Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Ba, 6 tháng 3, 2018

Cách chăm sóc phật thủ kịp ra trái chơi tết

Cách chăm sóc phật thủ kịp ra trái chơi tết

Trong những năm gần đây phật thủ được nhiều người ưa chuộng đặc biệt vào dịp tết bởi chúng được quan niệm mang lại may mắn và được ví như bàn tay Phật che chở, mang an lành, sung túc đến cho gia chủ.

Vì quan niệm đó, nhiều người mua phật thủ về bày lên bàn thờ, với mong muốn được hưởng những điều tốt lành, khiến loại quả này khá được ưa chuộng.

Phật thủ có ăn được không?


Câu hỏi được nhiều người đặt ra, để trả lời cho câu hỏi này thì bạn cần biết Phật thủ là một loại quả thuộc chi cam chanh. Hoa nở có mùi thơm và quả thì không có nước bên trong, không có ruột mà chỉ có phần lõi xốp bên trong. Do đó, quả Phật thủ không thể ăn trực tiếp được. Tuy nhiên, nó có thể được dùng làm nguyên liệu chế biến các món ăn ngon bổ dưỡng cũng như các bài thuốc quý. Nếu như vỏ cam, chanh hay quýt có thể sử dụng làm Siro phật thủ trị ho, viêm họng thì quả phật thủ cũng có công dụng y như vậy.

Phật thủ trồng ở đâu?

Nơi phật thủ được trồng nhiều và đẹp nhất là xã Đắc Sở, Hoài Đức, Hà Nội. Ngoài ra, phật thủ cũng đang được trồng tại nhiều vùng trên cả nước như: Hòa Bình, Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn…

Cách trồng phật thủ:


Cây phật thủ rất khó tính nên trồng khá phức tạp, đòi hỏi cần nhiều thời gian chăm sóc nuôi dưỡng. Chính vì vậy giá trị kinh tế của phật thủ mang lại rất cao.

Cây phật thủ khi mua về trồng giâm cành. Về khoảng cách trồng, người trồng nên để hàng cách hàng 50cm, cây cách cây 40cm. Sau khi cây phật thủ trồng được lên 1 đợt lộc, khi cứng lộc thì người trồng mới được bón nhẹ. Tuy nhiên, người trồng nên lưu ý tuyệt đối không được bón vào gốc, bón xa gốc để rễ phải ăn với. Trồng giâm cành có thể trồng theo 2 cách là trồng trên đất hoặc trồng trong chậu.

Sau khi cây phật thủ được 4 đến 5 tháng tuổi, cây cao khoảng 1m thì người trồng nên đánh chuyển trồng chính thức. Lúc này, để hàng cách hàng 4m, cây cách cây 3m. Sau khi trồng như vậy, cây ra 1 đợt lộc  thì người trồng nên đợi khi cứng lộc mới được bón.

Chăm sóc phật thủ: Trong quá trình chăm sóc cây phật thủ,đối với cả hai cách trồng trên, người trồng nên phun thuốc bảo vệ sâu bệnh như thuốc comite hoặc detect giúp trị bệnh nhện đỏ, thuốc tập kỳ trị bệnh sâu vẽ bùa, thuốc sufation trị bệnh dệp hay thuốc gi-đô-min hoặc thuốc man xanh trị bệnh nấm. Riêng đối với loại cây ghép, người trồng có thể khi kích ra hoa, người trồng nên dùng loại thuốc kích phát tố ra hoa Thiên Nông.

Phật thủ là loài cây mang lại giá trị cao, một cây phật thủ ra trái được trưng trong nhà vào ngày tết sẽ mang lại nhiều phước lộc cho gia chủ.

Nhân giống và phòng trừ sâu bệnh cây Phật thủ

Nhân giống và phòng trừ sâu bệnh cây Phật thủ

Cây Phật thủ được nhân giống chủ yếu bằng 2 cách : ghép dựa và chiết cành

1. Ghép dựa: ( Phương pháp này còn gọi là ghép phủ vỏ)

- Chọn cây quýt con mọc từ hạt 2-3 năm làm gốc ghép (chuyển trước vào chậu), chọn cành 1-2 năm của cây Phật thủ làm cành ghép, tháng 4-5 tiến hành ghép.

- Cắt thân gốc ghép, chỉ để cao 10-15cm, đưa cây gốc ghép vào chỗ thích hợp và sát cành cây Phật thủ, dùng dao cắt vát gốc ghép, bên dài cắt thành hình thuẫn, bên ngắn cắt thành hình vó ngựa, sau đó cắt cành ghép một miếng độ lớn bằng bên dài của gốc ghép sâu vào đến phần gỗ, nhớ không nên cắt đứt vỏ tầng trên, chỉ bỏ phần gỗ, để vỏ gỗ có thể phủ lên miệng ngắn hình vó ngựa của gốc ghép.

- Lúc ghép dựa miệng cắt cành ghép sát vào gốc ghép, để hai bên tượng tầng sát khít nhau rồi dùng dây mềm buộc chặt, bên ngoài buộc một lớp mỏng polyethylene để giữ ẩm, sau 40 – 50 ngày, vết thương lành. Sau đó cắt cành ghép rời khỏi cây, để nơi râm mát 1 tuần, chú ý tưới ít nước.

2. Chiết cành



Vào tháng 5 -7, khi nhiệt độ không khí cao, chọn cành cao, dưới cành cắt một nhát sâu, dùng tấm thảm bao ( bao bố, hoặc bao nilong) cuốn thành ống, dùng dây buộc phía dưới, phía trên cho đất nuôi dưỡng tơi xốp, rồi buộc chặt lại phần trên, mỗi ngày tưới nước để giữ ẩm, sau một tháng cành chiết sẽ ra rễ.

3. Sâu bệnh thường gặp trên cây Phật thủ

Sâu bệnh thường gặp trên cây Phật thủ là rệp ống, rệp sáp và bệnh bồ hóng

- Rệp ống : gây hại chủ yếu ở cành là non, sau khi bị hại, cành lá xoăn lại, ảnh hưởng đến sự ra hoa, kết quả.

Phòng trừ : Dùng que cạo diệt, nếu rệp gây hại quá nặng dùng thuốc Rogor 0,1% hoặc DDVP 0,1% để phun, số lần phun tùy thuộc vào mức độ gây hại của rệp ống.

- Rệp sáp và bệnh bồ hóng : Dùng cuốc , cuốc nhẹ xung quanh gốc cây từ ngoài tán vào cách gốc khoảng 2 tấc là vừa sau đó rải thuốc lên rồi tưới nước cho đẫm để thuốc thấm xuống bên dưới diệt rệp. Một số loại thuốc có thể sử dụng phổ biến hiện nay: Supracide 40 EC, Basudin 10 H liều lượng. Do rệp sáp có phủ một lớp sáp trên cơ thể nên có thể dùng nước rửa chén pha loãng ra tưới trước nhằm phá vỡ đi lớp sáp này thì thuốc sẽ thấm sâu vào bên trong cơ thể hiệu quả sẽ cao hơn.

Cây Phật thủ

Cây Phật thủ

Phật thủ vị cay , đắng và chua, tính ôn, vào 2 kinh phế và tỳ. Có tác dụng lý khí, cầm nôn mửa, hóa đờm, giúp tiêu hóa, chữa ho. Dùng trong trường hợp bụng đầy đau, biếng ăn, nôn mửa, ho.

Cây Phật thủ là giống cây ăn quả thuộc ho Rutaceae ( họ cam), tên khoa học là Citrus medica L. var. sarcodactylus Sw. Tên gọi của loài cây này xuất phát từ hình dáng của quả chia nhánh trông như bàn tay Phật. Phật thủ là giống cây bản địa của Trung Quốc và Nhật Bản, được trồng khá phổ biến ở Việt Nam. Quả Phật thủ dùng ăn tươi, làm mứt. Loại quả này thường có mặt trong mâm ngũ quả trên bàn thờ ngày Tết của người Việt.

Hoa cây Phật thủ có mùi thơm đặc trưng, quả phật thủ có hình tay Phật, có thể có từ 10- 22 ngón, có giống “ có ngón “ như hình tay Phật xòe ra, có giống có hình bàn tay Phật nắm lại. Quả cây Phật thủ có thể to như quả bưởi, cũng có giống có quả nhỏ như tượng bàn tay vàng của Phật, vỏ quả khi chín có màu vàng tươi, chứa tinh dầu thơm và dễ bảo quản

Đa số các nước vùng châu Á xem cây phật thủ là loài cây tâm linh bởi nó liên quan đến một truyền thuyết  trong phật giáo.

Công dụng của trái cây Phật thủ

Phật thủ là một vị thuốc dân gian. Theo tài liệu cổ, Phật thủ vị cay , đắng và chua, tính ôn, vào 2 kinh phế và tỳ. Có tác dụng lý khí, cầm nôn mửa, hóa đờm, giúp tiêu hóa, chữa ho. Dùng trong trường  hợp bụng đầy đau, biếng ăn, nôn mửa, ho.

Quả và hoa cây Phật thủ đều được dùng làm thuốc. Tuy nhiên, những người có thể trạng hư nhược không nên dùng. Người bình thường cũng không nên lạm dụng vì ăn quá nhiều Phật thủ gây tổn hao khí.

- Đau bụng kinh: Lấy 30 gr quả phật thủ tươi, 6 gr đương quy, 6 gr gừng tươi, 30ml rượu gạo, tất cả sắc cùng nước để uống.

- Ra nhiều khí hư ở phụ nữ: Lấy 30 gr quả phật thủ tươi, khoảng 1m lòng lợn non (làm sạch), ninh nhừ để ăn.

 - Đau bụng do vị khí, can khí yếu kém: Lấy 6 gr phật thủ, 6 gr xuyên luyện tử, 9 gr thanh bì sắc uống ngày 2 lần.

- Giã rượu: Lấy 30 gr phật thủ tươi (hoa hoặc quả), sắc lên rồi cho người đang say rượu uống.

- Đau bụng do lạnh bụng:
Lấy 15 gr quả hoặc hoa cây Phật thủ khô, 30 gr gạo tẻ rang thơm, sắc uống ngày 3 lần sẽ có kết quả tốt.

– Ho có nhiều đờm: Lấy 30 gr quả hoặc hoa cây Phật thủ, 15 gr đường phèn, hấp cách thủy, ngày ăn 1 lần.

- Đầy bụng, ợ hơi, chướng khí: Lấy vỏ quả cây Phật thủ tươi rửa sạch, ướp với đường trắng, nhai ăn từ từ sẽ có tác dụng.

- Tiêu hóa kém:
Lấy 30 gr quả cây Phật thủ tươi, thái lát, sắc kỹ lấy nước uống.

Chăm sóc cây Phật thủ

Chăm sóc cây Phật thủ

Cây Phật thủ dễ bị rụng lá, nếu số lá rụng hơn một nửa, sẽ gây ảnh hưởng đến sự quang hợp, ảnh hưởng đến việc ra hoa kết quả, phải kịp thời tỉa bớt các chồi ngọn để giữ lá

Chăm sóc cây Phật thủ phải dựa vào đặc tính của chúng, cụ thể là:

- Cây Phật thủ không chịu rét, nhiệt độ thích hợp là 22oC – 26oC.

- Tưới nước nên căn cứ theo mùa, khi nhiệt độ thấp 3-4 ngày tưới một lần. Mùa hè nhiệt độ cao, ngày tưới 1 lần, không tưới nước vào buổi trưa, cần chú ý thoát nước vào mùa mưa.
- Cây Phật thủ ưa sáng, nên phải để chậu trồng cây nơi có ánh sáng trực tiếp.

- Cây Phật thủ ưa đất có độ pH từ 5,5 – 6,5.

- Cây Phật thủ dễ bị rụng lá, nếu số lá rụng hơn một nửa, sẽ gây ảnh hưởng đến sự quang hợp, ảnh hưởng đến việc ra hoa kết quả, phải kịp thời tỉa bớt các chồi ngọn để giữ lá, giữ được lá là giữ được quả. Mùa thu chỉ giữ lại ít ngọn để năm sau cho quả. Vào mùa đông , không nên để gió lạnh thổi vào cây, phải khống chế lượng nước tưới, giữ cho chậu ẩm vừa, nếu phát hiện đất trong chậu khô, nên chia nhỏ lượng nước tưới nhiều lần, không nên tưới nước quá đẫm.

- Hàng năm vào tháng 3, Phật thủ bắt đầu ra hoa. Từ tháng 3 đến tháng 5,  Phật thủ thường ra nhiều hoa đực hơn, nên chất lượng trái không cao, dễ rụng, chín sớm. Từ tháng 6 đến tháng 8 là thời gian cây Phật thủ ra hoa và đậu trái có chất lượng nhất.

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2018

Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Macca

Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Macca

Việc đầu tiên trước khi trồng là phải làm quy hoạch tổng thể . Xác định vị trí cụ thể trên bản đồ: khu nhà ở, sân kho, hệ thống đường nội bộ, hệ thống hồ chứa nước, hệ thống tưới tiêu, hệ thống điện, hàng rào bảo vệ


1. Phương pháp chọn giống: trên một diện tích trồng Mac ca nên trọn trồng từ 2 đến 3 giống khác nhau để cây có thể thụ phấn chéo khi ra hoa, giúp tăng năng suất, sản lượng. Khi mua cây giống về nên để cây nơi râm mát, tưới nước giữ ẩm, khi bộ rễ đã ổn định thì đem cây đi trồng.

2. Phương pháp đào hố trước khi trồng: Vì cây Mac ca là loài cây cho thu hoạch hạt lâu năm, như ở Hawaii – Mỹ hiện nay những cây hơn 60 năm tuổi vẫn cho thu hoạch 6 tấn hạt / ha. Vì vậy đào hố khích thước lớn giúp cây có bộ rễ chắc khỏe khi cây còn non là rất cần thiết. Nên đào hố có kích thước rộng 70cm, sâu 70 cm. và để phơi nắng 2-3 tuần nhằm diệt bớt các vi khuẩn có hại.

