hoàng

Bưởi Hoàng là loại bưởi được trồng tại Thôn Hoàng Trạch xã Mễ Sở, Văn Giang Hưng Yên. Giống Bưởi Hoàng là giống bưởi ngọt, không the, được thu hoạch vào tháng 10 – 11, cây giống sau 18 tháng có thể thu hoạch.

I. GIỚI THIỆU CHUNG

Bưởi Hoàng là loại bưởi được trồng tại Thôn Hoàng Trạch xã Mễ Sở, Văn Giang Hưng Yên. Là giống bưởi ngọt có từ lâu đời rồi mà chỉ có làng Hoàng trồng mới ra trái ngon và ngọt nhất. Quả bưởi rất to (gấp 3 quả bưởi Diễn), vỏ mỏng, múi to mọng, ăn ngọt dịu đậm đà, nhiều nước. Rất thích hợp trong những bữa tráng miệng gia đình hoặc làm quà biếu.Giống Bưởi Hoàng là giống bưởi ngọt, không the, được thu hoạch vào tháng 10 – 11, cây giống sau 18 tháng có thể thu hoạch.

Cây Bưởi Hoàng đang là một trong những hướng phát triển cây ăn quả lớn tại các tỉnh miền Bắc như Bắc Giang, Phú Thọ, …Và đặc biệt có thể RẢI VỤ thu hoạch bưởi trên vườn. Nhằm phát triển kinh tế trang trại, nâng cao thu nhập cho người nông dân.

II. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC


1. Chọn giống:

- Cành chiết: Đối với cành chiết tốt nhất nên có độ tuổi từ 16 – 18 tháng tuổi, đường kính của cành 1,5 – 2,0 cm, các cành không bị sâu bệnh. Không nên chọn những cành dưới gốc, cành vượt và trên ngọn để chiết làm giống.

- Cây ghép: Mắt ghép phải được lấy đúng giống cây cần chọn, chồi ghép sinh trưởng khoẻ với chiều cao chồi (tính từ điểm ghép trở lên) là 30 – 40cm.

2. Thời vụ trồng bưởi hoàng:

- Vụ Xuân: bắt đầu trồng từ tháng 2 đến tháng 4

- Vụ Thu đông: bắt đầu trồng từ tháng 8 đến tháng 10

Do vụ xuân có điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi cho cây trồng phát triển nên vụ Xuân là thời vụ trồng cây bưởi hoàng tốt nhất.

3. Chọn và làm đất:

- Cây bưởi hoàng thích hợp với các loại đất phù sa được bồi đắp hàng năm, đất phải thoát nước tốt, có tầng canh tác dày trên 1m, mực nước ngầm dưới 1,5m, hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất khá (hàm lượng mùn từ 1,5 – 2% trở lên), có đủ nguồn nước để tưới tiêu vào mùa khô hạn.

- Trước khi trồng khoảng 2 tháng phải tiến hành làm đất, cày bừa thật kỹ, làm sạch cỏ, gốc rễ cây (nếu đất khai hoang) và xử lý đất bằng vôi bột (500 kg/ha), Benlate (20 kg/ha), Basudin, Vibasu 10H (15 – 20 kg/ha).

4. Đào hố:

* Kích thước hố: Đối với vùng đất bằng 60cm x 60cm x 60cm, vùng đất đồi 80cm x 80cm x 80cm.

* Đào hố: Chú ý khi đào hố phải lấy lớp đất mặt đổ sang một bên và lớp đất phía dưới đổ sang bên khác.

5. Cách trồng bưởi hoàng:

– Cây giống là cành chiết: Đào 1 lỗ khoảng 30 x 30 cm xé bao nilong ngoài vỏ bầu rồi đặt nhẹ vào chính giữa tâm hố, gạt đất rồi nén chặt, tránh làm vỡ bầu đất. Dùng cọc và dây mềm cố định thân cây lại. Khi đặt cây cần chú ý tư thế của cây sao cho cây sau này tán phát triển thuận lợi, thân chính không bị nghiêng ngả. Trồng cây xong tưới nước đủ ẩm, ủ rơm rác xung quanh gốc cây đr giữu ẩm cho cây(tủ cách gốc 10 cm).

– Cây giống là cây ghép: Đặt cây để tư thế của cây sao cho cành ghép quay về hướng dưới gió để tránh gió to làm tách gãy cành ghép.

Kỹ thuật canh tác bưởi Năm roi

Kỹ thuật canh tác bưởi Năm roi

Tủ gốc bưởi Năm Roi để giữ ẩm trong mùa nắng bằng rơm rạ khô và cách gốc khoảng 20cm. Biện pháp này cũng tránh được cỏ dại phát triển đồng thời khi rơm rạ bị phân hủy sẽ cung cấp cho đất một lượng dinh dưỡng đáng kể.

A.Thiết kế vườn

1. Đào mương lên liếp

Mương thoát  và tiêu nước có chiều rộng từ 1-2m, liếp có kích thước chiều ngang từ 6-8m. Hàng năm thường có lũ vào tháng 9-11 dương lịch, nên vườn cần xây dựng  bờ bao để bảo vệ cây trồng. chú ý hướng Đông – Tây để thiết kế liếp trồng vuông góc với hướng Đông, khi đó các cây trên vườn sẽ nhận được đầy đủ ánh sáng hơn.

