Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2016

Sâm tiên mao rừng (sâm cau đen) – Thần dược chốn phòng the

Sâm tiên mao rừng (sâm cau đen) – Thần dược chốn phòng the

Sâm tiên mao hay còn gọi là sâm cau, ngải cau, có tên khoa học là Curculigo orchioides gaerten thuộc dòng họ thủy tiên, là một loại cây thảo dược quý có chưa chất steroid từ thiên nhiên, có tác dụng như tác dụng như TESTOSTERON tốt cho nam giới.

Là loại cây cỏ cao tầm 40cm có thân ngầm dài hình trụ; lá hình mác hẹp dài từ 15 – 40cm, rộng từ 12 – 35mm, nhọn ở hai đầu và có hình dạng giống lá cau. Hoa tiên mao có màu vàng, không có cuống nằm trong bẹ của lá. Sâm tiên mao mọc chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc của nước ta.

Ở đồng bào ít người thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc thường dùng rể của cây này để làm thuốc bổ nên chúng được gọi là Sâm, vì lá của chúng giống lá cau nên sâm tiên mao còn có tên gọi khác là sâm cau.

Tác dụng chữa bệnh của sâm tiên mao (sâm cau đen)

Theo Đông Y, sâm tiên mao có vị cay hơi đắng, tính ấm, có độc và đi vào kinh thận với tác dụng làm ấm thận, tráng gân cốt và trừ hàn thấp. Có thể chữa trị bệnh liệt dương, yếu sinh lý, tinh lạnh, băng lậu, ngực bụng lạnh và tiểu không cần được.

Theo y học hiện đại sâm tiên mao có tác dụng chống lại sự oxy hóa, tăng cao sự miễn dịch của cơ thể, tăng cường năng lực và hoạt động của tuyến sinh dục nam. Giúp cơ thể nâng cao khả năng thích nghi với môi trường thiếu dưỡng khí hoặc ở những nơi có nhiệt độ cao. Tiên mao còn có khả năng tăng cường các hoạt động của tim mạch, bảo vệ gan, khám viêm, chống được nấm, co giật và huyết khối. Ngoài ra tiên mao còn có chức năng chống lão hóa, tăng khả năng hoạt động của cơ bắp, cải thiện làn da cho phụ nữa, phòng chống được đái tháo đường và ung thư.

Bộ phận của sâm tiên mao (sâm cau đen) được dùng làm thuốc.

Người ta thường thu hái thân rễ tiên mao quanh năm để về làm thuốc. Đào lấy củ rửa sạch sau đó bỏ những rễ con và cạo lớp vỏ bên ngoài ngâm với nước vo gạo qua một đêm để khử độc rồi hôm sau lấy ra phơi hoặc sấy khô. Trong thân rễ của sâm tiên mao có chứa các chất tinh bột, tanin, acied béo, beta-sitosterol, stigmasterol và các hợp chất flavonoid.

Củ sâm cau bên ngoài vỏ có màu đỏ, bên trong có màu trắng, khi phơi khô có mùi thơm ngậy.

Hàng năm vào tháng 11 người dân sẽ đi lên núi đào lấy củ về thái mỏng phơi làm thuốc hoặc có thể dùng để ngâm rượu.

Đối tượng nên sử dụng sâm tiên mao (sâm cau đen)

Các bệnh nhân mắc bệnh liệt dương, bị yếu sinh lý, xuất tinh sớm hoặc vô sinh.
Những người bị suy giảm chức năng về tình dục.
Người già chân tay bị tê buốt, đau mỏi và nhức xương khớp.
Với những người bình thường không có bệnh vẫn có thể dùng sâm cau để tăng cường hệ miễn dịch và khả năng tình dục.

Cách dùng và liều dùng của sâm tiên mao (sâm cau đen)

Mỗi ngày có thể dùng từ 3 đến 10g sâm đã được ngâm rượu hoặc là sắc thuốc.
Có thể chữa đau nhức do hàn thấp bằng các dùng sống.
Dùng sâm cau đen tẩm với rượu sao để chữa bệnh liệt dương tăng cường sinh lực cho nam giới.

Cây táo Tàu

Cây táo Tàu

Cây táo tây có nguồn gốc ở Trung Á. Hiện nay táo tây được trồng phổ biến trên toàn thế giới, trồng nhiều nhất tại Trung Quốc. Có lẽ vì lý do này và các quả táo bán được nhập về từ Trung Quốc mà người Việt Nam quen với tên gọi táo Tàu.