3. Phương pháp chọn hướng và mật độ trồng: Tùy theo độ dốc địa hình để chọn mật độ trồng phù hợp. Nếu trồng trên đất bằng thì trồng hàng cây theo hướng Bắc – Nam để cây dễ dàng đón nhận ánh sáng mắt trời được nhiều nhất, tăng khả năng quang hợp ánh sáng cho cây. Mật độ 277 cây /ha ( cây cách cây 4,5m,hàng cách hàng 8m )

Nếu trồng trên triền đồi dốc, nên trồng hàng cách hàng theo đường đồng mức. Tùy theo độ dốc để xác định khoảng cách giữa các hàng có thể 9 m-10 m. Mật độ 200 – 222 cây /ha ( cây cách cây 5m,hàng cách hàng 9-10 m )

Ngoài ra còn xác định hình thái tán cây của từng giống để tính toán mật độ phù hợp. Ví dụ giống OC, A38, A14… có hình thái tán xòe rộng nên trồng mật độ 4,5X9, còn hầu hết cá giống khác đề có bộ tán thẳng, cây cao lớn hơn

4. Phương pháp bỏ phân bón lót: Trước khi trồng cây vào hố 01 tháng nên đào hố và trộn lớp đất mặt cùng với 10 kg phân chuồng ủ hoai ; 0,5 kg phân Lân nung chảy ; 300 gram vôi bột. Trộn đề với lớp đất mặt, sau đó lấp đất lại hố 20 ngày trước khi trồng.

5. Phương pháp trồng cây: Trước tiên rạch túi bàu, kiểm tra bộ rễ. Nếu thấy có rễ quá dài xuyên qua khỏi túi bàu thì dùng kéo cắt sát tới bàu đất, cây sẽ tự mọc ra rễ mới. Sau đó đào hố và trồng âm xuống đất 10 cm và lấp đất lại, tạo mô đất nơi gốc cây tránh trường hợp bị trũng nước khi có gió làm lay gốc, đứt rễ.

Dùng chân giẫm nhẹ xung quanh gốc cây nhằm cố định cây không bị nghiêng ngả do gió lớn hoặc mưa xuống gây sụt lún. Trường hợp vùng có nhiều gió, nên cố định cây đứng thẳng bằng cách cắm cọc tre.

Sau 20 ngày kiểm tra nếu có cây chết thì trồng dặm thay thế. Nếu cây bị nghiêng ngả thì điều chỉnh lại. Trước và sau khi trồng cây bỏ thuốc Basudin… vào trong hố và rải trên mặt đất quanh gốc cây để phòng trừ mối hại

6. Phương pháp bón phân sau khi trồng: Cần căn cứ vào tình hình thổ nhưỡng qua phân tích đất hoặc qua mầu sắc của lá có dấu hiệu khác thường để quyết định bón phân gì ? bao nhiêu? Và vào lúc nào ?

Nguyên tắc chung là bón phân NPK nhiều đợt trong năm và số lượng vừa đủ, không nên bón quá nhiều cùng một lúc. Trong 2 năm đầu chỉ cần bón 100 gram NPK / cây/năm vào đầu mùa mưa và gần cuối mùa mưa. Lưu ý không bón NPK sau khi trồng 02 tháng.

Khi cây 03 tuổi nên bón 350 – 400 gram NPK/cây / năm. Bón phân vào rãnh quanh gốc (rãnh sâu khỏang 5-10cm cách gốc 30-40cm). Mỗi lần bón 120gram/gốc NPK, sau khi bón phân lấp đất lại.

Khi cây đã trưởng thành và cho thu hoạch, nên bón phân chuồng ủ hoai và phân Lân hàng năm vào tháng 11 để phục hồi sức cho cây sau vụ thu hoạch, đồng thời tạo tán tỉa cành.

Lưu ý: Nên bón qua hệ thống tưới nhỏ giọt bằng các chế phẩm sinh học dạng dung dịch sẽ cung cấp đa dạng vi sinh vật phân hủy mùn đất tạo ra đạm, lân, ka li tự nhiên thân thiện môi trường. Bón thêm thành phần Ka li thì sẽ là tăng kích cỡ quả Mắc ca

7. Tưới nước cho cây: Trong thời gian 3 năm đầu sau khi trồng có thể tưới bất khì khi nào nếu thấy khô hạn nhằm cho cây phát triển. Nhưng đến năm thứ 4 trở đi cây có khả năng cho quả thì nên ép khô xiết nước cây nhằm ức chế ra hoa.

Sau đó tập chung tưới đồng loạt vào giữa tháng 1 dương lịch thì đến khoảng giữa tháng 02 đầu tháng 3, cây bắt đầu ra hoa đồng loạt, tăng khả năng thụ phấn chéo cho cây.

Đến tháng giữa tháng 3 dương lịch nên bón phân Lân và tưới nước cho cây thêm một lần nữa nhằm tránh quả bị rụng non do thời điểm đó tại Tây nguyên trời thường khô hạn.

Nếu có hệ thống tưới nhỏ giọt là tốt nhất, có thể bón phân qua hệ thống tưới, cung cấp dinh dưỡng nuôi trái được liên tục. Giảm ngày công lao động

8. Phương pháp tạo tán, tỉa cành: Trong 3 năm đầu nên tạo tán giữ cho cây có 1 thân thẳng đứng. cắt bỏ các cành cao dưới 1,4m. Mỗi tán cành cách nhau khoảng 60-70cm.

Độ dài các nhánh khoảng 60 cm thì cắt ngọn một lần. Chỉ nên giữ lại 2-3 chồi từ một nhánh. Nếu thực hiện đúng phương pháp tạo tán sẽ cho năng suất cao và thông thoáng.

Loại bỏ hoa trái vụ để tập trung dinh dưỡng cho cây và đỡ tốn công thu hoạch nhiều lần trong năm.

9. Phòng trừ sâu bệnh hại: chủ yếu có một số bệnh thường gặp sau

9.1. Bệnh thối hoa: - Triệu chứng: đầu tiên xuất hiện một số đốm màu vàng tối trên đài hoa, sau đó cả hoa bị khô héo, hoa bị khô rồi rụng. Trong điều kiện mưa ẩm những hoa bị nhiễm bệnh biến sang mầu nâu xám đến màu đen.

- Cách phòng trị: Không nên trồng cây quá dày. Cây chớm bị bệnh phun thuốc có hoạt chất Benomyl, Carbendazim, Thiophanate-methyl,… nếu phun chậm thì không có tác dụng.

9.2. Bệnh vỏ quả có nốt: - Triệu chứng: Đầu tiên xuất hiện nốt màu vàng nhạt trên vỏ quả, dần biến thành màu vàng đậm rồi màu nâu lan rộng từ 5-15mm. Khi khuẩn xâm nhập vào phía trong của vỏ nó chuyển sang màu nâu đen.

- Cách phòng trị: Phun Cupric Hydroxide Cu(OH)2 77% pha loãng 300 – 800 lần phun lên toàn bộ quả hoặc cục bộ lô bị bệnh, mỗ tháng 1 lần, trong ba tháng liền.

9.3. Bệnh nấm hại thân cây: - Triệu chứng: Bệnh hại chủ yếu thân cây và cành cây, do hai loại nấm dịch mao khuẩn và hai bào khuẩn mao sắc. Bệnh thường lây lan do tác động cơ giới lan truyền vào vết thương thân cây. Khi đã nhiễm bệnh thì lá, cành bị chết khô và dần cây cũng bị chết.

Vì vậy, việc kiểm tra thường xuyên vườn cây cần được nghiêm túc thực hiện để sớm phát hiện bệnh lý. Khi thấy vết chảy nhựa trên thân cây thì dùng dao cạo hết phần vỏ bị thối sau đó dùng hóa chất như Ridomil Gold 68WP, Ridomil Mz 72WP… hòa nước liều lượng 30 - 50 gam/ lít quét nhiều lần lên vết bệnh; có thể dùng các loại hóa chất này tưới xung quanh gốc cây bị bệnh với liều lượng 30 - 50 gam/10 lít nước… nếu có điều kiện nên sử dụng biện pháp tiêm trực tiếp thuốc AgriFos 400 (liều lượng 20 ml thuốc + 20 ml nước/1 lần tiêm) vào thân cây bằng dụng cụ tiêm chuyên dụng. Ngoài ra có thể dùng loại nấm Trichoderma (liều lượng: 1 kg trộn với 40 kg phân chuồng) là loại nấm đối kháng với nấm Phytophthora (nấm gây bệnh xì mủ thối gốc ) rãi vào đất dưới tán cây.

9.4. Côn trùng: Khi cây ra hoa hoặc chồi  non thường bị kiến và một số loài côn trùng như bọ xít tấn công

Cần phun phòng định kỳ, không nên phun thuốc lúc cây ra hoa. Giai đoạn cây ra trái non, côn trùng thường chích hút quả non làm quả bị những nốt thâm gây rụng quả.

Nên đặt bẫy côn trùng có bán sẵn trên thị trường, Chỉ sử dụng các chất hóa học phun lên cây khi bệnh dịch vượt ngoài tầm kiểm soát với quy mô lớn.

Đối với kiến và chuột, nên thường xuyên làm sạch cỏ quanh gốc cây. Cắt bỏ những cành cây thấp gần mặt đất.

Sử dụng 1 miếng nhựa hoặc kim loại rộng 12 cm, có 2 mặt nhẵn uốn quanh gốc theo hình nón cụt sẽ ngăn đường đi của chúng. Vào trước mùa thu hoạch hạt dùng miếng nhựa cứng, trơn cao 60 cm ốp quanh gốc cây cách mặt đất 50cm cũng có thể ngăn được chuột trèo lên cây

Lưu ý: Nên sử dụng, phun định kỳ lên cây bằng các chế phẩm sinh học thân thiện môi trường để diệt bớt côn trùng có hại (không nên dùng hóa chất diệt toàn bộ sẽ gây mất cân bằng sinh thái, tạo ra dòng mới đề kháng với thuốc ). Tạo ra các vi sinh vật đối kháng có khả năng tấn công trứng và ấu trùng. Việc này là vô cùng cần thiết để sản phẩm xuất khẩu không bị vướng các hàng rào kỹ thuật tại các quốc gia phát triển. Ngoài ra chi phí cũng rẻ hơn các thuốc bảo vệ thực vật bằng hóa học đang lưu hành trên thị trường. Khi trang trại được cấp chứng chỉ Organic thì sp bán ra cũng được giá cao hơn.

Phân loại và giới thiệu các dòng Mắc ca vô tính

Phân loại và giới thiệu các dòng Mắc ca vô tính

Chi Macadamia có 18 loài, trong đó 10 loài nguyên sản tại úc, 6 loài tại Tân Cri-đo-nia, 1 loài tại Ma-đa-gas-ca, 1 loài tại đảo Xi-ri-bô.


1. Phân loại :

Chi Macadamia có 18 loài, trong đó 10 loài nguyên sản tại úc, 6 loài tại Tân Cri-đo-nia, 1 loài tại Ma-đa-gas-ca, 1 loài tại đảo Xi-ri-bô.

Trong 18 loài trên chỉ có 2 loài đã được gây trồng trên quy mô thương mại là:

- Macadamia integrifolia - Mắc ca vỏ hạt láng hay mắc-ca lá nguyên.

- Macadamia tetraphylla- Mắc ca vỏ hạt nhám hay mắc-ca mép lá răng cưa.

Các loài mắc-ca còn lại có nhân nhỏ, vị đắng, ít nhiều chứa độc tố nên chưa được gây trồng nhiều.

Nếu gộp các loài đã được gây trồng, có triển vọng hoặc có giá trị làm cây cảnh thì có thể kể tới 5 loài sau đây :

1.1. Macadamia integrifolia Maiden - Betche. Tạm dịch là mắc-ca vỏ láng hoặc mắc-ca lá nhẵn.

Phân bố tự nhiên tại vùng rừng mưa phía đông đường phân thủy giữa nội địa úc với bờ biển đông úc, chủ yếu là trên lãnh thổ bang Quensland và một phần bang Newsouth wales trong khoảng 25 - 28 o vĩ độ nam. Vùng phân bố tập trung nhất là dãy núi Mepherson mà một bên là sông Nunaibah và bên kia là sông Mary ở phía bắc trên giải rộng 24km, dài 442km.

Loài này cao tới 18m, tán rộng 15m, vỏ cành nhạt màu hơn loài M.ternifolia (mắc-ca 3 lá), lá non màu xanh nhạt, lá hình trứng ngược hoặc thuôn ngược. Lá dài 10,2 - 30,5cm, rộng 2,5 - 7,6cm, có cuống lá ngắn, không có hoặc gần như không có răng cưa, đuôi lá tròn, 3 lá hoặc 4 lá mọc xoáy ốc, nhưng ở cây con hoặc cành non có thể gặp 1 đôi lá mọc đối.

Hoa tự thường mọc ra từ cành già, thường là mọc từ mắt lá sớm thành thục nhất ở đoạn cuối cành (phía ngọn), Hoa tự thường dài 10,2 - 30,5cm; mỗi hoa tự có từ 100 - 300 bông hoa (Hoa màu trắng).

Quả chín rộ vào tháng 3 đến tháng 6 ở úc (mùa thu đông nam bán cầu) và từ tháng 7 đến tháng 11 ở Hawaii. Nhưng ở California quả chín từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau. Tại Quảng Châu và Bán đảo Lôi Châu quả chín từ giữa tháng 8 đến cuối tháng 9. Ngoài ra, ở cây cao tuổi ngoài mùa hoa tập trung vẫn có thể thấy hoa nở rải rác suốt năm. Vì vậy có thể coi loài này là "hoa quả liên tục".

Quả hình tròn, vỏ quả không có lông nhung, màu xanh bóng. Vỏ hạt nhẵn, đường kính hạt khoảng 1,3 - 3,2cm, nhân màu trắng sữa, có hương thơm, chất lượng rất cao.

Hiện nay các giòng vô tính được gây trồng phổ biến ở quy mô thương mại chủ yếu được tuyển chọn từ loài này.

1. 2- Macadamia tetraphylla L.A.S Johnoson, có thể gọi là mắc-ca 4 lá, mắc-ca hạt nhám hoặc mắc-ca lá răng cưa, mắc-ca lá gai.


Nguyên sản tại vùng rừng mưa nhiệt đới phía đông đường phân thuỷ của châu úc trong khoảng 28 - 29 o vĩ tuyến nam, chủ yếu là trên dải đất dài 120km từ bờ nam sông Coomera và sông Nerang thuộc Quensland đến bờ bắc sông Richmont thuộc New south Wales.

Cây cao khoảng 15m nhưng tán xoè rộng tới 18m, vỏ cành nhỏ xẫm màu hơn mắc-ca vỏ láng, nhưng hơi nhạt màu hơn mắc-ca 3 lá (M.ternifolia). Lá non màu đỏ hoặc màu hồng phai, đôi khi có màu xanh nõn chuối. Lá hình thuôn ngược dài 10,2 - 15,8cm, rộng 2,5 - 7,6cm, gần như không có cuống lá, mép lá có răng cưa nhọn như gai, đuôi lá nhọn, 4 lá mọc cách xoáy ốc, đôi khi có 3 lá hoặc 5 lá mọc xoáy. Cây mầm cũng có 2 lá mọc đối.