2. Trồng cây chắn gió

Mục đích của việc trồng cây chắn gió để ngăn chặn sự di chuyển của sâu bệnh hại theo gió xâm nhập vào vườn; tạo tiểu khí hậu thích hợp trong vườn, đồng thời hạn chế các mức thiệt hại do gió, bão gây hại. Hàng cây chắn gió được trồng xung quanh vườn. Các loại cây sử dụng làm cây chắn gió là: Bình linh, Dâm bụt, Mận, Bạch đàn…

3. Mật độ và khảng cách trồng

Đắp mô trồng cây có chiều cao 4cm, bề ngang 1m, nên chọn lớp đất mặt của ruộng trồng các loại đậu để đắp mô. Chia vườn ra từng líp, mỗi líp có bề ngang 7m, trồng cây theo hàng đôi, mỗi nhánh cách nhau 4m, hàng cách nhau 5m.

B. Kỹ thuật trồng và canh tác


1. Thời vụ trồng:

Trồng đầu mùa mưa để tiết kiệm công tưới hoặc trồng cuối mùa mưa

2. Chuẩn bị hố trồng và cách trồng

Nên làm mô (ụ đất), mô nên cao 40-60cm và đường kính 80-100cm. khi trồng, giữa mô cũng đào lỗ, đặt cây xuống giữa lỗ và mặt bầu ngang bằng mặt mô, lấp đất lại.

3. Tủ gốc giữ ẩm

Tủ gốc để giữ ẩm trong mùa nắng bằng rơm rạ khô và cách gốc khoảng 20cm. Biện pháp này cũng tránh được cỏ dại phát triển đồng thời khi rơm rạ bị phân hủy sẽ cung cấp cho đất một lượng dinh dưỡng đáng kể.

Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản nên trồng hoa màu để tránh đất bị xói mòn, tăng thu nhập. Khi cây vào thời kỳ kinh doanh thì giữ cỏ trong vườn nhằm giữ ẩm cho đất trong mùa nắng và chống xói mòn đất trong mùa mưa. Tuy nhiên, khi cỏ phát triển mạnh sẽ cạnh tranh dinh dưỡng với cây có múi, vì vậy cắt cỏ bớt bằng dao hoặc máy cắt cỏ.

4. Tưới và tiêu nước

Mùa nắng nên thường xuyên tưới nước cho bưởi, vào mùa mưa do lượng nước phân bố không đều, vì vậy vườn cần phải có mương, cống tiêu nước vào các tháng mưa nhiều, tránh ngập úng kéo dài cây có thể chết.

5. Vét bùn bồi liếp

Vét bùn vào tháng 2-3 dương lịch hoặc sau mùa mưa, lớp bùn dày khoảng 2-3 cm là tốt. Thời gian vét bùn được khuyến cáo là 2 năm/lần.

6. Phân  bón

a. Thời  kỳ kiến thiết cơ bản:

Thời kỳ kiến thiết cơ bản (cây 1-3 năm tuổi), phân bón được chia làm nhiều đợt (4-6) để bón cho bưởi. Sau khi trồng nên dùng phân Urê hoặc phân DAP với liều lượng 40gr hòa cho tan trong 10 lít nước để tưới cho 01 gốc bưởi (2 tháng/lần). khi cây trên 1 năm tuổi cần bón phân gốc để giúp cho cây phát triển mạnh. Sử dụng phân vi sinh EM (Effective Micro- Organisms), WEHG tưới để giúp cho phân hữu cơ mau phân hủy tạo thành chất vô cơ cho cây trồng hấp thụ.

b. Thời kỳ kinh doanh trên cây bưởi có thể chia làm bốn lần như sau:

1/ Sau khi thu hoạch bón: 25% đạm+ 5-20kg hữu cơ/gốc/năm.

2/Bốn tuần trước khi cây ra hoa: 25 % đạm + 50% lân+30% kali

3/Sau khi quả đậu và giai đoạn quả phát triển bón: 50% đạm+ 25 % lân+50% kali

4/Một tháng trước thu hoạch bón: 20% kali

Hằng năm nên bón bổ sung từ 0.5-1kg phân Ca(NO3)2  (Nitrat  Canxin) để cải thiện phẩm chất và thời gian tồn trữ sau thu hoạch của trái

c. Liều lượng phân bón:

Trong điều kiện của Việt Nam, chúng tôi chỉ đưa  ra các khuyến cáo có tính chất tham khảo, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà có quyết định tăng hay giảm lượng phân bón.

Trồng và chăm sóc bưởi Phúc Trạch

Trồng và chăm sóc bưởi Phúc Trạch

Bưởi trồng thích hợp nhất vào 2 vụ mùa trong năm đó là Vụ Xuân: tháng 2, 3, 4; Vụ thu đông: tháng 8, 9 ,10. Đối với loại đất thịt tơi xốt thì khoảng cách phù hợp giữa 2 cây trồng là 5x5m (400 cây/ha) tương đương 15 cây trên 1 sào bắc bộ.