Tên gọi khác của Táo Tây: Bôm (xuất phát từ phiên âm tiếng Pháp: Pomme)

Tên khoa học: Malus domestica

Phân loại: Táo có hơn 75000 giống khác nhau.

Phân bố Của táo tây, Táo tàu: Cây táo tây có nguồn gốc ở Trung Á. Hiện nay táo tây được trồng phổ biến trên toàn thế giới, trồng nhiều nhất tại Trung Quốc.

Đặc điểm riêng của cây

- Cây táo tây cao khoảng 3–12 m, tán rộng và rậm.

- Lá táo hình bầu dục, rộng 3–6 cm, dài 5–12 cm; đầu lá thắt nhọn với cuống lá (petiole) khoảng 2–5 cm. Rìa lá dạng răng cưa. Đến thu cây rụng lá.

- Hoa táo nở vào mùa xuân cùng lúc khi mầm lá nhú. Hoa sắc trắng, có khi pha chút màu hồng rồi phai dần. Hoa có năm cánh, đường kính 2,5-3,5 cm.

- Quả có vỏ mỏng màu đỏ, thịt quả trắng xanh, và ruột có 5 múi với mỗi múi có 1-3 hột nhỏ màu nâu. Trái chín vào mùa thu và thường có đường kính cỡ 5–9 cm.

Kỹ thuật chăm sóc cây táo tàu

- Có thể trồng được quanh năm, tốt nhất nên trồng vào đầu mùa mưa để bớt công tưới. Cần cung cấp đủ nước cho cây nhất là trong mùa khô, khi trái đang lớn và lúc quả sắp chín.

- Cây 1 năm tuổi: bón cho mỗi cây 10 kg phân hữu cơ, 0,1 kg super lân, 0,6 kg NPK (20 : 20 : 20 :15). Chia đều bốn lần bón trong năm, mỗi lần cách nhau hai tháng sau khi trồng. Riêng phân hữu cơ sẽ được bón lót trước khi trồng.

- Cây 2 năm tuổi trở lên: bón cho mỗi cây 1,0 – 1,5 kg NPK (20 : 20 :15), chia đều bốn lần bón vào các tháng 1, 3, 5, 7 , mỗi lần 0,2 – 0,3 kg NPK (20 : 20 :15). Sau khi thu họach vụ trước khỏang 5 – 7 ngày tiến hành đốn tái sinh kết hợp bón thêm 10 – 20 kg phân hữu cơ cho mỗi cây. Khi bón nên đào rãnh hoặc đào hốc xung quanh tán cây bón phân và lấp đất lại.

- Sau khi thu họach vụ trước cần đốn cành tạo tán và làm cho cây trẻ lại để vụ sau ra hoa kết quả nhiều hơn. Thời gian đốn tốt nhất là trung tuần tháng 3. Cắt bỏ cành bị sâu bệnh, cành dưới tán, sau đó quét vôi. Tránh đốn vào mùa mưa.

- Trồng xen một số lọai cây rau màu, đậu khi đốn tái sinh cây táo để tăng thu nhập và hạn chế bớt cỏ dại.

Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây mận Tam Hoa

Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây mận Tam Hoa

Mận Tam Hoa thuộc họ hoa hồng là loại cây ăn quả lâu năm, rụng lá mùa đông, trồng chủ yếu ở các vùng ôn đới nơi có độ cao trên 500 m so với mực nước biển.

I. Đặc điểm sinh học

Mận Tam Hoa thuộc họ hoa hồng là loại cây ăn quả lâu năm, rụng lá mùa đông, trồng chủ yếu ở các vùng ôn đới nơi có độ cao trên 500 m so với mực nước biển.

Mận Tam Hoa là giống sinh trưởng mạnh, phân cành nhiều phù hợp với khí hậu Bắc Hà, Sa Pa và một số vùng sinh thái của tỉnh Lào Cai.

Thân cây non có màu nâu đâm vỏ nhẵn, thân già có màu mốc trắng xù xì. Lá kép, mép lá có răng cưa, lá màu xanh đậm. Hoa ra thành chùm, mỗi chùm có ba hoa, hoa màu trắng. Quả vỏ tím xanh, ruột tím đậm, ra hoa tháng 2, chín tháng 5 tháng 6. Khối lượng quả: 20- 30 quả/kg

II. Kỹ thuật trồng

1. Chọn giống: Chọn cây khỏe mạnh không sâu bệnh, có thể trồng bằng cây ghép có bầu đất hoặc cây rễ trần.

Tiêu chuẩn cây giống: Cây con rễ trần tuổi từ 12 – 24 tháng, chiều cao cây từ 35 cm trở lên, đường kính gốc từ 0,6- 0,8 cm, đường kính cành ghép đo trên mắt ghép 2 cm từ 0,6- 0,7 cm. Không sâu bệnh, cụt ngọn.