Hoa tự mọc ra từ cành già, nhỏ và cũng mọc ở mắt sớm thành thục phía cuối đoạn cành.

Hoa tự dài 15,2 - 20,3cm, có từ 100 - 300 bông hoa. Hoa màu hồng phai rất tươi màu, nhưng cũng có cây cá biệt có hoa màu trắng sữa.

Mùa quả chín rộ ở úc từ tháng 3 đến tháng 6, tại Hawaii từ tháng 7 đến tháng 10, tại California từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, tại Quảng Châu và Bán đảo Lôi Châu từ trung tuần tháng 8 đến cuối tháng 9. Loài này mỗi năm chỉ ra quả 1 lần.

Quả hình bầu dục, vỏ quả màu xanh xám, có phủ lớp lông nhung dày. Hạt có vỏ nhám, đường kính hạt từ 1,2 đến 3,8cm, nhân có màu thẫm hơn mắc-ca vỏ nhẵn, chất lượng cũng có khác nhau giữa các giòng.

Loài này cũng có giá trị gây trồng cao, chịu rét khá hơn loài vỏ láng, nếu dùng làm gốc ghép thì nhịp độ tăng trưởng cây khá tốt và đều, khả năng chống chịu nấm độc hại rễ phytophthora cũng khá hơn.

Do chất lượng nhân có thể rất khác nhau, chỉ nên gây trồng những giống đã được tuyển chọn tốt.

1.3- Macadamia ternifolia F.Mueller - Măc-ca 3 lá


Phân bố tự nhiên tại vùng đông nam đường phân thuỷ trong các rừng mưa khoảng 26 o 00' - 27 o 30' vĩ độ nam trên dải đất dài 119km từ sông Bai-in đến vùng KinKin khu vực Kin-Bi thuộc Quensland.

Loài này dễ bị nhận nhầm với nhiều loài khác và rất ít đặc điểm nhận biết dễ thấy.

Nói chung cây thường có tầm vóc nhỏ, chiều cao và độ rộng tán thường khó vượt qua 6,5m. Tán lá thường chia nhiều cành đứng và nhiều cành nhỏ. Vỏ cành nhỏ thường tối màu hoặc đen. Lá non màu đỏ, lá nhỏ hình thuỗn ít khi dài hơn 15,2cm. Lá có cuống, mép lá có răng cưa nhọn, 3 lá mọc cách xoáy ốc, nhưng mầm non cũng thường có 2 lá mọc đối.

Hoa tự thường nhỏ, chỉ dài 5,1 đến 12,7cm; có từ 50 - 100 bông hoa, Hoa màu hồng phai.

Mùa quả chín tại úc là tháng 4, tại California là tháng 11.

Vỏ quả xanh xám, có lông nhung màu trắng rất dày.

Vỏ hạt nhẵn bóng, cỡ hạt chừng 0,95 - 0,61cm, nhân đắng và rất khó ăn. Cho đến nay loài này chủ yếu là dùng làm cây cảnh.

1. 4- Macadamia Prealta F.Muell - Mắc-ca cầu

Quả tròn như quả cầu. Phân bố trong vùng mưa giữa Quensland và New South wales . Quả to chừng 5cm, rất tròn, chứa 1 - 2 hạt. Vỏ hạt mỏng, hiện chưa tìm ra giá trị thương phẩm, nhưng có thể có triển vọng trong tương lai.

1.5- Macadamia Whelanii F.M.Bailey :

Cũng phân bố trong vùng rừng mưa giữa Quensland và New South wales . Lá nguyên không răng cưa. Nhân sống có độc, nhưng thổ dân miền đông úc vẫn ăn sau khi rang chín. Đến nay vẫn chưa gây trồng đến quy mô thương mại.

2. Các dòng vô tính đang được gây trồng :

Các dòng vô tính đang được gây trồng theo quy mô thương mại đều được tuyển chọn từ 2 loài: Mắc-ca vỏ hạt láng (M. integrifolia) và Mắc-ca vỏ hạt nhám (M. tetraphylla) và các dòng lai giữa 2 loài này.

Đến nay toàn thế giới đã tuyển chọn và đặt tên, gây trồng được trên 50 dòng trong số đó được gây trồng phổ biến nhất là các dòng của úc và Hawaii .

Các dòng của Hawaii .


Từ năm 1922, trạm thực nghiệm nông nghiệp Hawaii đã dẫn giống và gây trồng thử cây Mắc-ca ở quy mô thương mại, nhưng do trồng bằng cây hạt nên không đạt hiệu quả kinh tế. Từ năm 1936, Trạm thực nghiệm nông nghiệp này bắt đầu tuyển chọn ưu trội; từ 12.000 cá thể đã chọn và đặt tên được cho 15 cây trội và nhân vô tính. Đến năm 1948 đã chính thức đặt tên các dòng đầu tiên và đến năm 1954 đã đặt thành đề tài nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống và khẳng định các dòng tuyển chọn, nghiên cứu kỹ thuật phối hợp dòng nhằm tối ưu hoá hiệu quả thụ phấn, nghiên cứu kỹ thuật gây trồng, thu hái, bảo quản, chế biến.

Năm 1956 bắt đầu phổ cập các dòng đã tuyển chọn và khuyến khích gây trồng trên quy mô thương mại.

Đến nay tất cả các trang trại gây trồng Mắc-ca trên thế giới đều đã đi đến nhận thức chung là nhân tố quyết định thành công của việc gây trồng Mắc-ca quy mô thương mại là Giống, phải dùng các dòng vô tính đã được tuyển chọn thích hợp với lập địa của mình mới mong đạt được sản lượng và chất lượng cao.

Nhiều nước đã bắt tay vào tuyển chọn dòng ưu trội trên các trang trại của mình, nhưng hầu hết đều dựa trên cơ sở các dòng đã được tuyển chọn của Hawaii và các dòng này phần lớn đều được tuyển chọn từ loài Mắc-ca vỏ hạt láng (Macadamia integrifolia).

Tất cả các dòng do Hawaii tuyển chọn đều có phiên hiệu chung là HAES - chữ cái đầu trong tên tiếng anh của trạm thực nghiệm nông nghiệp Hawaii . Đây là phiên hiệu được đặt ra khi sơ tuyển, mặc dù sau khi được công nhận và đặt tên mới, trong sản xuất và trong giao dịch quốc tế người ta vẫn gọi theo thói quen cũ. Người biên tập cung cấp cả tên cũ và tên mới để đỡ vướng mắc trong giao dịch sau này.

Khi tuyển chọn, ngoài sản lượng hạt, các chỉ tiêu dưới đây rất được coi trọng.


1) Tổng tỷ lệ nhân: Là tỷ lệ phần trăm của phần nhân so với tổng trọng lượng hạt được xác định trong phòng thí nghiệm. Xét về tiềm năng, chỉ số này có thể đạt tới 45%.

2) Tỷ lệ nhân thương phẩm: Là tỷ lệ phần trăm giữa phần nhân so với tổng trọng lượng hạt được bóc tách theo phương pháp chế biến đang áp dụng.

Trong cả 2 chỉ tiêu trên, hàm lượng nước tiêu chuẩn trong nhân là 1,5%.

3) Tỷ lệ nhân cấp 1: Là tỷ lệ phần trăm giữa phần nhân nổi trên mặt nước so với tổng số nhân được đưa vào trắc định. Nhân cấp 1 có hàm lượng dầu tới 72% trở lên. Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng nhân và cả chất lượng bảo quản hạt. Bảo quản tốt tỷ lệ nhân cấp 1 có thể đạt tới 90 - 95%.

4) Kích cỡ nhân: Nếu mỗi nhân đạt trọng lượng 2 - 3g thì được coi là lý tưởng.

5) Hình hài, mẫu mã: Yêu cầu kích cỡ đều, bóng, ít dập vỡ.

6) Sắc thái: Yêu cầu nhân phải có mầu trắng sữa đều nhau, sau khi sấy khô cũng không thay đổi màu sắc. Sau khi xào qua dầu dừa phải có màu vàng sữa đều nhau.

7) Hình thái tán cây: Nhận thức chung là hình thái tán cây phát triển thẳng đứng sẽ cho sản lượng trên đơn vị diện tích cao.

Dựa trên sản lượng và các chỉ tiêu chất lượng nói trên, Hawaii đã đưa ra các dòng sau đây :

Keauhou - HAES 246 Kakea - HAES 508
Nuuan - HAES 336 Kohala - HAES 386
Pahou - HAES 428

Các năm sau lại đưa ra thêm các dòng sau đây :

IKaika - HAES 333 Wailua - HAES 475
Keaau - HAES 660 Kau - HAES 344
Mauka - HAES 471 Makai - HAES 800
Purvis - HAES 294 Pahala - HAES 788
Denison - HAES 790

và một số dòng lai là Beaumont - HAES 695 và NSW 44 v.v...
1) Keauhou (HAES 246)

Chọn ra vào năm 1936, đặt tên năm 1948.

Tán tròn, xoè rất rộng, chia cành rất nhiều và hơi uốn cong xuống đất, cành tương đối nhỏ hoặc trung bình, đuôi lá ít nhọn và hơi cong lên, mép lá lượn sóng, răng cưa (gai lá) ở mức trung bình, bản lá hay cong vặn.

Quả to, màu nâu

Rốn hạt to và hơi lồi, hạt có gân rộng hơi lõm thành rãnh và nhạt màu hơn các phần khác của vỏ hạt. Hoa văn hình trứng tập trung nhiều quanh vùng rốn bằng phẳng.

Tại Hawaii , trọng lượng hạt bình quân khoảng 7,2g; trong đó phần nhân được 2,8g, tỷ lệ nhân đạt 39%, tỷ lệ nhân quả loại 1 đạt 85% (so với hạt). Sản lượng cao, nhưng không đều nhau giữa các vùng gây trồng. Tại Hawaii dòng này đặc biệt tốt tại đảo Kô-na, tại các đảo khác thuộc quần đảo này thì tỷ lệ nhân cấp 1 không được ổn định. Nhưng tại úc, dòng này được coi là đáng tin cậy, theo dõi suốt 4 vụ liền dòng này đều có sản lượng cao hơn mức bình quân của các dòng khác (sản lượng 36,5kg nhân/cây, tỷ lệ nhân 39,2%).

Theo dõi tại Trung Quốc đã cho thấy Keauhou (246) chín muộn hơn Hinder (giòng H 2 của úc), thời kỳ đầu sản lượng thấp nhưng từ 10 tuổi trở đi sản lượng vừa cao vừa ổn định, nhưng chống chịu bão tương đối kém.

2) Kakea (508)

Tuyển chọn năm 1936, đặt tên năm 1948.

Tán lá tròn hẹp hoặc hình tháp nhọn, vỏ cây nhạt màu hơn các dòng khác của Hawaii, đuôi lá hơi tròn, mép lá lượn sóng, ít răng cưa hoặc mép nguyên, có khi mép lá uốn cong. Cành cứng, khoẻ, đốt cành ngắn, lá mọc tập trung dầy đặc ở đoạn đầu cành.

Kích cỡ quả trung bình, quả tròn, rốn hạt to vừa phải, đường gân vỏ hạt mầu nâu đỏ nhưng không lõm thành rãnh.

Tại Hawaii trọng lượng hạt bình quân đạt 7g, trọng lượng bình quân nhân đạt 2,5g, tỷ lệ nhân 36%, tỷ lệ nhân cấp 1 trên 90%.

Đây là dòng cao sản nhất và có giá trị gây trồng thương mại tốt nhất ở quần đảo Hawaii .

Dòng này khá phù hợp với các vùng lạnh, trồng tại bán đảo Lôi Châu, Quảng Đông sản lượng không cao và chịu bão kém.

3) Ikaika (333)

Tuyển chọn năm 1936, đặt tên năm 1952. Tán lá tròn màu xanh đậm, lá to, đôi khi có một số lá già rất to (25cm x 8cm) đuôi lá hơi vuông và cong vặn, mép lá lượn sóng rất mạnh, nhiều gai (răng cưa sắc).

Quả màu đỏ nâu đậm và hơi có chút hoa văn, gân trên vỏ hạt không rõ. Tại Hawaii trọng lượng hạt bình quân đạt 6,5g, trọng lượng nhân bình quân đạt 2,2g, tỷ lệ nhân 36%, nhân cấp 1 đạt 90%.

Dòng này sức sống mạnh mẽ, chống chịu tốt, đặc biệt là chịu lạnh và chịu bão tốt.

Kỹ thuật trồng cây Mắc ca

Kỹ thuật trồng cây Mắc ca

Cây giống đem trồng phải là cây ghép, không trồng giống thực sinh. Cây giống phải có chiều cao từ 60cm đến 1m


Cây Mắc ca có nguyên sản ở vùng Á nhiệt đới ẩm (châu Úc), còn có tên gọi là cây quả cứng Hawaii.Mắc ca là loại cây gỗ lớn, tên khoa học là macadamai, thuộc họ Protaceae là loài cây ăn qủa có giá trị kinh tế cao;  cho quả có nhân chứa chất dinh dưỡng khá cao, hàm lượng dầu tới 78%. Trong dầu mác-ca có trên 87% là axit béo không no, hàm lượng protein trong nhân lên tới 9,2%, cùng 20 loại axít amin rất cần thiết cho cơ thể… Nhân hạt mác-ca được dùng làm thực phẩm cao cấp, dầu được dùng trong các loại mỹ phẩm, rất được ưa chuộng ở thị trường Âu Mỹ.

Cây Mắc ca đã được nhập về trồng ở Việt Nam, trồng thử nghiệm đầu tiên tại Ba Vì (Hà Nội) sau đó được trồng tại Đak Lak, Lâm Đồng (Di Linh, Bảo Lộc, Đơn Dương, Lâm Hà). Sản phẩm có giá trị kinh tế là quả Mắc ca. Tuổi thọ kinh doanh khoảng 40-60 năm. Đặc điểm chung của loài là rễ cọc kém phát triển. Cây có tán rộng, rễ nông vì vậy cây chịu gió bão kém.

1. Mô tả cây Mắc ca

Đây là cây gỗ lớn thường xanh cao tới 18m, tán rộng tới 15m. Cây Mắc ca có hai loại là Mắc ca vỏ hạt nhám (Macadamia tetraphylla) và vỏ hạt nhẵn (Macadamia integrifolia). Lá có hai loại là mép nguyên và lá có mép có răng cưa. Hoa nở rộ từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau (có khi kéo dài đến tháng 4), hoa tự bông dài từ 15-25cm, mỗi chùm hoa chỉ đậu từ 5-14 quả. Hoa màu trắng hay hồng. Hoa Mắc ca không phát ở đầu cành mà mọc ra từ nách lá cành 1- 2 tuổi hoàn toàn độc lập với phát lộc cành non.