1. Giới Thiệu:


Bưởi Phúc Trạch có vị ngọt, mùi thơm đặc trưng, các tép bưởi giòn tan, mọng nước, ăn vào miệng sẽ có cảm giác chua chua, thanh thanh. Người dân Hà Tĩnh luôn xem bưởi Phúc Trạch là đặc sản quý, khi đi xa họ thường mua làm quà biếu. Quả bưởi Phúc Trạch màu vàng nhạt, nặng từ 0,9 đến 1,2 kg, có quả nặng 1,5 kg. Cứ đến mùa, người dân thường thu hái và nhập cho các doanh nghiệp, đại lý trên địa bàn, hoặc được các thương lái thu mua đem về các huyện khác bán lẻ. Trong 24 xã của huyện Hương Khê, bưởi Phúc Trạch được trồng nhiều ở Phúc Trạch, Hương Trạch, Lộc Yên… Mỗi gia đình  thường trồng từ 5 đến vài chục gốc. Ông Trần Quốc Khánh, Chủ tịch xã Phúc Trạch cho biết, toàn xã có 1.600 hộ dân thì hơn 70% hộ trồng bưởi với diện tích hàng trăm ha. Mùa thu hoạch bưởi Phúc Trạch bắt đầu từ giữa tháng 7 tới hết tháng 8 âm lịch. Mỗi cây tán rộng khoảng 4,5 m, cao 5 m, cho chừng 50 quả, có cây tới hơn 100 quả. Tuổi thọ trung bình của cây là 12 năm, sau đó phải thay mới. Ông Võ Tá Tài, cán bộ kỹ thuật Trại giống bưởi Phúc Trạch, thuộc Trung tâm Khuyến nông Hà Tĩnh thông tin, để quyết định cây bưởi có quả hay không, quan trọng nhất là ở khâu thụ phấn bổ sung. Việc quản lý dịch hại, diệt sâu bệnh phải đặc biệt lưu tâm. Cây Bưởi Phúc Trạch được xem là loại cây chiến lược để phát triển kinh tế của địa phương. Theo Chủ tịch xã Phúc Trạch, thu nhập lớn từ bưởi đã làm đổi sắc vùng quê. “Chúng tôi đang có chính sách khuyến khích người dân trồng bưởi. Theo đó, gia đình nào trồng thêm bưởi sẽ được hỗ trợ từ 10 đến 30 nghìn đồng mỗi gốc”, ông Khánh nói.

2. Tiêu Chuẩn Chọn Giống:

Để có những sản phẩm bưởi chất lượng cao đáp ứng được các yêu cầu của thị trường trong nước và phục vụ xuất khẩu, nhà nông cần chú ý tới xuất xứ và chất lượng giống. Bưởi Phúc Trạch là giống bưởi đặc sản của huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh. Phúc Trạch là tên làng nơi được cho là tạo ra thứ bưởi này ngon nhất. Cây bưởi chiết: Đường kính từ 1 - 1,5cm, cao khoảng 60 - 80cm, có 2-3 cành cấp 1 được ươm trong bầu, có rễ thứ cấp mới được đem đi trồng. Cây bưởi ghép: Đường kính gốc ghép từ 0,8 - 1cm, cành cao khoảng 25 - 30cm, khỏe mạnh sạch sâu bệnh.

3. Thời Vụ và Mật Độ Trồng:

Bưởi trồng thích hợp nhất vào 2 vụ mùa trong năm đó là:

- Vụ Xuân: tháng 2, 3, 4 - Vụ thu đông: tháng 8, 9 ,10

- Đối với loại đất thịt tơi xốt thì khoảng cách phù hợp giữa 2 cây trồng là 5x5m (400 cây/ha) tương đương 15 cây trên 1 sào bắc bộ.

- Còn đối với loại đất đồi chắc, cằn thì khoảng cách là 4,5x4,5m (500 cây/ha) tương đương 18 cây trên 1 sào bắc bộ.

4. Làm Đất Và Đào Hố Trồng:

- Làm đất cày bừa kĩ, nhặt sạch cỏ

- Lên luống cách nhau 5m có hình mui luyện, rãnh rộng 30 - 40cm, sâu 20cm, tâm luống cao 30 - 40cm so với đáy rãnh.

- Đào hố đắp ụ: + Đào hố nơi đất xấu có kích thước: 80x80x60cm(rộng,dài,sâu) + Đào hố nơi đất tốt: 60x60x50cm Nơi chân đất thấp thì phải đắp ụ, ụ cao từ 50 - 60cm, đường kính ụ rộng từ 0,8 - 1m

5. Phân Bón Lót:

- Phân chuồng hoai mục: 20-30kg(40kg) - Super lân: 1kg - Vôi bột: Tùy theo pH của đất để xác định lượng vôi bột cần bón. Bà con nên xác định pH trước khi quyết định bón vôi. Thông thường nếu pH<5 hoặc 5,5 thì bón 20-25kg vôi bột/sào Bắc bộ, bón trước hoặc sau các loại phân bón khác khoảng 15-20 ngày.