2. Mật độ: 400 cây/ha, hàng cách hàng 5 m, cây cách cây 5 m.

3. Thời vụ: Trồng mận vào tháng 2 - 3 trước khi nảy lộc xuân và tháng 11- 12 sau khi rụng lá.

4. Đất trồng: Đất trồng mận có độ mùn 2- 2,5%, có tầng dày trên 50cm, đất tơi xốp, khả năng giữ ẩm tốt, dễ thoát nước.

Đào hố có kích thước 60 x 60 x 60 cm hoặc 50 x 60 x 70 cm. Đào để riêng lớp đất mặt để cho xuống đáy hố. Bón mỗi hố 20 kg phân chuồng hoai + 0,2 kg lân super + 0,1 kg Kali clorua, trộn đều với đất và lấp đầy hố, sau 30 ngày tiến hành trồng.

Đất có độ dốc nhỏ hơn 7% hố trồng ngang bằng mặt đất, độ dốc lớn hơn hố trồng có thể thấp hơn mặt đất 10 – 20 cm.

5. Cách trồng:

Trồng cây giữa hố, bới một hốc nhỏ ở giữa hố trồng, đặt cây vào vị trí (nếu cây có bầu dùng dao rọc một đường từ trên xuống để lấy túi đựng bầu ra), lấp đất giữ chặt cây nén chặt xung quanh, tưới 10-15 lít nước cho 1 gốc.

Cắm cọc cố định cây buộc bằng dây nilon để tránh cây bị lay gốc.

III. Kỹ thuật chăm sóc

1. Giữ ẩm: Dùng cỏ rác khô tủ xung quanh gốc cây để giữ ẩm cho cây.

2. Tưới tiêu:

Sau trồng tuỳ tình hình thời tiết, hai tháng đầu tiến hành tưới 1- 2lần/1tuần. Thời kỳ cây chuẩn bị ra hoa cần giữ cho gốc cây khô ráo, thời kỳ mang quả, cây cần nước để nuôi quả. Tùy theo thời tiết từng năm để điều chỉnh số lần tưới, tuy nhiên mận Tam Hoa cũng như cây ăn quả khác là không chịu được úng.

3. Bón phân

Nhằm duy trì độ phì cho đất và dinh dưỡng cho cây. Lượng phân bón tăng dần theo tuổi cây và căn cứ vào năng suất quả. Tập trung bón vào giai đoạn cây có nhu cầu dinh dưỡng cao nhất. Lượng phân N, P, K cần chia ra bón 3 lần trong năm, chủ yếu tập trung bón vào cuối mùa đông.

- Lượng phân bón (kg)
Phân bón Định mức/cây/năm Lượng bón/ha/năm (400cây/ha)
Cây kiến thiết cơ bản Cây cho thu hoạch Cây kiến thiết cơ bản Cây cho thu hoạch
Phân chuồng 20 30 8.000 12.000
Urê 0,3 0,5 - 0,7 120 200 - 280
Lân supper 0,5 0,7  0,8 200 280  320
Kali clorua 0,2 0,3 - 0,5 80 120  200

- Thời điểm bón:

* Đối với cây thời kỳ kiến thiết cơ bản:

+ Lần 1 (tháng 3): Bón 100 % phân chuồng (20 kg), 70 %  lân super (0,35kg),  50 % urê (0,15 kg), 50 % Kali clorua (0,1 kg) để cung cấp dinh dưỡng nuôi cành xuân, hoa, quả.

+ Lần 2 (tháng 7): Bón 15 %  phân super lân (0,075 kg), 25 % urê (0,075 kg), 25 % Kali clorua  (0,05 kg) để cây phục hồi sau vụ cho quả.

+ Lần 3 (tháng 11): Bón 15 %  super lân (0,075 kg), 25 % urê (0,075 kg), 25 % Kali clorua (0,05 kg). Cung cấp dinh dưỡng cho cây trước khi ngủ đông, tăng tuổi thọ cho bộ lá, hạn chế lá rụng trước tuổi, hạn chế bệnh gỉ sắt.