Quả hình trái đào hoặc tròn như hòn bi, khi chín vỏ quả chuyển từ xanh sang nâu, vỏ quả khô tự nứt. Vỏ hạt màu nâu rất cứng, nhân hạt màu trắng sữa.

2. Đặc điểm sinh trưởng


- Nhiệt độ: Cây Mắc ca tương đối chịu lạnh, nhiệt độ bình quân không thấp hơn 13oC và không cao hơn 32oC. Giai đọan ra hoa, cây Mắc ca yêu cầu nhiệt độ ban đêm từ 17-20oC để phân hóa mầm hoa giúp cây ra nhiều hoa.

- Lượng mưa thích hợp khoảng 1500 – 2500mm.

- Đất: Có tầng canh tác sâu 1m, tơi xốp, thoát nước tốt, đất không bị chặt, pH thích hợp là 5-6.

- Địa hình: Nên trồng cây ở vùng đất dốc dưới 150 trở xuống.

- Gió: Nên chọn địa điểm trồng có ít gió bão. Cần thiết phải trồng xen với cây chắn gió có thân cao hoặc trồng 1 đến 3 hàng cây chắn gió xung quanh khu vực trồng cây Mắc ca.

- Cây Mắc ca là cây ưa sáng, vì vậy không được trồng dưới tán cây khác.

3. Kỹ thuật trồng cây Mắc ca

3.1 Cây giống:

Nước ta đang trồng khảo nghiệm và chọn lọc được 23 giống tốt của Úc (13 giống), của Trung Quốc (5 giống), của Thái Lan (5 giống). Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng vùng Tây Nguyên nghiên cứu chọn tạo và đang làm thủ tục đề nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống tiến bộ kỹ thuật là các dòng Mắc ca: dòng 849, dòng 246, dòng OC và dòng 816 là thích hợp cho Tây Nguyên.

Để có năng suất cao, ổn định nên trồng cây ghép các dòng nêu trên. Cây giống đem trồng phải là cây ghép, không trồng giống thực sinh. Cây giống phải có chiều cao từ 60cm đến 1m. Cây ghép có chồi ghép đã liền vết sẹo, chồi ghép mọc cao 25-30cm.

3.2 Thời vụ trồng:

Trồng cây vào đầu mùa mưa tháng 6-7 hàng năm.

3.3 Mật độ:

Tùy theo giống cây, vị trí vườn cây mà chọn mật độ trồng phù hợp.

Mật độ trồng thuần từ 200 – 300 cây/ha (278 cây/ha khoảng cách trồng là 9m x 4m; 222 cây/ha khoảng cách trồng là 9m x 5m; 200 cây/ha  khoảng cách trồng là 10m x 5m)

Nếu trồng cây Mắc ca xen trong vườn cây công nghiệp chè, cà phê thì trồng khoảng 70 cây/ha (khoảng cách 12m x 12m).

3.4 Đào hố, bón lót:

- Sau khi quy hoạch vùng trồng, phát dọn thực bì, làm cỏ, làm đất, nếu đất dốc phải tạo bậc thang theo đường đồng mức.

- Đào hố: Kích thước hố trồng là: 1 x 1 x 1m hoặc 0,8 x 0,8 x 0,8m. Lớp đất đáy để một bên, lớp đất mặt để một bên rồi phơi ải khoảng 15-20 ngày mới lấp hố.

- Bón lót: Phân chuồng hoai mục khoảng 15 kg/hố, 0,25 –0,5kg vôi bột trộn đều với phần đất mặt sau đó lấp xuống hố trước. Phần đất đáy còn lại lấp phía trên cho đầy hố. Đào đất, lấp hố hòan thành trước khi trồng khoảng 15- 20 ngày.

3.5 Kỹ thuật trồng

- Để trồng cây Mắc ca đạt năng suất quả cao cần phải trồng phối hợp các dòng khác nhau. Có thể bố trí trồng 03 dòng khác nhau liên tiếp rồi tiếp tục trồng lập lại như vậy.

- Khi mua cây giống về nên để cây nơi râm mát, tưới nước giữ ẩm, khi bộ rễ đã ổn định thì đem cây đi trồng.

- Trồng cây: Vận chuyển cây nhẹ nhàng tránh làm vỡ bầu đất, đào một lỗ lớn hơn bầu đất giữa hố, xé bỏ vỏ nilon đặt cây ngay ngắn lấp đất lèn chặt. Lấp đất kín mặt bầu theo hình mâm xôi để tránh bị úng nước. Trước và sau khi trồng cây bỏ thuốc Basudin… vào trong hố và rải trên mặt đất quanh gốc cây để phòng trừ mối hại. Cắm cọc cố định thân cây Mắc ca vào để tránh bị gió làm lay gốc.

Vì cây Mắc ca chịu gió bão kém nên trồng cây chắn gió từ 2 đến 3 hàng bao xung quanh.

3.6 Kỹ thuật chăm sóc:

Sau khi trồng cây 20-30 ngày tiến hành kiểm tra, trồng dặm cây bị chết; chỉnh sửa ngay ngắn cây bị nghiêng đổ.

Khoảng 30 – 40 ngày sau khi trồng tiến hành phát dọn dây leo, làm cỏ xới đất quanh gốc đường kính 0,8-1m. Lần 2 cách lần 1 từ 40 – 50 ngày. Hàng năm trước khi bón phân, tiến hành làm cỏ, xới đất.

3.7 Bón thúc:

- Giai đoạn trước khi cây ra hoa:

+ Năm thứ nhất: Bón phân vào rãnh quanh gốc (rãnh sâu khỏang 5-10cm cách gốc 25-30cm). Mỗi lần bón 100gram/gốc NPK 16-16-8-13S sau khi bón phân lấp đất lại.  Bón thúc lần 2 cách lần 1 từ 40 – 50 ngày .

+ Năm thứ hai, thứ ba: Bón phân 2 lần vào đầu và gần cuối mùa mưa. Bón phân vào rãnh quanh gốc (rãnh sâu khỏang 5-10cm cách gốc 30-40cm). Mỗi lần bón 120gram/gốc NPK 16-16-8-13S sau khi bón phân lấp đất lại.

- Giai đoạn khi cây ra hoa, đậu quả: Bón phân 3 lần vào giai đoạn trước khi cây ra hoa, cây đang ra trái và sau khi thu hoạch. Lượng phân tăng dần theo năm, bón phân theo đường hình chiếu tán lá. Xới đất thành rãnh sâu 10-15cm, rộng 20cm, sau khi bón phân thì lấp đất lại. Bón khoảng 20-30 kg phân chuồng hoai 1 lần/năm vào giai đoạn trước khi cây ra hoa.

3.8 Tỉa cành, tạo tán:

Hàng năm, sau khi thu hoạch quả cần tỉa cành tạo tán, tỉa bỏ cành yếu sâu bệnh để cây được thông thoáng, giảm sâu bệnh hại.

4. Trồng xen cây ngắn ngày

Trong những năm đầu, khi cây Mắc ca chưa khép tán nên trồng xen cây hoa màu, đậu, bắp, khoai mì… để hạn chế cỏ dại, giữ ẩm, tăng thu nhập trước mắt trước khi cây Mắc ca cho thu hoạch quả. Hàng cây trồng xen cách gốc cây Mắc ca khoảng 1m, không để cây trồng xen che bóng cây Mắc ca.

5. Phòng trừ sâu bệnh hại


5.1 Bệnh hoa:

- Triệu chứng: đầu tiên xuất hiện một số đốm màu vàng tối trên đài hoa, sau đó cả hoa bị khô héo, hoa bị khô rồi rụng. Trong điều kiện mưa ẩm những hoa bị nhiễm bệnh biến sang mầu nâu xám đến màu đen.

- Cách phòng trị: Không nên trồng cây quá dày. Cây chớm bị bệnh phun thuốc có hoạt chất Benomyl, Carbendazim, Thiophanate-methyl,… nếu phun chậm  thì không có tác dụng.

5.2 Bệnh vỏ quả có nốt:

- Triệu chứng: Đầu tiên xuất hiện nốt màu vàng nhạt trên vỏ quả, dần biến thành màu vàng đậm rồi màu nâu lan rộng từ 5-15mm. Khi khuẩn xâm nhập vào phía trong của vỏ nó chuyển sang màu nâu đen.

- Cách phòng trị: Phun Cupric Hydroxide Cu(OH)2 77% pha loãng 300 – 800 lần phun lên toàn bộ quả hoặc cục bộ lô bị bệnh, mỗ tháng 1 lần, trong ba tháng liền.

5.3 Bệnh hại thân cây:

- Triệu chứng: Bệnh hại chủ yếu thân cây và cành cây, do hai loại nấm dịch mao khuẩn và hai bào khuẩn mao sắc. Bệnh thường lây lan do tác động cơ giới lan truyền vào vết thương thân cây. Khi đã nhiễm bệnh thì lá, cành bị chết khô và dần cây cũng bị chết.

- Cách phòng trị: Dùng sơn trắng trộn với Cupric Hydroxide Cu(OH)2 (30% hydroxit đồng 100gr/lít) sơn vào chỗ vị trí từ độ cao 35cm trở xuống gốc cây, nếu cây đã bị nhiễm bệnh dùng hỗn hợp Metalaxyl nồng độ 0,4% và Thiophanate-methyl nồng độ 0,2% với sơn trắng phết vào chỗ bị bệnh mỗi tuần một lần, liên tục ba lần.

5.4 Côn trùng:


Cần phun phòng định kỳ, không nên phun thuốc lúc cây ra hoa. Giai đoạn cây ra trái non, côn trùng thường chích hút quả non làm quả bị những nốt thâm và nứt vỏ quả.

6. Thu hoạch hạt Mắc ca

Cây ghép sau 3-4 năm trồng bắt đầu cho quả bói. Cây trồng sau 10 năm bắt đầu cho năng suất ổn định. Mùa thu hoạch quả từ tháng 7-9. Quả hình trái đào hoặc tròn như hòn bi, khi chín vỏ quả chuyển từ xanh sang nâu, vỏ quả khô tự nứt, bên trong chứa một hạt. Có thể thu hoạch hạt khi hạt rụng xuống đất hoặc hái quả từ trên cây. Quả sau khi thu hoạch cần bóc vỏ ngay trong 24 giờ. Sau đó vận chuyển ngay đến nhà máy chế biến để sấy khô hoặc sấy tại nhà. Việc sấy khô cần làm trong hai tuần sau khi thu hoạch.

Theo TS Lê Ngọc Báu Viện trưởng Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, mắc ca là loại cây giao phấn chéo do vậy giống bắt buộc phải nhân vô tính (ghép chồi) mới giữ được tính trội của cây mẹ. Còn nếu trồng bằng cây thực sinh, hạt bị phân li không đồng đều, nhiều cây sẽ không có quả hoặc rất ít quả. Do tỷ lệ cây mắc ca ghép thành công chỉ khoảng 50% nên giá thành khá cao, vì vậy người dân chủ yếu mua cây thực sinh không rõ nguồn gốc về trồng. Nếu chẳng may mua phải giống không tốt thì hậu quả rất lớn bởi ngoài chi phí đầu tư thì thời gian từ trồng đến thu hoạch khá dài. Mắc ca là loại cây có yêu cầu khá khắt khe về điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng do vậy không phải vùng nào tại Tây Nguyên cũng trồng được. Theo đó, cây phải được trồng tại những vùng có khí hậu mát mẻ, có độ cao 600m trở lên so với mực nước biển, có mùa khô và mùa mưa rõ rệt.

Thứ Bảy, 24 tháng 2, 2018

Bón phân cho cây sấu

Bón phân cho cây sấu

Khi bón phân cho cây sấu chú ý bón khi trời mưa ẩm hoặc sau khi tưới nước, vị trí bón theo hình chiếu của tán cây.

Bón lót:


Hố trồng có kích thước 0,8 - 1m, bón mỗi hố 20-30kg phân chuồng hoai mục + 0,2kg lân; Đặt bầu cây con vào hố, giậm chặt chung quanh cách gốc 15-20cm cho khỏi vỡ bầu, tưới đẫm nước cho mỗi cây từ 3-5 lít.

- Giai đoạn cây dưới 5 tuổi, bón 2-3 tháng/lần, mỗi lần 0,2kg đạm + 0,1kg kali + 0,1kg lần.

- Giai đoạn cho thu hoạch quả bón kết hợp tỉa cành la, phòng sâu bệnh sau khi thu hái quả: từ 20-30kg phân chuồng + 0,2-0,3kg đạm + 0,5-1 kg lân + 0,1 - 0,2kg kali. Bón thúc hoa vào tháng 1, mỗi cây 0,2-0,3kg đạm + 0,2-0,3kg kali. Bón thúc quả vào tháng 4, mỗi cây 0,2 - 0,3kg đạm + 0,3-0,5kg kali.

Chú ý bón khi trời mưa ẩm hoặc sau khi tưới nước, vị trí bón theo hình chiếu của tán cây.

Nhân dân - 9/4/2004

Kỹ thuật trồng sấu để làm giàu rừng

Kỹ thuật trồng sấu để làm giàu rừng

Luỗng phát dây leo, cành nhánh của các cây ở bìa băng chừa để mở sáng cho cây trồng làm giàu rừng


1. Kỹ thuật trồng

- Cự ly trồng: 4 x 3 (m) (hàng cách hàng 4 m, cây cách cây 3m)

- Trồng rừng vào vụ xuân hoặc vụ thu

* Cuốc hố.

- Kích thước hố: 40cmx40cmx40cm

- Hố được bố trí theo nanh sấu giữa các hàng

- Khi cuốc để riêng lớp đất mặt sang một bên.

- Thời gian cuốc hố phải hoàn thành trước khi trồng 1 - 2 tháng.

- Khi cuốc hố nếu thấy đã có cây tái sinh mục đích thì phải cuốc hố tránh sang một bên không để cây tái sinh chèn ép cây trồng.

* Lấp hố kết hợp với bón lót.

- Cuốc lớp đất mặt trên miệng hố xuống trước, sau đó lấp lớp đất mặt xuống, cuối cùng là lớp đất còn lại.

- Hố phải được lấp đầy, giữa hố cao hơn miệng hố 5 cm

- Hố phải lấp trước khi trồng tối thiểu 15 ngày.

* Trồng sấu làm giàu rừng

- Chọn thời tiết râm, mát, mưa nhỏ để trồng

- Dùng dao nhỏ sắc hay dao lam rạch bỏ vỏ bầu trước khi trồng.