6. Kỹ Thuật Trồng Cây Bưởi Phúc Trạch:

Hố phải đào trước khi trồng khoảng 1 tháng, Trộn đều toàn bộ lượng phân ở trên với lớp đất trên mặt, sau đó cho xuống đáy hố, tiếp theo lấp đất thành ụ cao so với mặt hố 15 – 20 cm. Vét một hố nhỏ đặt bầu rồi lấp đất cho chặt. Sau đó cắm cọc chéo chữ X vào cây và buộc để tránh làm lay gốc làm chết cây chết cây. Sau đó dùng mùn rác, cỏ khô phủ kín gốc rồi tưới đẫm nước cho cây tối thiểu 1lần/1ngày đến khi cây hồi phục sinh trưởng. Sau đó tuỳ điều kiện sinh trưởng và thời tiết để tưới (đặc biệt chú ý trong 30 ngày đầu tiên sau trồng).

7. Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Bưởi Phúc Trạch:

– Kỹ thuật chăm sóc định kỳ: Tưới nước: cần cung cấp đủ nước cho cây nhất là trong mùa khô, khi trái đang lớn và lúc quả sắp chín. Phòng trừ cỏ dại: Phủ gốc bằng cỏ, rác, cây phân xanh... để hạn chế cỏ dại; xới phá váng sau mỗi trận mưa to. Làm cỏ vụ xuân tháng 1-2 và vụ thu tháng 8-9, xới sạch toàn bộ diện tích một lần/vụ; một năm xới gốc 2-3 lần.

– Kỹ thuật Cắt tỉa, tạo hình: Cắt tỉa cho cây trong thời kỳ chưa mang quả: Việc cắt tỉa được tiến hành ngay từ khi trồng. Để có được dạng hình hợp lý, cần thực hiện theo các bước sau:

- Tạo cành cấp 1: Khi cây con đạt chiều cao 45 - 50 cm, cần bấm ngọn để tạo cành cấp 1. Chỉ để lại 3 - 4 cành cấp 1 phân bố tương đối đều về các hướng. Các cành cấp 1 này thường chọn cành khoẻ, ít cong queo, cách nhau 7 - 10 cm trên thân chính và tạo với thân chính một góc xấp xỉ 45 – 60độ để khung tán đều và thoáng.

- Tạo cành cấp 2: Khi cành cấp 1 dài 25 - 30 cm, ta bấm ngọn để tạo cành cấp 2. Thông thường trên cành cấp 1 chỉ giữ lại 3 cành cấp 2 phân bố hợp lý về góc độ và hướng. - Tạo cành cấp 3: Cành cấp 3 là những cành tạo quả và mang quả cho những năm sau. Các cành này phải khống chế để chúng không giao nhau và sắp xếp theo các hướng khác nhau giúp cây quang hợp được tốt. + Cắt tỉa cho cây trong thời kỳ mang quả

- Cắt tỉa sau thu hoạch: Được tiến hành sau khi thu hoạch quả. Cắt tỉa tất cả các cành sâu bệnh, cành chết, cành vượt, những cành quá dày, cắt tỉa bớt cành cấp 1(nếu số cành cấp 1/cây quá dày) sao cho cây có bộ khung tán cân đối.

- Cắt tỉa vụ xuân: Được tiến hành vào giữa tháng 1 đến giữa tháng 3 hàng năm: Cắt bỏ những cành xuân chất lượng kém, cành sâu bệnh, cành mọc lộn xộn trong tán, những chùm hoa nhỏ, dầy, dị hình. - Cắt tỉa vụ hè: được tiến hành từ tháng 4 đến hết tháng 6: Cắt bỏ những cành hè mọc quá dày hoặc yếu, cành sâu bệnh, tỉa bỏ những quả nhỏ, dị hình.

– Kỹ thuật Bón phân Cho Cây Bưởi Phúc Trạch: Hàng năm cần bón thúc vào thời điểm:

+ Bón cơ bản (tháng 8 – tháng 11): Phân hữu cơ + lân Super + vôi.

+ Bón đón hoa, cành xuân từ 15/1 – 15/3: Đạm urê + kali.

+ Bón thúc tăng trọng quả vào tháng 5 – tháng 7: Đạm urê + kali Ngoài ra bón cho cây sau khi thu hoạch làm cây chóng phục hồi, lượng bón thúc như sau: + Ure: 0,1 – 0,2 kg/cây + Super lân: 0,2 – 0,5 kg/cây + Kali: 0,1 - 0,3kg/cây. Các năm sau lượng phân tăng theo tuổi cây, năng suất quả và tuỳ thuộc loại đất.

Cách bón: Bón phân hữu cơ: đào rãnh xung quanh cây theo hình chiếu của tán với bề mặt rãnh rộng 30 - 40 cm, sâu 20 - 25 cm, rải phân, lấp đất và tưới nước giữ ẩm. Hoặc có thể đào 3 rãnh theo hình vành khăn xung quanh tán để bón, năm sau bón tiếp phần còn lại.

Bón phân vô cơ: khi đất ẩm chỉ cần rải phân lên mặt đất theo hình chiếu của tán cách xa gốc 20 - 30 cm, sau đó tưới nước để hoà tan phân. Khi trời khô hạn cần hoà tan phân trong nước để tưới hoặc rải phân theo hình chiếu của tán, xới nhẹ đất và tưới nước.

+ Lần 1 (sau khi thu hoạch): bón theo vành mép tán, đào rãnh sâu 20cm, rộng 30cm. Các loại phân trộn đều cho vào rãnh lấp kín đất, tủ rơm giữ ẩm.