- Dùng xẻng hoặc cuốc xới đều lớp đất giữa hố và bới một lỗ sâu hơn chiều cao bầu cây chừng 3 - 5cm. Đặt cây đã bỏ vỏ bầu vào chính giữa hố, mặt bầu ngang với mặt hố. Lấp đất nhỏ kín rồi dùng tay hay chân giậm nhẹ chặt xung quanh bầu, tránh làm vỡ bầu, sau đó lấp lớp đất nhỏ trên cùng dày 1 - 2 cm.

2. Chăm sóc bảo vệ rừng non.

- Bảo vệ không cho trâu bò vào khu vực rừng trồng.

- Bảo vệ không để cháy rừng.

- Điều chỉnh khoảng không dinh dưỡng cho cây tái sinh mục đích, chặt tỉa các cây tái sinh chèn ép cây trồng.

* Chăm sóc nuôi dưỡng rừng giai đoạn tiếp theo

- Trong giai đoạn này chủ yếu bảo vệ không để cháy rừng. Những nơi có thực bì rậm rạp, cần phát luỗng trước mùa hanh khô.

- Điều chỉnh khoảng không dinh dưỡng, loại bỏ cây bụi hoặc cây tái sinh phi mục đích ảnh hưởng đến cây trồng.

- Luỗng phát dây leo, cành nhánh của các cây ở bìa băng chừa để mở sáng cho cây trồng làm giàu rừng

- Những cây cong queo, cây bị sâu bệnh, cây cụt ngọn, cây nhiều thân, cây còi cọc tán lệch.

Kỹ thuật ươm giống sấu

Kỹ thuật ươm giống sấu

Cây Sấu con cần che bóng trong giai đoạn 1 - 2 tháng đầu, Thời gian 20 ngày đầu, che khoảng 60 - 70%, sau 10 ngày giảm còn 40%, 10 ngày sau còn 20%, sau 10 ngày tiếp bỏ hết vật liệu che ra.


1. Kỹ thuật chọn giống

- Cây mẹ để lấy giống có tuổi trên 15 năm.

- Cây sinh trưởng cân đối và khoẻ mạnh

- Sấu ra hoa tháng 4 - 5, quả chín vào tháng 8 - 9. Khi quả chín, vỏ quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng hoặc màu vàng nâu. Hạt cứng có mầu nâu đen là có thể thu hái được.

- Hạt giống sơ chế xong có thể áp dụng một trong hai phương pháp bảo quản sau:

+ Bảo quản trong cát ẩm từ 20 - 25% (Phương pháp đánh giá cát ẩm bằng cách nắm một nắm cát trong tay thấy nước không rỉ qua kẽ ngón tay và lúc bỏ tay ra cát vẫn định hình, sau đó rời ra từ từ là đạt độ ẩm này). Phương pháp này có thể giữ phẩm chất hạt được 3 - 5 tháng.

+ Bảo quản trong tủ lạnh có nhiệt độ ổn định 5°C. Phương pháp này có thể kéo dài phẩm chất hạt được 6 - 9 tháng.

2. Kỹ thuật sản xuất cây con

* Mật độ cây trên luống.

Để cây có đủ khoảng sống và thuận lợi phát triển đường kính gốc, mật độ bầu xếp: 200 - 220 bầu/m2.

* Xử lý hạt giống.

- Hạt ngâm trong nước 2 sôi + 3 lạnh trong 12 giờ.
- Sau đó vớt hạt ra đem ủ trong cát ẩm theo tỷ lệ 1 hạt + 2 cát (theo thể tích). Cách làm cụ thể như sau:

+ Trên nền gạch hay nền đất cứng ngoài trời đổ một lớp cát ở dưới dày 5cm, rải một lớp hạt dày 3 - 5cm

+ Tiếp đến là lớp cát và san đều để cát lấp kín hạt. Trên cùng rải một lớp cát 5cm. Tưới đẫm nước.

+ Che nắng phía trên. Hàng ngày tưới ẩm cho hạt, sau 10 - 15 ngày chọn những hạt đã nứt nanh để gieo vào bầu. Số hạt còn lại chưa nứt nanh thì ủ tiếp.

* Thời vụ gieo ươm.

- Tốt nhất gieo ươm ngay sau khi thu hái quả

* Cấy mầm.

- Hạt nứt nanh được cấy trực tiếp vào bầu. 1 hạt cấy vào 1 bầu.
- Dùng que nhọn chọc một lỗ ở giữa bầu với độ sâu chừng 3cm và bề rộng bằng độ lớn của hạt rồi thả hạt xuống. Dùng tay ấn nhẹ để lấp kín hạt.
- Gieo xong tưới nước ngay để cho hạt tiếp xúc với đất và giữ ẩm cho hạt.

* Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh.

+ Che bóng cho cây.
- Cây Sấu con cần che bóng trong giai đoạn 1 - 2 tháng đầu, Thời gian 20 ngày đầu, che khoảng 60 - 70%, sau 10 ngày giảm còn 40%, 10 ngày sau còn 20%, sau 10 ngày tiếp bỏ hết vật liệu che ra.
- Nên làm giàn che cao 1m70 để đi lại chăm sóc cây con dễ dàng và dùng phên đan hay lưới che.

+ Tưới nước.

- Đảm bảo cho bầu cây ẩm trong 3 tháng đầu. Tưới đủ ẩm cho cả bầu cây, nghĩa là ẩm tới đáy bầu.
- Số lần tưới và ngày tưới tùy theo thời tiết và khí hậu của mỗi vùng mà quyết định.
- Nếu gặp sương muối thì phải dùng nước lã rửa lá cây vào buổi sáng.
- Ngừng tưới trước khi trồng 30 ngày.

+ Làm cỏ phá váng.

- Tiến hành tra dặm. Sau 20 - 30 ngày kiểm tra bầu chết thì dặm hạt mới hoặc cấy cây con vào.
- Định kỳ 15 - 20 ngày nhổ cỏ 1 lần, cỏ phải nhổ ngay lúc còn nhỏ để tránh ảnh hưởng đến cây con, sửa sang cho cây đứng thẳng. Dùng que xới nhẹ trên mặt bầu, tránh gây tổn thương đến rễ cây.

+ Bón thúc.

- Tiến hành bón thúc sau khi cây mạ mọc 30 - 45 ngày.
- Bón NPK: 3 lần, 1 tháng 1 lần
Lần 1: 2kg cho 10.000 cây, nồng độ 1 - 3%
Lần 2: 4kg cho 10.000 cây, nồng độ 1 - 3%
Lần 3: 4kg cho 10.000 cây, nồng độ 1- 3%

Ngừng tưới thúc trước khi trồng 30 - 45 ngày. Dụng cụ tưới thúc: bằng ô doa, tưới lúc sớm hoặc chiều tối.

+ Phòng chống thời tiết bất lợi và phòng trừ sâu bệnh hại.

- Để chống sương muối, gió: tưới nước vào buổi sáng sớm; làm giàn che.
- Chống gió lạnh giá, cắm ràng ràng cao 0,5 - 0,6m. Cây sấu ít bị sâu hại.
- Chú ý phòng chống chuột ăn hại mầm non. Nơi có nhiều chuột thì phải diệt chuột trước, kết hợp quây kín xung quanh bằng vải PE, cao 40 - 60cm và kiểm tra thường xuyên.

* Tiêu chuẩn cây con xuất vườn.

+ Cây con trồng vụ xuân( tháng 3 - 5 năm sau):

- Tuổi: 12 - 18 tháng
- Đường kính cổ rễ: Từ 1,0cm trở lên
- Chiều cao bình quân 80 - 100cm.
- Cây thẳng, không cong queo, cụt ngọn, nhiều thân
- Cây đã hoá gỗ và không bị nhiễm bệnh

Kỹ thuật trồng sấu ăn quả

Kỹ thuật trồng sấu ăn quả

Sấu là cây ăn quả ở vùng nhiệt đới với bộ lá xanh tốt quanh năm, được người dân thành thị, nông thôn trồng nhiều để lấy quả và tạo bóng mát.


Nhân giống

Chọn những quả chín vàng ở cây sấu từ 7 - 10 năm tuổi cho năng suất cao, ổn định. Ngâm quả trong nước sạch khoảng 5 - 7 ngày cho thối rữa hết thịt quả. Dùng rổ tre thưa và cát khô chà sát hết phần thịt quả, hong khô hạt trong bóng râm. Sau đó ngâm hạt trong nước nóng, khoảng 540 C trong 5 - 10 phút để khử nấm bệnh và kích thích nảy mầm. Tiếp tục ngâm nước lạnh từ 18 đến 24 giờ, đãi sạch nước chua nhớt, ủ hạt trong cát ẩm 75 - 80% trong 20-30 ngày, hạt sẽ nút nanh. Đem hạt vào gieo ở các túi bầu nilon có kích cỡ 5 x 10cm với đất bột nhiều màu, đất phù sa 50% + 50% phân chuồng hoai mục ở độ sâu 3 - 4cm. Đặt bầu ươm cây con vào vườn ươm, bầu cách bầu 10cm, che 50-70% ánh sáng trực tiếp. Sau khi cây mọc cao: l5-20cm có 2-4 lá thật chuyển sang bầu nilon kích thước 15 x 30cm với hỗn hợp giá thể 50% đất + 50% phân chuồng hoai mục, tiếp tục che 50-70% ánh sáng trong 15 - 20 ngày, đặt khoảng cách bầu là 30cm, sau đó bỏ bầu che nắng và chăm sóc bình thường đến khi xuất vườn.

Trước khi xuất vườn khoảng hai tháng, tiến hành đảo cây, chặt đứt bộ rễ cái để kích thích cây ra nhiều rễ phụ sau này đem trồng không bị chột. Ở giai đoạn này, cây con thường nhiễm bệnh lở cổ rễ nếu bị mưa nhiều, để phòng tránh nên phun định kỳ 10 - 15 ngày/lần bằng các loại thuốc Anvil 5SC hoặc Valiacin.

Trồng sấu

Sấu là loại cây không kén đất, nhưng nên chọn trồng ở vùng đất cát pha, thịt nhẹ có tầng dày dưới 1m, mực nước ngầm hơn 1m. Muốn trồng sấu lấy quả phải trồng dày với khoảng cách hàng cách hàng 5 - 7m, cây cách cây 2-3m. Sau khi sấu được 5-6 năm tuổi, nên tỉa bớt những cây không sai quả. Hố trồng có kích thước 0,8 - 1m, bón mỗi hố 20-30kg phân chuồng hoai mục + 0,2kg lân; Đặt bầu cây con vào sao cho cổ rễ ngang với mặt đất, giậm chặt chung quanh cách gốc 15-20cm cho khỏi vỡ bầu, tưới đẫm nước cho mỗi cây từ 3-5 lít. Duy trì độ ẩm cho cây từ 75-80% trong 20 ngày đầu để cây khỏi chết. Khi cây cao từ 0,8-1m nên bấm ngọn, nếu trồng sấu làm cây bóng mát thì bấm ngọn ở độ cao 1,8-2m. Mỗi cây giữ 3-4 cành tỏa đều ra bốn hướng tạo thành bộ khung vững chắc cho cây sấu trưởng thành sau này.

Bón phân

- Giai đoạn cây dưới 5 tuổi, bón 2-3 tháng/lần, mỗi lần 0,2kg đạm + 0,1kg kali + 0,1kg lần.

- Giai đoạn cho thu hoạch quả bón kết hợp tỉa cành la, phòng sâu bệnh sau khi thu hái quả: từ 20-30kg phân chuồng + 0,2-0,3kg đạm + 0,5-1 kg lân + 0,1 - 0,2kg kali. Bón thúc hoa vào tháng 1, mỗi cây 0,2-0,3kg đạm + 0,2-0,3kg kali. Bón thúc quả vào tháng 4, mỗi cây 0,2 - 0,3kg đạm + 0,3-0,5kg kali.

Chú ý bón khi trời mưa ẩm hoặc sau khi tưới nước, vị trí bón theo hình chiếu của tán cây.

Thứ Năm, 22 tháng 2, 2018

Kỹ thuật trồng cây bòn bon năng suất cao

Kỹ thuật trồng cây bòn bon năng suất cao

Bòn bon là một loại cây ăn quả thuộc họ dâu đất, kết chùm ở thân và ở cành, trồng lâu năm đem lại giá trị kinh tế khá bền vững


Bòn bon có nguồn gốc ở Đông Nam Á, phân bổ nhiều ở Thái Lan, Indonesia, Philippies, Malaysia và Việt Nam.

Cây Bòn bon cao khoảng 15 – 20m, lá kép long chim, cụm hoa đơn độc hoặc từng chùm ở trên thân hay trên cành to, hoa lưỡng tính, Quả nhỏ hình cầu màu vàng rạ, võ quả có lông nhung có 4-5 múi, nhưng thường chì có 1-2 hạt. Phấn thoái hóa không thụ phấn được cho nhụy. Hạt vì vậy gọi là vô giao (apomitic) giống hệt cây mẹ.

Cây Bòn bon cần được chăm sóc đúng kỹ thuật mới đạt năng suất, tránh sâu bệnh


Cây Bòn bon được coi là một trong những loại cây ăn quả phát dục chậm nhất trồng từ hạt 10-15 năm mới ra hoa kết quả.Tuy không yêu cầu cao lắm về đất, nhưng tốt nhất là đất sâu, thoát nước, nhiều mùn có thể là đất pha cát, li mông (bùn), li mông pha cát mịn, hoặc cát pha li mông. Quan trọng nhất là phải thoát nước và nước ngầm không được quá gần mặt đất.

Là cây của rừng nhiệt đới ẩm, không chịu lạnh. Vùng trồng Bòn bon phải có nhiệt độ trung bình 270c và chênh lệch ít giữa các tháng, lượng mưa phải trên 100mm. Tuy nhiên do được thuần hóa ở các vùng khác nhau nên yêu cầu sinh thái cũng không đòi hỏi quá khắc nghiệt, Bòn bon không chịu được nước úng, bòn bon ưu những nơi mát mẻ, như ở ven rừng, không có ánh nắng chói chang, không gió đặt biệt là khi ra hoa kết quả.

Cách trồng cây Bòn bon đúng kỹ thuật

Bòn bon có thể trồng bằng hạt từ 10 -15 năm thì ra hoa kết quả. Để rút ngắn thời gian, có thể nhân giống bằng phương pháp vô tính: ghép mắt hoặc ghép cành lên gốc ghép ươm từ hạt. Nhân giống bằng phương pháp chiết cành thời gian ra rễ lâu (2 tháng) phải để cành chiết trên cây 5-6 tháng mới cắt.

Khi trồng cây, cần chuẩn bị hố đào 60 x 60 x 60 cm dưới bỏ 5 kg phân hữu cơ hoai, phân gà, vịt là tốt nhất, chăm tưới đặt biệt khi trời hạn.Khoảng cách cây và hàng trồng Bòn bon thích hợp nhất là 6 m x 6 m. Ở vùng đất phì nhiêu có thể trồng  khoảng cách 7 m x 7 m hoặc 8 m x 8 m. Nếu trồng xen với cây ăn quả khác như sầu riêng, chôm chôm thì nên để khoảng cách 10m  theo khoảng cách trồng sầu riêng, chôm chôm.

Bòn bon là loại cây ăn quả cần có bóng râm mát. Do đó người trồng cần có kế hoạch chuẩn bị bóng râm mát trước khi trồng chúng. Cây cho bóng mát phù hợp nhất là cây chuối. trồng chuối thời gian đầu cần theo dõi đừng để chuối đẻ cây con nhiều, rậm rạp, để mỗi góc từ 2-3 cây là vừa (có thể dùng thân chuối hoặc lá chuối phủ gốc giữ ẩm vào mùa nắng).

Nếu muốn trồng cây bóng mát lâu dài 4 năm trở lên thì có thể trồng cây Me dại. Cây Me dại thân mọc thẳng cao, lá nhỏ nên bóng mát không dày đặc mà lấp ló mặt trời, ngoài ra trồng xen trong vườn dừa cũng tốt. Có thể trồng xen với sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, cà phê,....Trồng Bòn bon không cây bóng mát, cũng được nhưng cần quan tâm che đậy (thời gian che ít nhất 18 tháng ), chăm sóc kỹ, tưới nước giữ độ ẩm cho cây.

Cách chăm sóc cây Bòn bon

Trồng 2 -3 năm đầu cần thiết phải có bóng râm cho cây con.

Làm cỏ quanh gốc cách 1m 2 lần 1 năm khi cây còn nhỏ, ủ gốc bằng rơm, cỏ khô, không nên dùng thuốc trừ cỏ phun dưới tán cây.Trong năm đầu, hớt ngọn cây vài ba lần cho cành khung khỏe lên. Sau đó chỉ cắt cành chiếc và cành bị sâu bệnh.5 năm đầu khi cây chưa ra quả, bón mỗi cây 400-1500 gr phân NPK 3 lần trong năm, mỗi năm tăng thêm 200 gr, Khi cây bắt đầu cho ra quả thì tăng phân từ 1500 gr lên 4000 gr (khoảng năm thứ 10) và tiếp tục tăng thêm 500 gr sau đó ổn định ở mức 4kg/năm bón làm 2 lần – một lần trước khi ra hoa lần sau khi kết quả.

Về phòng ngừa sâu bệnh:Cây Bòn bon rất dễ bị sâu đục quả, nhện đỏ, rệp sáp.Khi cây còn nhỏ thì dùng thuốc, cây lớn khó phun thì dùng các phương pháp phòng là chính, vệ sinh cây, vệ sinh vườn, cải tạo môi trường, v.v.v. Ngoài ra có một số loại bệnh nguy hiểm hại cây như bệnh hại rể cây, bệnh thán thư trên quả…

Thời gian thu họach và bảo quản: Bòn bon thu hoạch quả vào tháng 7-8 sau khi ra hoa khoảng 3 tháng.Không thu hoạch Bòn bon sau khi mưa. Thu từng chùm không bứt từng quả. Quả Bòn bon rất dễ bị xây xát làm quả thâm đen.

Kỹ thuật trồng cây Bòn bon cho sai quả, tránh sâu bệnh

Kỹ thuật trồng cây Bòn bon cho sai quả, tránh sâu bệnh

Bòn bon là một loại cây ăn quả thuộc họ dâu đất, kết chùm ở thân và ở cành, trồng lâu năm đem lại giá trị kinh tế khá bền vững


Bòn bon có nguồn gốc ở Đông Nam Á, phân bổ nhiều ở Thái Lan, Indonesia, Philippies, Malaysia và Việt Nam.


Cây Bòn bon cao khoảng 15 – 20m, lá kép long chim, cụm hoa đơn độc hoặc từng chùm ở trên thân hay trên cành to, hoa lưỡng tính, Quả nhỏ hình cầu màu vàng rạ, võ quả có lông nhung có 4-5 múi, nhưng thường chì có 1-2 hạt. Phấn thoái hóa không thụ phấn được cho nhụy. Hạt vì vậy gọi là vô giao (apomitic) giống hệt cây mẹ.

Cây Bòn bon cần được chăm sóc đúng kỹ thuật mới đạt năng suất, tránh sâu bệnh

Cây Bòn bon được coi là một trong những loại cây ăn quả phát dục chậm nhất trồng từ hạt 10-15 năm mới ra hoa kết quả.Tuy không yêu cầu cao lắm về đất, nhưng tốt nhất là đất sâu, thoát nước, nhiều mùn có thể là đất pha cát, li mông (bùn), li mông pha cát mịn, hoặc cát pha li mông. Quan trọng nhất là phải thoát nước và nước ngầm không được quá gần mặt đất.

Là cây của rừng nhiệt đới ẩm, không chịu lạnh. Vùng trồng Bòn bon phải có nhiệt độ trung bình 270c và chênh lệch ít giữa các tháng, lượng mưa phải trên 100mm. Tuy nhiên do được thuần hóa ở các vùng khác nhau nên yêu cầu sinh thái cũng không đòi hỏi quá khắc nghiệt, Bòn bon không chịu được nước úng, bòn bon ưu những nơi mát mẻ, như ở ven rừng, không có ánh nắng chói chang, không gió đặt biệt là khi ra hoa kết quả.

Cách trồng cây Bòn bon đúng kỹ thuật

Bòn bon có thể trồng bằng hạt từ 10 -15 năm thì ra hoa kết quả. Để rút ngắn thời gian, có thể nhân giống bằng phương pháp vô tính: ghép mắt hoặc ghép cành lên gốc ghép ươm từ hạt. Nhân giống bằng phương pháp chiết cành thời gian ra rễ lâu (2 tháng) phải để cành chiết trên cây 5-6 tháng mới cắt.

Khi trồng cây, cần chuẩn bị hố đào 60 x 60 x 60 cm dưới bỏ 5 kg phân hữu cơ hoai, phân gà, vịt là tốt nhất, chăm tưới đặt biệt khi trời hạn.Khoảng cách cây và hàng trồng Bòn bon thích hợp nhất là 6 m x 6 m. Ở vùng đất phì nhiêu có thể trồng  khoảng cách 7 m x 7 m hoặc 8 m x 8 m. Nếu trồng xen với cây ăn quả khác như sầu riêng, chôm chôm thì nên để khoảng cách 10m  theo khoảng cách trồng sầu riêng, chôm chôm.

Bòn bon là loại cây ăn quả cần có bóng râm mát. Do đó người trồng cần có kế hoạch chuẩn bị bóng râm mát trước khi trồng chúng. Cây cho bóng mát phù hợp nhất là cây chuối. Trồng chuối thời gian đầu cần theo dõi đừng để chuối đẻ cây con nhiều, rậm rạp, để mỗi góc từ 2-3 cây là vừa (có thể dùng thân chuối hoặc lá chuối phủ gốc giữ ẩm vào mùa nắng).

Nếu muốn trồng cây bóng mát lâu dài 4 năm trở lên thì có thể trồng cây Me dại. Cây Me dại thân mọc thẳng cao, lá nhỏ nên bóng mát không dày đặc mà lấp ló mặt trời, ngoài ra trồng xen trong vườn dừa cũng tốt. Có thể trồng xen với sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, cà phê,....Trồng Bòn bon không cây bóng mát, cũng được nhưng cần quan tâm che đậy (thời gian che ít nhất 18 tháng ), chăm sóc kỹ, tưới nước giữ độ ẩm cho cây.

Cách chăm sóc cây Bòn bon

Trồng 2 -3 năm đầu cần thiết phải có bóng râm cho cây con.

Làm cỏ quanh gốc cách 1m 2 lần 1 năm khi cây còn nhỏ, ủ gốc bằng rơm, cỏ khô, không nên dùng thuốc trừ cỏ phun dưới tán cây.Trong năm đầu, hớt ngọn cây vài ba lần cho cành khung khỏe lên. Sau đó chỉ cắt cành chiếc và cành bị sâu bệnh.5 năm đầu khi cây chưa ra quả, bón mỗi cây 400-1500 gr phân NPK 3 lần trong năm, mỗi năm tăng thêm 200 gr, Khi cây bắt đầu cho ra quả thì tăng phân từ 1500 gr lên 4000 gr (khoảng năm thứ 10) và tiếp tục tăng thêm 500 gr sau đó ổn định ở mức 4kg/năm bón làm 2 lần – một lần trước khi ra hoa lần sau khi kết quả.

Về phòng ngừa sâu bệnh:Cây Bòn bon rất dễ bị sâu đục quả, nhện đỏ, rệp sáp.Khi cây còn nhỏ thì dùng thuốc, cây lớn khó phun thì dùng các phương pháp phòng là chính, vệ sinh cây, vệ sinh vườn, cải tạo môi trường, v.v.v. Ngoài ra có một số loại bệnh nguy hiểm hại cây như bệnh hại rể cây, bệnh thán thư trên quả…

Thời gian thu họach và bảo quản: Bòn bon thu hoạch quả vào tháng 7-8 sau khi ra hoa khoảng 3 tháng.Không thu hoạch Bòn bon sau khi mưa. Thu từng chùm không bứt từng quả. Quả Bòn bon rất dễ bị xây xát làm quả thâm đen.

Bảo quản quả loòng bong bằng dung dịch Anôlít

Bảo quản quả loòng bong bằng dung dịch Anôlít

Tại huyện Tiên Phước - Quảng Nam, trái cây loòng bong một đặc sản nổi tiếng của xứ Quảng mới đây được nghiên cứu bảo quản thành công bằng dung dịch điện hạt hóa Anôlít, giúp để lâu được 12 ngày vẫn thơm ngon.


Trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học của thế giới và kinh nghiệm dân gian của nơi đây, theo yêu cầu hợp đồng của tỉnh Quảng Nam, nhóm cán bộ nghiên cứu của Viện Công nghệ môi trường đã tiến hành nghiên cứu quy trình bảo quản quả loòng bong bằng dung dịch điện hoạt hóa anôlít.

Kết quả thực tế cho thấy, những mẫu có xử lý anôlít quả tươi lâu hơn, độ cứng cao hơn, tỷ lệ hư hỏng thấp hơn và kéo dài được 12 ngày, trong khi các mẫu đối chứng bắt đầu hư hỏng sau bảo quản 5-6 ngày, hỏng 50% sau 7-8 ngày và hỏng hoàn toàn sau 9-10 ngày... Từ những kết quả thí nghiệm này, các tác giả đã xây dựng quy trình bảo quản loòng bong như sau:


Sơ đồ nguyên lý hoạt động của thiết bị ECAW cho phép thu nhận anôlít trung tính ANK


Quả loòng bong sau khi thu hái, nên tuyển chọn xử lý ngâm ngay trong dung dịch điện hoạt hóa anôlít có nồng độ hoạt tính 50-100 ppm, trong thời gian 5-10 phút, để ráo nước rồi đem đóng bao bì để vận chuyển đi hoặc cho vào kho bảo quản. Kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần đưa loại trái cây đặc sản của xứ Quảng đi xa hơn đến các thị trường khó tính trên thế giới.

Loòng bong là loại quả trồng rải rác ở một số tỉnh miền Tây Nam bộ và Quảng Nam, cây cao, lá to, tán rộng, quả chùm (Giống chùm quả dâu da ngoài Bắc).

Cây có nguồn gốc hoang dại nhưng đã được thuần hóa từ lâu, quả chính ruột trắng, vỏ hơi vàng, ăn ngọt hơi chua, có hương vị thơm ngon đặc trưng của trái, khi chín kỹ vỏ hơi thâm lại. Trước đây, ở Quảng Nam mỗi nhà chỉ trồng một vài cây trong vườn để ăn và để biếu, nhưng sau đó có nhiều người tìm đến mua nên đã được trồng nhiều, trở thành một vùng cây ăn trái nổi tiếng.

Các địa phương có cây đặc sản này phải kể đến các xã Tiên Châu, Tiên Kỳ, Tiên Cảnh thuộc huyện Tiên Phước. Nhưng do Tiên Châu là nơi trồng nhiều nhất và cũng là nơi có những trái thơm ngon nhất nên khách gần xa đều quen gọi là loòng bong Tiên Châu - đặc sản quê hương cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Do đặc điểm thổ nhưỡng, nên loòng bong ở đây có hương thơm rất đặc trưng chỉ trái nơi đây mới có. Mùa thu hoạch từ tháng 8-11 dương lịch, đây cũng là mùa mưa nên quả rất hay hư hỏng.

Cây Bòn bon cũng là cây thuốc

Cây Bòn bon cũng là cây thuốc

Nhiều người trong chúng ta chắc đã từng ăn Loòng boong, một loại trái cây khá ngon, có vị chua ngọt, đã từng được dùng làm lễ vật tiến Vua ngày xưa. Nhưng còn tác dụng làm thuốc của cây này thì các nhà khoa học ở nước ta chưa có ai quan tâm.


Trái Loòng boong (còn gọi là Boòng boong), hoặc Bòn bon, Lòn bon,… và hai tên nữa do Vua nhà Nguyễn ban cho là trái “ Nam Trân” ( trái quý ở phương Nam) và trái “ Trung quân”. Tương truyền rằng trong khi trốn tránh quân Tây Sơn, nhờ có trái Bòn bon ăn cứu đói mà nhóm quân sĩ phò chúa mới cầm cự được. Để ghi công cho cây này nhà Vua đã khắc chạm hình trái Bòn bon vào Nhân đỉnh, tức đỉnh thứ nhì của Cửu Đỉnh ở sân Thế Miếu trong Hoàng thành Huế. Đến thời kỳ kháng chiến, quân và dân ta ở vùng rừng núi Quảng Nam vẫn thường ăn Loòng boong thay cơm mà không bị xót dạ khi đói. Vì thế mà có câu “ Đói lòng ăn trái Loòng boong”.

Bòn bon đang vào mùa ở xã Tiên Châu huyện Tiên Phước

Cũng có người gọi cây này là “ Dâu da đất”, nhưng không phải là cây Giâu gia đất ( Baccaurearamiflora Lour.) thuộc họ Thầu dầu ( Euphorbiaceae).