+ Bón thúc vào lần 2 và 3: trộn đều các loại phân hóa học rải đều trong vòng tán cây, xới đất sâu 4-5cm vùi đất lấp kín, tủ rơm rác giữ ẩm. Bón phân xong tưới nước đều đặn, vừa phải cho phân tan để cây hấp thụ từ từ.

Chú ý không nên tưới quá nhiều nước cho cây vì nếu thừa nước cây sẽ ra đọt non ảnh hưởng đến việc xử lý ra hoa.

8. Phòng Trừ Sâu Bệnh Cho Cây Bưởi Phúc Trạch:

Bưởi thường bị một số loại sâu bệnh phá hoại như : Bệnh nấm, sâu vẽ bùa, sâu đục thân, cành, nhện đỏ, nhện trắng, ruồi đục quả, bệnh chảy gôm, bệnh khô cành, quả ám khói…

- Bệnh nấm : Trên lá có đốm màu gỉ sắt, thân có các đốm đen. Sử dụng thuốc SCORE hoặc Sun phát đồng 1% phun 3 ngày một lần cho tới khi khỏi bệnh.

- Bệnh sâu đục thân, cành : Quét vôi vào gốc cây và thân cây, dung xilanh tiêm phun trực tiếp vào lỗ sâu đục bằng thuốc Supracide 0,2%.

- Sâu vẽ bùa : Dùng Selecron phun lên lá. Thuốc này có tác dụng với cả sâu ăn lá, nhện đỏ và các loại sâu khác. - Rệp : Khi phát hiện có rệp, phun ngay Selecron ba ngày liên tục.

- Ruồi đục quả hút dịch làm quả thối, thời gian xuất hiện vào tháng 7-10. Dùng bả Naled 5% + Metyl Eugnol 95% cho 100m2. - Bọ xít các loại : Phun Sherpa 0,2% hoặc Dipterex 0,3%. Ngoài ra nếu thấy các loại côn trùng ít có thể bắt bằng tay và tiêu diệt.

- Bệnh muội đen thân, cành, lá, quả. Thời gian xuất hiện từ tháng 2-10. Phun Boocdo 1% hoặc Sun phát đồng 1% kết hợp với cắt tỉa cho thưa tán lá, cành.

- Bệnh chảy mủ gôm : Thời gian gây hại từ tháng 4, 5, 9, 10. Phun Aliette 0,3% lên thân, cành tuần 1 lần cho tới khi khỏi v.v…

9. Thu Hoạch và Bảo Quản:

Nên thu hoạch vào lúc trời mát và nhẹ tay, tránh lúc trời nắng gắt làm các tế bào tinh dầu căng dễ vỡ, không nên thu hái quả sau cơn mưa hoặc có sương mù nhiều vì quả dễ bị ẩm thối khi tồn trữ. Dụng cụ thu hoạch như kéo cắt liền giỏ để thu hoạch trái, không được để rơi trái xuống đất. Khi thu hoạch nên mang bao tay vải tránh móng tay làm vết thương trái và dùng giỏ nhựa loại 20kg. Kéo cắt nên làm sạch khuẩn bằng Natri Hypocloric Sodium (NaOCl) trước khi dùng. Tất cả dụng cụ sau khi thu hoạch phải lau chùi sạch sẽ để vào chỗ ngăn nắp. Nên bao trái bằng lưới polostirenhặc giấy báo mềm tránh va chạm khi vận chuyển làm hỏng trái trước khi đóng gói bằng thùng carton. Bảo quản bưởi ở nhiệt độ 10°C ±1°C, ẩm độ 90 ÷ 95%.

Thứ Ba, 10 tháng 10, 2017

Chia sẻ kinh nghiệm trồng bưởi da xanh ở miền bắc

Chia sẻ kinh nghiệm trồng bưởi da xanh ở miền bắc

Bưởi da xanh loại bưởi ngon nhất hiện nay và chúng thích hợp với khí hậu ở miền nam đặc biệt là Bến Tre, tuy nhiên nhiều người có ý tưởng trồng bưởi da xanh ở miền bắc và những người dân Bắc Giang đã trồng thành công dưới đây là những chia sẻ kinh nghiệp của họ.


Những năm gần đây người dân Lục Ngạn Bắc Giang nơi nổi tiếng với vải thiều cũng đã trồng thành công giống bưởi da xanh cho năng xuất cao. Đó là vườn bưởi da xanh của ông Nguyễn Đức Vụ vườn của ông đã có tới 200 cây bưởi và đang bắt đầu cho ra trái.

Với kỹ thuật trồng bưởi da xanh của ông Vụ thì trái sai trũi cành và đang trong thời gian thu hoạch những trái loại 1 đạt được từ 1,5 kg trở lên với những múi bưởi cực kỳ chất lượng, múi bưởi màu hồng đào, không có hạt thơm ngon.

Với hơn 3 năm học hỏi ông Vụ đã khá thành công với vườn bưởi của mình, cây phát triển tốt, sai quả chất lượng ngon không kém gì ở quê hương Bến Tre của bưởi da xanh.