Cây Loòng boong có tên khoa học là Lausium domestium Corr., thuộc họ Xoan ( Meliaceae). Đây là cây gỗ 15- 20m. Lá kép hình lông chim lẻ, 3-7 lá chét cứng, dài 8- 13cm, gân phụ 12- 14 cặp, cuống phụ dài khoảng 1cm.Cụm hoa hình chùy ở ngọn nhánh, mang nhiều hoa lưỡng tính, màu vàng nhạt, 5 lá đài nhỏ, không lông. Nhị 6- 8, bầu 5 ô, quả tròn, màu vàng nhạt, thường có 5 múi, có vách ngăn mỏng, áo hạt trong và ngọt. Mùa hoa tháng 3, quả chín từ tháng 5 đến tháng 10.

Cội nguồn của cây Loòng boong ở Malaysia, nhưng nó được trồng phổ biến ở Ấn Độ, Nam Á và khắp vùng Đông Nam Á. Ở Việt Nam, cây này mọc hoang và cũng được trồng nhiều ở Quảng Nam, Đà Nẳng trở vào. Ba huyện Tiên Phước, Đại Lộc, Quế Sơn vẫn nổi tiếng là nơi có trái Bòn bon ngon và ngọt. Trên thị trường nước ta còn có loại Loòng boong của Thái Lan, trái to hơn và ngọt hơn.

Những chùm bòn bon chín mọng vừa hái xuống ở xã Tiên Châu huyện Tiên Phước

Ngoài ý nghĩa là một cây ăn trái, Loòng boong còn là cây làm thuốc. Theo tài liệu nước ngoài, từ vỏ cây đã chiết xuất được chất triterpenoid lansiolid, có tác dụng chống ký sinh trùng gây bệnh sốt rét. Tác dụng này đã được thử trong ống nghiệm với Plasmodium falciparum, và trên chuột nhiễm Plasmodium berghei.

Từ lá Loòng boong người ta đã chiết tách được một cycloartanoid triterpen mới ( 3-oxo-24-cycloarten-21-oic acid), có tác dụng ức chế bệnh u da.

Vỏ quả Loòng boong chứa acid lansinic, một chất dầu bay hơi và một chất nhựa màu nâu ( 3,5%).

Ở Java, người ta dùng vỏ quả này làm hương ( nhang) để thờ cúng.

Lớp áo hạt Loòng boong có vị chua ngọt, chứa vitamin C, ăn mát, dùng giải khát và có tác dụng lợi tiểu. Hạt chứa alkaloid và chất nhựa. Lần đầu tiên người ta đã chiết tách được từ hạt chất seco-dukunoid F, một tetranortriterpenoid mới.

Những thông tin trên đây sẽ giúp các nhà khoa học tìm hướng nghiên cứu từ nguồn tài nguyên thực vật dùng làm thuốc ở nước ta.TSKH.Trần Công Chánh - Theo Thuốc & Sức Khỏe

Kỹ thuật trồng, bón phân và nhân giống cho cây bòn bon

Kỹ thuật trồng, bón phân và nhân giống cho cây bòn bon

Là cây của rừng nhiệt đới ẩm, không chịu lạnh. Vùng trồng bòn bon phải có nhiệt độ trung bình 27 độ C và chênh lệch ít giữa các tháng, lượng mưa phải trên 100mm.


Bòn bon (trái bòn bon) có nguồn gốc tại Tây Malaysia, được trồng khá phổ biến trên khắp bán đảo nước này. Cây cũng được trồng rất nhiều tại đảo Luzon (Philippines) nơi đây quả rất được ưa chuộng và cây được trồng để bao phủ các vùng đồi trọc. Cây cũng gặp tại Thái Lan và miền Nam Việt Nam (từ Quảng Nam xuống đến đồng bằng sông Cửu Long, bòn bon Tiên Phước Quảng Nam và Lái Thiêu được xem là loại ngon nhất).

Ngoài ra, tại Ấn Độ cây rất phổ biến trong vùng Nilgiris và tại những vùng ẩm ướt phía Nam Ấn, nơi đây quả được bán tại khắp các chợ. Bòn bon được đưa vào Hawai khoảng năm 1930 và được trồng tại những vùng có cao độ tương đối thấp. Bòn bon kết chùm ở thân và ở cành, ăn ngọt ngọt chua chua, vỏ mỏng.

Bòn bon chín trên cây ở xã Tiên Châu huyện Tiên Phước tỉnh Quảng Nam

1. Tên khoa học và các tên khác:

Lansium domesticum thuộc họ Thực vật Meliaceae

Tên Anh-Mỹ : Lansat; Pháp : Doukou, Lansiam; Đức : Duku; Tây ban Nha : Lanza; Philippines : Lansones; Thái Lan : longkong, lansa; Indonesia : duku, kokosan... Ở Việt Nam Đồng bào Cơ Tu gọi là trái "T' bon" và người Quảng Nam Đà Nẵng gọi là "Long boong" người Huế gọi là "Bòn bon". Mùa thu hoạch bòn bon vào các tháng 5 - 6 - 7 âm lịch, bòn bon có vị chua, thơm, ngọt lạ lùng.

2. Đặc tính:

Cây thuộc loại thân mộc, mọc thẳng đứng, cao 15 - 20 m. Cây phát triển chậm, mất đến 15 năm mới trưởng thành. Vỏ thân màu nâu đỏ hay vàng-nâu. Lá kép hình lông chim, dài 22.5 đến 50 cm: có từ 5 - 7 lá thuôn, cứng, không lông dài 8 - 13 cm, rộng 7 - 12 cm. Phiến lá có 12 - 14 cặp gân phụ. Cuống lá phụ dài đến 1cm. Hoa màu trắng hay vàng nhạt, mọc thành chùm ở ngọn nhánh. Hoa lưỡng phái : đực và cái riêng biệt.

Hoa nhỏ, có 5 lá đài. Quả gần như tròn, tụ thành chùm từ 2 đến 30 quả, vò vàng nhạt hay hơi trắng hồng, mịn như nhung có chứa một chất nhựa - mủ. Quả thường có 5 múi, có vách ngăn mỏng. Múi chứa nhiều nước có mùi thơm. Vị ngọt và hơi chua, quả có hạt trong, dính với thịt, hạt có áo mỏng. Hạt màu xanh lục dài 2 - 2.5 cm, rộng 1.25 - 2 cm có vị rất đắng (đôi khi nếu hạt dính chắc vào phần thịt trong múi của quả, có thể làm cho nước lây vị đắng).

Cây Bòn bon được coi là một trong những loại cây ăn quả phát dục chậm nhất trồng từ hạt 10 - 15 năm mới ra hoa kết quả.

Tuy không yêu cầu cao lắm về đất, nhưng tốt nhất là đất sâu, thoát nước, nhiều mùn có thể là đất pha cát. Quan trọng nhất là phải thoát nước và nước ngầm không được quá gần mặt đất.

Phóng sự trái bòn bon xã Tiên Châu huyện Tiên Phước

3. Giống và vùng trồng:

Bòn bon chỉ trồng ờ miền Nam và miền Trung, miền Bắc không có

Một số giống: đu ku, langsat

4-Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế:
Bòn bon có vị ngọt, dôn dốt, chua và có múi thơm ngon được nhiều người thích ăn và có giá trị kinh tế cao (ở chợ giá bao giờ cũng cao)

5. Yêu cầu ngoại cảnh:

Là cây của rừng nhiệt đới ẩm, không chịu lạnh. Vùng trồng bòn bon phải có nhiệt độ trung bình 27 độ C và chênh lệch ít giữa các tháng, lượng mưa phải trên 100mm. Tuy nhiên do được thuần hóa ở các vùng khác nhau nên yêu cầu sinh thái cũng không đòi hỏi quá khắc nghiệt, Bòn bon không chịu được nước úng, bòn bon ưa những nơi mát mẻ, như ở ven rừng, không có ánh nắng chói chang, không nhiều gió, đặc biệt là khi ra hoa kết quả.

6. Nhân giống:

Trồng bằng hạt từ 10 - 15 năm thì ra hoa kết quả.

Có thể nhân giống bằng phương pháp vô tính: ghép mắt hoặc ghép cành lên gốc ghép ươm từ hạt. Nhân giống bằng phương pháp chiết cành thời gian ra rể lâu (2 tháng) phải để cành chiết trên cây 5 - 6 tháng mới cắt.

7. Cách trồng:

Khoảng cách cây và hàng trồng Bòn bon thích hợp nhất là 6 m x 6 m. Ở vùng đất phì nhiêu có thể trồng  khoảng cách 7 m x 7 m hoặc 8 m x 8 m. Nếu trồng xen với cây ăn quả khác như sầu riêng, chôm chôm thì nên để khoảng cách 10 m (chử ngủ giữa các hàng) theo khoảng cách trồng sầu riêng, chôm chôm.

Trồng cây che nắng: Bòn bon là loại cây ăn quả cần có bóng râm mát (cá tính hợp nhất). Do đó người trồng cần có kế hoạch chuẩn bị bóng râm mát trước khi trồng chúng. Cây cho bóng mát phù hợp nhất là cây chuối. Trồng chuối thời gian đầu cần theo dõi đừng để chuối đẻ cây con nhiều, rậm rạp, để mỗi góc từ 2-3 cây là vừa (có thể dùng thân chuối hoặc lá chuối phủ gốc giữ ẩm vào mùa nắng).

- Nếu muốn trồng cây bóng mát lâu dài 4 năm trở lên thì có thể trồng cây Me dại. Cây Me dại thân mọc thẳng cao, lá nhỏ nên bóng mát không dày đặc mà lấp ló mặt trời, ngoài ra trồng xen trong vườn dừa cũng tốt. Có thể trồng xen với sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, cà phê,....

Trồng Bòn bon không cây bóng mát, cũng được nhưng cần quan tâm che đậy (thời gian che ít nhất 18 tháng ), chăm sóc kỹ, tưới nước giữ độ ẩm cho cây.

Chuẩn bị hố trồng: Hố trồng có kích cỡ vuông 60 cm x 60 cm, sâu 75 cm. Khi đào hố nên để riêng đất trên mặt (lớp đất phía trên đến 30 cm) ra một bên và đất ở lớp phía dưới ra một bên.

- Lượng phân cho mỗi hố: 10 kg phân hữu cơ hoặc phân chuồng hoai, 200 - 300 g Super Lân trộn đều với đất mặt lấp đầy hố. Nếu không đủ đất thì lấy thêm đất mặt ở xung quanh.

- Trên các vườn cũ đã có trồng cây dùng 50g Basudin 10H và 0,3 kg vôi trộn đều với hỗn hợp đất mặt + phân lấp đầy hố.

- Sau đó tưới đẫm nước (hoặc có ít nhất 2 đến 3 cơn mưa) cho hỗn hợp đất + phân phân hủy nhanh.

- Ở những nơi thoát nước tốt như đất đỏ basalt, đất thịt pha cát chỉ cần lấp đầy hố để sau khi tưới nước, đất lún xuống mặt hố sẽ hơi thấp hơn mặt đất bình thường khoảng 10 - 15 cm. Đối với vùng đất thoát nước kém thì phải lấp đất cao hơn mặt hố từ 10 - 15 cm, sau khi tưới nước, đất lún xuống bằng mặt đất tự nhiên là vừa.

- Riêng đối với đất phù sa đồng bằng Sông Cửu Long, tùy thủy cấp mà đắp ụ hoặc lên liếp tối thiểu 40-50 cm so với mực nước thường xuyên ngập. Hố trồng phải chuẩn bị xong trước khi trồng cây ít nhất là 20 ngày.

Trồng cây: dùng cuốc đào một lỗ nhỏ giữa hố trồng, chiều sâu lớn hơn chiều cao của túi đựng cây giống khoảng 2-3 cm. Sau đó dùng các loại thuốc diệt nấm như : Dethane M-45, Mancozeb, Ridomil... phun xịt thật kỹ vào hố trồng cây, liều lượng theo chỉ dẫn trên bao thuốc. Để túi cây trồng trên mặt đất, dùng dao sắc rạch một đường xung quanh túi nylon, cách đáy 1-2 cm, bóc lấy đáy túi ra. xem xét bộ rễ, dùng kéo sắc cắt bỏ toàn bộ rễ cong queo từ 1-2 cm ngoài bầu đất, sau đó mới đem cây đặt vào hố trồng. Dùng dao rạch một đường thẳng đứng từ trên xuống dưới và bóc túi nylon ra. Sau đó dùng tay vun đất và ấn đất nhẹ xung quanh gốc, không được dùng chân đạp đất. Nếu trồng trong mùa mưa, khi trồng tránh gốc bị ngâm nước. Nếu trồng trong mùa khô nên be bờ xung quanh hố (làm bồn) để khi tưới nước ngấm sâu vào lòng đất, không chảy tràn một cách hợp lý.

8. Chăm sóc bón phân:

Tưới nước: theo tự nhiên cây bòn bon là loại cây ẩm ướt, nếu hạn hán kéo dài mà không được tưới nước thường xuyên cây sẽ chết, cho nên song song với bóng râm làm mát đất, cần giữ chế độ tưới thường xuyên về mùa khô. Mặt khác cây cũng dễ chết do úng nước ở gốc, vì vậy cũng phải theo dõi để kịp thời cho thoát nước, nhất là những vụ mưa dầm kéo dài.

Bón phân: 5 năm đầu khi cây chưa ra quả bón mỗi cây 100 - 200g phân NPK 16-12-8-11+TE 3 lần trong năm, mỗi năm tăng thêm 50g, Khi cây bắt đầu cho ra hoa đậu trái thì dùng phân  NPK 12-12-17-9+TE từ 150g lên 200g (khoảng năm thứ 10) và tiếp tục tăng thêm 50gr sau đó ổn định ở mức 1kg (0,5kg NPK 16-12-8-11+TE và 0,5kg 12-12-17-9+TE)/năm bón làm 2 lần – một lần trước khi ra hoa lần sau khi kết trái

Cách bón: dùng que rạch một vòng tròn xung quanh gốc, cách gốc cây khoảng 20 - 30cm, rải phân vào và phủ một lớp đất mỏng lên trên. Trong thời gian cây kiến thiết cơ bản mỗi năm bón thêm 3 lần phần chuồng mỗi lần khoảng 20 - 30 kg.

Trồng 2 - 3 năm đầu cần thiết phải có bóng râm cho cây con.

Làm cỏ quanh gốc cách 1m làm 2 lần 1 năm khi cây còn nhỏ, ủ gốc bằng rơm, cỏ khô, không nên dùng thuốc trừ cỏ phun dưới tán cây.

Đốn tỉa: năm đầu, hớt ngọn cây vài ba lần cho cành khung khỏe lên. Sau đó chỉ cắt cành chiết và cành bị sâu bệnh.