Chia sẻ kỹ thuật trồng bưởi da xanh:

Bưởi da xanh ưa nước nên không thích hợp trồng trên đồi dốc mà phải trồng dưới vườn thấp, khi trồng cần tạo luống rộng khoảng 4 m, ở giữa và xung quanh các luống có rãnh rộng khoảng 40 cm để trữ nước thường xuyên cho cây.

Về chăm bón phân: Chăm sóc bưởi da xanh cũng cần nhiều phân bón hơn so với giống bưởi Diễn. Người trồng nên sử dụng các loại phân NPK kết hợp phân chuồng cây mới phát triển xanh tốt và có sức để nuôi quả. Ngoài ra, yêu cầu của thị trường là quả bưởi da xanh loại 1 phải là quả to từ 1,5 kg trở lên mới được giá nên người trồng cần căn cứ vào độ lớn và sức khoẻ của cây để giữ lại lượng quả phù hợp. Nếu để cây nhiều quả quá, quả sẽ nhỏ, bán không được giá. Bên cạnh đó, người trồng cần lưu ý phòng trừ nhện đỏ, sâu vẽ bùa và bệnh gân xanh lá vàng. Đối với những vùng ở miền bắc Việt Nam thì cần những chú ý trên để cây bưởi phát triển nhanh và tốt.

Cây bưởi da xanh thật sự đang có triển vọng rất lớn để phát triển ở các tỉnh miền bắc Việt Nam đặc biệt đây lại là giống cây đặc sản của tỉnh miền nam như vậy sẽ khẳng định một điều nước ta vô cùng thích hợp để trồng cây ăn trái.

Kỹ thuật trồng bưởi da xanh cho quả quanh năm

Kỹ thuật trồng bưởi da xanh cho quả quanh năm

Kỹ thuật trồng bưởi da xanh dưới đây sẽ giúp vườn bưởi của bạn trĩu quả quanh năm. Cùng theo dõi ngay kỹ thuật trồng bưởi da xanh cho quả quanh năm sau đây.


Giống: Chỉ nên chọn một loại giống duy nhất là bưởi da xanh, không trồng xen với các loại cây có múi khác để tránh thụ phấn chéo. Nên trồng cây bưởi chiết, vì rễ ăn ngang tránh gặp tầng sinh phèn; mau ra trái, bảo đảm chất lượng giống hệt cây mẹ. Cây bưởi chiết có tuổi thọ khá cao.

Đất: Cải tạo địa hình tương đối bằng phẳng, hơi cao ở giữa để thoát nước nhanh. Cần phân tích chất đất để có chế độ bón phân phù hợp, cân đối. Nơi nào đất trũng, thấp, thường bị ngập úng vào mùa mưa thì đắp mô cao lên 20 – 30 cm so với mực nước mưa và triều cường.

Nơi nào đất cao thì đào hố. Hố trồng đào tròn hoặc vuông 1,2m x 1,2m, sâu 30 cm. Đào sâu quá gặp tầng sinh phèn, cây bưởi khó sống. Mỗi hố trồng rải 5 – 6 kg vôi bột, 2 bao phân chuồng đã hoai trộn thêm tro trấu, xơ dừa, rơm rạ mục và phủ lên một lớp đất mỏng trước khi trồng.

Trồng và chăm sóc


Mật độ: Mỗi ha trồng khoảng 500 – 600 cây. Cây cách cây 4m; hàng cách hàng 4m. Đặt cây bưởi giống vào giữa hố, lấp đất phủ kín gốc, hơi lõm ở giữa để sau này bón thêm phân hữu cơ và tiết kiệm nước tưới, phủ quanh gốc các loại phân xanh, rơm rạ cho mát gốc.

Thời điểm trồng: tốt nhất là cuối mùa khô, đầu mùa mưa. Qua mùa mưa cây bưởi phát triển khá tốt nhờ nguồn nước trời. Lặt bỏ tất cả trái non trong năm đầu, năm thứ hai có thể chừa mỗi cây 1 trái, năm thứ ba giữ trái vừa phải; số trái giữ lại, tăng dần vào những năm sau.

Chăm sóc cây sau khi trồng


Thường xuyên giữ ẩm cho cây. Tưới phân bón lá Lay-O,Combi-5,komix…và bón định kỳ thường xuyên 1-2 lần/tháng. Cắt tỉa tạo tán 50cm để cành cấp I, 30cm để cành cấp II và 20cm để cành cấp III. Tạo cho cây có bộ khung cành , tán rộng tốt cho quang hợp.

Bón cho cây chưa có quả, trước mỗi đợt lộc bón một lần thường năm có 3 đợt lộc vào mùa xuân, hạ, thu. Khi cây có quả: bón 4 đợt/ năm. Thời kỳ sau thu hoạch quả, bón phân hữu cơ + lân  100%, đạm 20% vôi 100%. Thời kỳ chuẩn bị ra hoa bón đạm, ka li,ZinC. Thời kỳ hạn chế dụng quả giúp quả lớn nhanh bón đạm, kali, boron. Thời kỳ trước thu hoạch 1 tháng bón kali,sungar.

Kích thích ra hoa, đậu trái

Bưởi da xanh ra hoa, trái quanh năm. Do đó để có nhiều sản phẩm đưa ra thị trường vào thời điểm giá cả có lợi cho người sản xuất, nên kích thích ra hoa, đậu trái từ 7 đến 8 tháng trước ngày thu hoạch, nhưng nếu lưu trái nhiều quá sẽ làm suy cây.

Thu hoạch


Nên thu hoạch khi bưởi vừa chín tới, da căng láng, cắt luôn cả cuốn trái. Không hái trái khi chưa chín tới hoặc hái quá trễ, chất lượng không tốt. Bưởi da xanh dễ trồng, hiệu quả kinh tế khá cao, thị trường ưa chuộng là loại cây trồng phù hợp với định hướng nông nghiệp ở nhiều nơi.

Những sai lầm khi ăn bưởi huỷ hoại sức khoẻ của bạn

Những sai lầm khi ăn bưởi huỷ hoại sức khoẻ của bạn

Bưởi là loại trái cây cực tốt cho sức khoẻ. Tuy nhiên, nếu không dùng đúng cách, bạn vô tình biến nó thành "thuốc độc" gây hại cho sức khoẻ.


Bưởi là loại quả xuất hiện nhiều ở mùa thu đông. Bưởi có vị ngọt, bên trong có chứa rất nhiều dưỡng chất, thích hợp ăn vào mùa thu đông hanh khô.

Trong đông y cho rằng bưởi có công hiệu lợi cho dạ dày, là thực phẩm tiêu hóa, trị hen suyễn, giải rượu.

Theo nghiên cứu phát hiện, bưởi còn chứa nhiều thành phần chất như protein, chất béo, carbohydrate, chất xơ, hàm lượng vitamin C phong phú, vitamin B2, viatamin P, carotene, insulin… và nguyên tố vi lượng như canxi, kali, phốt pho, sắt… nên rất có lợi cho cơ thể.

Do trong trái bưởi có chứa chất kali rất phong phú, cho nên là loại trái cây trị liệu lí tưởng cho những người mắc bệnh thận, và bệnh về mạch máu não, hơn nữa trong tép bưởi tươi có chứa thành phần chất như insulin, cũng là một loại thực phẩm lý tưởng cho những người mắc bệnh tiểu đường.

Vitamin P trong trái bưởi có thể tăng cường chức năng của các lỗ chân lông trong da, giúp mau lành những viết thương ở ngoài da, hơn nữa hàm lượng calo trong trái bưởi ít, nó có thể giúp giảm béo, có tác dụng làm đẹp da.

Rất phù hợp với nguyên tắc “đẹp tự nhiên” của chị em, là loại hoa quả thích hợp nhất cho sự chọn lựa của các bạn gái trong mùa thu đông.

Hàm lượng vitamin C trong trái bưởi là chất hóa học của quả trong tự nhiên có thể giảm làm giảm hàm lượng cholesterol trong máu của cơ thể, đồng thời còn có lợi cho việc hấp thụ canxi, sắt giúp tăng cường thể chất.

Thường xuyên ăn bưởi, có tác dụng hỗ trợ việc trị liệu đối với các bệnh nhân cao huyết áp, bệnh tiểu đường, bệnh xơ cứng động mạch, có công dụng giúp giảm béo.

Ngoài ra, vỏ bưởi có chứa chất glycosides mang hoạt tính sinh lý, có thể tăng độ lưu thông cho máu, giảm thiểu sự hình thành của huyết khối, chính vì vậy có tác dụng phòng bệnh tắc nghẽn mạch máu não.

Bưởi là loại quả giàu chất xơ, vitamin A, vitamin C có tác dụng lớn trong việc giảm cân và làm đẹp da.

Tuy nhiên, một số người chưa biết tận dụng điểm mạnh này của loại quả này mà thường dùng sai cách khiến bưởi trở thành thực phẩm gây độc.

Sau đây là một số sai lầm ăn uống nhiều người mắc phải khi sử dụng bưởi.

Vừa uống thuốc vừa ăn bưởi

Những người có lượng mỡ trong máu cao, nếu dùng một cốc nước ép bưởi để uống một viên thuốc giảm béo thì có thể dẫn đến hiện tượng đau cơ, thậm chí là dẫn đến bệnh về thận.

Hay một số bệnh nhân trong thời kỳ sử dụng thuốc chống dị ứng nhất định, nếu ăn bưởi hoặc là uống nước ép bưởi, nhẹ thì có thể gây ra đau đầu, tim đập mạnh, loạn nhịp tim…nghiêm trọng có thể dẫn đến đột tử.

Vì thế, các chuyên gia sức khỏe khuyên rằng, bệnh nhân đang sử dụng thuốc, đặc biệt là thuốc cho người già, tốt nhất là không nên ăn bưởi và uống nước ép từ bưởi.

Ăn bưởi sau khi uống rượu, hút thuốc

Đó là một việc làm sai lầm bởi trong nước bưởi có chứa chất Pyranocoumarin làm tăng cường chuyển hóa cytochromes P450 (men ruột) gây nên những tác dụng như: Làm tăng độc tính của thuốc lá, nicotin và ethanol, gây hại cho sức khoẻ.

Vì vậy không nên ăn bưởi sau khi dùng rượu bia, thuốc lá mà chỉ nên ăn sau 48 giờ.