Những chùm bòn bon dài, đẹp và ngon đang được đem đi bán ở xã Tiên Châu

9. Phòng trừ sâu bệnh:

Sâu đục quả, nhện đỏ, rệp sáp.

Khi cây còn nhỏ thì dùng thuốc, cây lớn khó phun thì dùng các phương pháp phòng là chính, vệ sinh cây, vệ sinh vườn, cải tạo môi trường, v.v.v. ngoài ra có một số loại bệnh nguy hiểm hại cây như bệnh hại rể cây, bệnh thán thư trên quả…Thường xuyên quét dọn quanh gốc cây, đừng để úng nước hoặc độ ẩm quá cao, giảm bỏ phân chuồng, nhất là đang ở thời kỳ mùa mưa lớn.

Làm vệ sinh dọn dẹp cỏ rác trong vườn cho thông thoáng, nhằm xóa bỏ môi trường sống của sâu.

Thu dọn sạch sẽ gốc cây, cắt bỏ tất cả các cuống chùm trái còn sót trên cây sau khi thu họach.

Khi phát hiện sâu rầy thì có thể phun một số các loại thuốc như: Trebon, Basa, Decis, Mipcin... và bón Vibasu định kỳ nhằm hạn chế sâu đục thân theo đặc điểm từng vùng.

- Dùng hóa chất diệt vi khuẩn, nấm bệnh như: Aliettre, Ridomil, Zincopper, Mancozeb... theo liều lượng hướng dẫn. ngoài ra vào mùa mưa thường phát sinh bệnh nấm đen, nấm trắng nhưng không nguy hiểm lắm, có thể phun xịt các loại thuốc có gốc đồng, vôi trắng quét lên chổ có nấm.

10. Thu hoạch bảo quản:

Bòn bon thu hoạch quả vào tháng 7 - 8 sau khi ra hoa khoảng 3 tháng.

Không thu hoạch Bòn bon sau khi mưa. Thu từng chùm không bứt từng quả. Quả Bòn bon rất dễ bị xây xát làm quả thâm đen.

Cách giữ trái:

Trái tươi có thể để bên ngoài khoảng 4 ngày. Nếu giữ trong tủ lạnh từ 12-13 độ C thì được 2 tuần. Trái còn thơm và ngọt trong vòng 7 ngày, kể từ ngày hái. Sau đó sẽ lạt đi.

Cách chọn lựa mua trái:

Trái ngon là trái vừa không lớn mà cũng không nhỏ, chỉ to bằng ngón tay cái, da mầu vàng nhạt, núm cuống căng tròn. Khi bóc lớp vỏ ngoài, bên trong lộ ra năm múi dính chặt lấy nhau mầu trắng trong, đầy nước thơm.
Tổng hợp

Thứ Tư, 21 tháng 2, 2018

Trồng cây Sa kê

Trồng cây Sa kê

Cây Sa kê có thể trồng được quanh năm. Khoảng cách trồng sakê là 12 x 14m vài tài liệu đề xuất 10m hay thấp hơn (Coronel 1983). Khoảng 100 cây/ha ở mật độ 10 x 10 hay 8 x 12m (Narasimhan 1990). Khoảng trống giữa các cây sakê có thể trồng cây nhỏ hơn như đu đủ, chuối, dứa hoặc rau cho đến khi cây sakê thuần thục (Ragone, 1997).

1. Giới Thiệu:


Tên thông thường: Cây Sa Kê, Cây Bánh Mì, Tên khoa học: Artocarpus altilis, Họ: Moraceae ( Dâu tằm), Chiều cao: 4 m- Đường kính thân : 10-12cm Cây Sa Kê có nguồn gốc từ các nước Đông Nam Á (được trồng nhiều ở Malaysia) và các Đảo Thái Bình Dương, hiện nay đã được trồng rộng khắp các nước nhiệt đới, trong đó có Việt Nam. Sa Kê là cây gỗ lớn, Cây trưởng thành có chiều cao khoảng 10m đến 20m, có nhựa mủ màu trắng sữa, cành mảnh mọc ngang, dài, làm thành tán rộng, dày. Lá Sa Kê lớn chia 3-9 thùy thuôn dài, cuống mập, rụng để sẹo trên cành. Đặc biệt lá có màu xanh bóng ở mặt trên, mặt dưới rất nhám, khi rụng đổi màu vàng nâu khô, cứng có thể làm vật trang trí. Sa Kê là cây đơn tính cùng gốc, hoa đực và hoa cái cùng mọc trên một cây. Cụm hoa đực ra đầu tiên có dạng bông dài, hoa nhỏ màu vàng, sau đó sẽ xuất hiện cụm hoa cái hình bầu thuôn, mập khi non có màu xanh, hoa mọc thẳng đứng trên cành, khi già hoa cái chuyển sang vàng rất bền. Cây Sa Kê thụ phấn nhờ côn trùng và động vật, chủ yếu là nhờ vào dơi ăn quả. Quả

Sa Kê giống dạng quả mít nhưng không tạo múi chứa thịt quả và hạt. Quả có thể dùng để luộc ăn, say lấy bột chiên hoặc nấu rượu…mang lại giá trị kinh tế cao. Cây Sa Kê gồm hai loại và được phân biệt bởi trái có hạt và trái không có hạt. Riêng Cây Sa Kê cho trái không hạt được trồng để thu hoạch trái cung cấp trên thị trường. Nếu trồng Cây Sa Kê làm cảnh sân vườn thì không cần phân biệt cấu tạo của trái sa kê.

2. Tiêu Chuẩn Chọn Giống:

Chọn cây khỏe mạnh, không sau bệnh, có thể là cây ghép hoặc cây chiết. Giống sakê được chia làm hai loại: loại có hạt là loại bình thường trong khi loại không có hạt là loại đột biến. Loại có hạt thường dùng hạt và khá giống hạt dẻ. Loại không có hạt dùng làm thức ăn. Các giống dùng làm thực phẩm khác nhau ít về chất lượng (Martin 1998). Loại có hạt nhân giống từ hạt. Loại không có hạt thường được nhân vô tính từ rễ hoặc chồi.

3. Thời Vụ và Mật Độ Trồng:

Cây Sa kê có thể trồng được quanh năm. Khoảng cách trồng sakê là 12 x 14m vài tài liệu đề xuất 10m hay thấp hơn (Coronel 1983). Khoảng 100 cây/ha ở mật độ 10 x 10 hay 8 x 12m (Narasimhan 1990). Khoảng trống giữa các cây sakê có thể trồng cây nhỏ hơn như đu đủ, chuối, dứa hoặc rau cho đến khi cây sakê thuần thục (Ragone, 1997).

4. Làm Đất Và Đào Hố Trồng:

Cây sa kê sống từ 30- > 50 năm, cao từ 10- 20m, đường kính cây lên đến 1,2m, người ta thường hãm ( chặt) để cây chống đổ khi có bão nhưng không làm giảm năng suất ra quả của cây, cây sa kê thích hợp với tất cả các vùng thổ nhưỡng kể cả đất phèn, đất mặn. Cây sinh trưởng > 5 độ C, dưới 5 độ C cây vẫn sống nhưng không có quả.

5. Phân Bón Lót:


Dùng phân hữu cơ hoại mục như phân bò hoai hay phân trùn quế để bón lót cho cây sa kê trước khi trồng. Sau đó dùng cây nén chặt xung quanh gốc để giúp cây vững chãi, có thể dùng 3-4 cây cừ tràm hay tầm vông cột chặt vào thân và cành cây sa kê, phân đầu cừ còn lại cắm xiên xuống đất để tránh gió thổi làm cây ngả đỗ sẽ hư bộ rễ non, cây dễ bị chết. Coronel (1983) đề xuất bón 100-200g SA/cây một tháng sau khi trồng và sau đó 6 tháng/lần. Khi cây bắt đầu cho trái, bón 500-1000g/cây, 2 lần/năm. Khi cây cho trái nhiều cần bón 2kg/cây. Cây không cần tỉa tạo cành ngoại trừ việc cắt đi cành chết. Khi cây quá cao có thể cưa ngọn để duy trì độ cao phù hợp cho việc thu họach (Ragone, 1997).

6. Kỹ Thuật Trồng Cây Sa Kê:

Khi bắt đầu trồng cây phải vun mô nâng cao độ cao của đất lên khoảng 20cm, nhằm giúp thoát nước cho bộ rễ cây Tiến hành đào lỗ đặt bầu sao cho rễ và thần cây ngay thẳng ở giữ hố, mặt trên của bầu thấp hơn miệng hố 1-2cm. Xé bỏ vò bầu trước khi đặt cây xuống hố, chú ý không được làm vỡ bầu hay bầu bị biến dạng. Lấp phần đất mặt xuống trước, lèn chặt bầu, vun thêm đất mặt vào quanh gốc trên cổ rễ 2-3cm. Dùng 3-4 cây gỗ cột vào thân và cành cây, đầu còn lại cắm xuống đất để tránh gió thổi làm đổ cây bật rễ non làm hỏng bộ rễ.

7. Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Sa Kê:

7.1. Kỹ thuật chăm sóc định kỳ:

Tưới nước đầy đủ cho cây sa kê sau khi trồng, có thể dùng thuốc ra rễ như N3M, surper roots, phân surper lân pha nước tưới cho cây ( khoảng 2-3 lần, cách nhau 5-7 ngày ) để mau ra rễ mới. Sử dụng tàn dư thực vật giữ ẩm là rất phổ biến cho cây sakê ở vùng Thái Bình Dương. Thời gian đầu sau trồng, cây cần được tưới nước nhưng sau đó nếu không tưới cây sakê vẫn sinh trưởng và đậu trái tốt, thậm chí ở vùng có mùa khô rõ rệt (Ragone, 1997).

7.2. Kỹ thuật Cắt tỉa, tạo hình:


Thường xuyên cắt bỏ những cành lá khô, héo, sâu bệnh.

7.3. Kỹ thuật Bón phân Cho Cây Sa Kê:

Sau khi trồng khoảng 25-30 ngày là cây bắt đầu phục hồi, lá bắt đầu nhú ra thì rải thêm khoảng một muỗng cà phê ( nếu cây nhỏ ) và muỗng canh ( đối với cây lớn) phân DAP xung quanh gốc cây. Sau 3 tháng cây sa kê đã cho nhiều lá mới và chồi non thì bón phân NPK 16.16.8 hay sunphat amon SA với liều lượng như phân DAP.Có thể bón luân phiên từng đợt cách nhau mỗi tháng bón một lần phân hạt. Trường hợp trồng cây sa kê nơi đất hẹp mà bộ rễ ăn lên trên thì phải bồi thêm lớp đất và phân hưu cơ cho cây mau lớn. Nếu trồng cây ngoài đất sân vườn thì chỉ cần chăm sóc trong 2 năm , không cần tưới nước mà chỉ cần bón phân làm 2-3 đợt trong năm để cây cho nhiều trái.

8. Phòng Trừ Sâu Bệnh Cho Cây Sa Kê:

Khi trồng cây sa kê mà thao tác làm tổn thương nhiều đến bộ rễ, sẽ làm ngọn chính của cây bị teo dần và đen chết , cây sẽ tái sinh những chồi trên thân. Khi đó cần cắt bỏ phần thân nhánh chết khô và phun nấm phòng bệnh như kasumin, valydamycin, metaxyl…. Nếu gặp trời mưa kéo dài và nắng gắt đột ngột, làm cho các loài rệp dễ tấn công, cần phun thuốc BVTV vừa phòng rệp như Secsaigon, anvado 100WP, bassan…cùng thuốc trừ nấm để phun khi có thời tiết bất thường. Lưu ý phong trừ sâu bệnh khi cây còn nhỏ hay mới trồng. Tuy nhiên cây sa kê phát triển tốt thì ít khi bị sâu bệnh tấn công. Cây sa kê trưởng thành cho hàng trăm trái trong một năm, cây sa kê thuộc nhóm cây thân gỗ trung bình và sống rất lâu năm. Sakê là cây thân cứng và tương đối ít sâu bệnh, tuy nhiên rệp sáp và bệnh đốm lá có thể gặp ở nhiều cây (Rajendran 1992). Vấn đề sâu bệnh ở sakê mang tính khu vực, bọ nhảy hai đốm hại lá ở Hawaii, rệp Rastrococcus invadeniss ở Tây Phi (Agounke et al.1988), nấm Rosellinina sp. ở Trinidad and Grenada (Marte 1986), tuyến trùng hại rễ (Meloidogyne sp.) gây nghiêm trọng ở Malaysia (Razak 1978). Ngoài ra còn có die-back (Zaiger and Zentmeyer 1966), thối trái, ruồi hại trái (Ragone, 1997)

9. Thu Hoạch và Bảo Quản:

Thường hái trái khi đã già nhưng chưa chín, trái thu hoạch không rớt xuống nền đất sẽ lưu giữ được lâu hơn. Nghiên cứu cho thấy có thể bảo quản sakê trong túi P.E. kín ở nhiệt độ thấp nhưng trái dễ bị tổn thương lạnh nếu bảo quản dưới 12°C. Bảo quản ở 14°C có thể giữ được 10 ngày. Thu hái cẩn thận có thể cải thiện thời gian bảo quản và chất lượng trái (Maharaj and Sankat 1990). Dùng màng bao (waxed) và bảo quản ở 16°C có thể kéo dài được 18 ngày. Bảo quản trong điều kiện điều chỉnh khí 5% CO2 và 5% O2 ở 16°C có thể bảo quản được 25 ngày nhưng giá thành cao (Ragone, 1997).

10. Kinh nghiệm và Thị Trường:

Cây sakê cung cấp dinh dưỡng cao, hàm lượng hydrat carbon cao, và có thể tiêu thụ được ở mọi giai đọan. Cây có tuổi thọ hơn 50 năm và cung cấp dinh dưỡng cho con người, làm gỗ và thức ăn gia súc. Sakê yêu cầu đầu tư ít, nhân công ít và có thể trồng trong nhiều điều kiện sinh thái. Bởi sakê thường được sử dụng khi chín nhưng còn cứng, các nghiên cứu về dinh dưỡng, phát triển thương mại hóa sản phẩm cần lưu ý giai đọan này để kéo dài thời gian quả cứng. Quả chín thường bị bỏ đi hoặc làm thức ăn cho gia súc và vì vậy rất ít nghiên cứu để mở rộng khả năng sử dụng quả khi chín. Trái sakê có thể tiêu thụ nhiều hơn nếu phối trộn sakê trong các sản phẩm khác như thức ăn em bé, đồ nướng, đồ tráng miệng (Ragone, 1997)