Ăn bưởi khi bị tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa

Theo Đông Y bưởi có tính lạnh, nếu ăn vào khi đang bị tiêu chảy hay đường tiêu hóa kém sẽ khiến bệnh càng trầm trọng hơn.

Đối với những người bị nhiệt hay dùng bưởi để hạ nhiệt nếu dùng quá mức cũng gây nên tác dụng phụ là đau bụng.

Ăn bưởi khi đói

Bưởi là một loại quả được biết tới nhiều với công dụng giúp giảm cân hiệu quả. Vì thế, nhiều người chọn bưởi làm điểm tâm cho mỗi bữa sáng hoặc ăn bất cứ khi nào đói để hạn chế ăn những đồ ăn gây béo.

Tuy nhiên, trong bưởi có chất acid citric rất cao (khoảng 14-15%), chất này có thể sẽ làm tổn hại cho dạ dày.

Vì thế, chỉ nên ăn bưởi sau khi ăn cơm để các hoạt động tiêu hóa được dễ dàng hơn, đồng thời cũng cải thiện tình trạng cholesterol cao của cơ thể.

Công dụng tuyệt vời của hoa bưởi ít người biết

Công dụng tuyệt vời của hoa bưởi ít người biết

Vào mùa hoa bưởi tháng 3, bạn chỉ cần một vài nhánh hoa bưởi đặt trong nhà thì ở đâu bạn cũng thấy cái mùi thơm dịu phảng phất trong không gian. Những hoa bưởi không chỉ để ngắm.


Theo lương y Vũ Quốc Trung – Phòng chẩn trị Y học cổ truyền chùa Cảm Ứng (Hà Nội), bưởi có rất nhiều tác dụng. Trong đó, lá, hoa, vỏ quả bưởi là nguyên liệu cần thiết trong các bài thuốc Đông y.

Lá, hoa bưởi đều chứa tinh dầu nên thường được dùng để xông giải cảm. Hoa bưởi có tác dụng tích cực với hệ hô hấp, mùi hương bưởi giúp giải cảm, thư giãn, giảm stress, giúp tỉnh táo, minh mẫn...


Mặt khác, hoa bưởi còn là một vị thuốc tốt có tác dụng chữa ho đờm, đau dạ dày, đau đầu do mệt mỏi, thông đại tiện...

Bên cạnh đó, tác dụng ít ngờ tới của hoa bưởi là dân gian thường dùng hoa bưởi để chưng cất thành tinh dầu làm đẹp, gội đầu, tắm rửa hoặc xông hơi… Nước hoa bưởi được dùng cho các món chè, món bánh, món cháo.

Để làm tinh dầu hoa bưởi nguyên chất, bạn chỉ cần ngắt từng bông hoa bưởi ra rồi rửa sạch để ráo nước. Lọ ướp hoa bưởi nên lấy bình thủy tinh.

Khi lọ đã khô bạn rải một lớp hoa bưởi phía dưới cùng rồi rải tiếp một lớp đường cát trắng lên phía trên theo tỷ lệ 1 cân đường/ 1kg hoa bưởi.

Cuối cùng đậy bình thật kín khoảng 10 ngày để hoa bắt đầu chảy nhựa thành những tinh dầu. Bảo quản ngăn mát tủ lạnh.

Hoa bưởi còn trở thành một nguyên liệu để làm nên những món ăn vô cùng tinh tế. Hoa bưởi có thể dùng để làm mía ướp hoa bưởi, ướp trà.

Đến mùa hoa bưởi cũng là mùa làm bột sắn dây. Sắn dây sau khi lọc thành bột sẽ được phơi trong nắng giòn để bột mịn màng, trắng tinh.

Lúc bột chuẩn bị đóng gói người ta cho những cánh hoa bưởi ướp vào để sắn dây ngon hơn và lấy mùi thơm.

Một số bài thuốc từ hoa bưởi:

+ Hoa bưởi và hoa sen mỗi thứ 10g chưng với trà uống có thể khai tâm tỉnh tỳ. Hoa bưởi 12g chưng với trà uống giúp tiêu khí trệ, trị ngáp vặt; bưởi và bạch cấp mỗi thứ 10g chưng với trà uống có thể làm đẹp.

+ Có tác dụng tiêu đờm, thông đại tiện: Hoa bưởi 4g, hoa đậu mọt bát, nước gừng nửa thìa, đường phèn một thìa. Hoa bưởi rửa sạch cho vào nồi đun khoảng 10 phút sau đó bỏ bã lấy nước.

Cho tiếp nước gừng, đường, hoa đậu vào rồi đun tiếp sau đó lấy ra ăn.

+ Hoa bưởi chữa đau dạ dày, khắc phục chứng ứ trệ khí huyết: Dùng hoa bưởi 5g, đường phèn một thìa nhỏ. Đun trong 200ml nước, sau khi sôi 5 phút cho đường vào rồi đun tiếp. Lấy nước đó dùng như uống trà hàng ngày.

+ Dùng lá hoặc hoa, cùi bưởi, lá sả, lá duối, lá cúc tần mỗi lá một nắm (50 -100g) cho vào nồi nước đun thật sôi dùng để xông trừ cảm mạo, cho ra mồ hôi và viêm đường hô hấp trên rất hiệu quả.