* Đối với cây thời kỳ kinh doanh:

+ Lần 1 (tháng 3): Bón 100 % phân chuồng, 70 %  lân super,  50 % urê, 50 % Kali clorua để cung cấp dinh dưỡng nuôi cành xuân, hoa, quả. Tương đương với 30 kg phân chuồng, 0,6- 0,56 kg lân super, 0,25- 0,35 kg urê, 0,15- 0,25 kg Kali clorua .

+ Lần 2 (tháng 7): Bón 15 %  phân super lân, 25 % ure, 25 % Kali clorua để cây phục hồi sau vụ cho quả. Tương đương với 0,1- 0,12 kg lân super, 0,125- 0,175 kg urê, 0,075- 0,125 kg Kali clorua.

+ Lần 3 (tháng 11): Bón lượng phân còn lại với 15 %  phân super lân, 25 % ure, 25 % KCL. Tương đương với 0,1- 0,12 kg phân lân super, 0,125- 0,175 kg ure, 0,075- 0,125 kg Kali clorua. Cung cấp dinh dưỡng cho cây trước khi ngủ đông, tăng tuổi thọ cho bộ lá, hạn chế lá rụng trước tuổi, hạn chế bệnh gỉ sắt.

- Cách bón:

+ Bón phân chuồng: Cuốc hố xung quanh tán cây sâu 20 cm, rắc phân lấp đất.

+ Phân vô cơ: Gạt lớp cỏ tủ gốc rồi rắc phân trên mặt đất theo hình tán cây sau đó tưới nước, phủ lớp cỏ lên để phân bón thấm dần xuống đất và tránh sự bốc hơi gây thất thoát phân bón.

4. Làm cỏ:

Tiến hành làm cỏ thường xuyên để tránh cạnh tranh dinh dưỡng với cây mận, đồng thời không để chỗ cho sâu, bệnh trú ngụ. Thông thường làm cỏ 6-7 lần/năm, không nên để cỏ có hoa rồi mới phát vì hạt cỏ dễ dàng phát tán trong vườn. Tiến hành nhổ cỏ gốc thường xuyên.

Thời kỳ cây chưa khép tán có thể trồng một số cây họ đậu giữa các hàng cây để cải tạo đất, hạn chế xói mòn đất.

5. Đốn tỉa:

Đốn tạo hình: Đốn tạo cho cây phát triển theo dạng hình phễu. Mục đích của tao tán cây hình phễu là giữ lại từ 3-4 cành chính xuất phát từ một điểm của thân chính cách mặt đất khoảng 45 cm Những cành chính này luôn tạo thành một góc sao cho trung tâm của cây mở ra, cành phân bố đều các phía. quả được mọc từ các cành bên và cành chính này.

a/ Đốn tỉa cây trong thời kỳ kiến thiết cơ bản

* Giai đoạn 1: Sau khi trồng

Chỉ tiến hành đốn tỉa khi cây đã mọc tốt. Chọn 3 hoặc 4 chồi mọc xung quanh thân chính cách mặt đất khoảng 45 cm, cắt bỏ thân chính phía trên các cành đã chọn. Nếu các chồi trên cây đã quá cao thì cắt ngang khoảng 40- 50 cm và chờ để chọn những chồi mới mọc ra ở dưới vết cắt đó.

* Giai đoạn 2: Sau trồng 6 tháng

 Thường xuyên bấm ngọn những cành sinh trưởng sinh dưỡng mạnh ra phía ngoài để đảm bảo các cành mọc thành góc 45 0. Trong điều kiện đủ dinh dưỡng và nước thì sau trồng 6 tháng cây cao khoảng 1,5 m. Những cành chính có thể được cắt ở chỗ có 2 chồi sinh dưỡng mọc hướng ra phía ngoài cao trên 1 m so với mặt đất. Việc đốn tỉa này sẽ kích thích sự phát triển của 2 cành từ 1 cành chính để tạo ra 6 hoặc 8 cành chính trên 1 cây.

* Giai đoạn 3: Sau trồng 12 tháng đến 3 năm: Tiến hành đốn tỉa cho những cây cho thu hoạch.

b/ Đốn tỉa các cây đang cho thu hoạch

Các cây đang cho thu hoạch cần đốn tỉa để tạo sự cân bằng giữa quả và sự phục hồi của các chồi bên để duy trì và tăng năng suất quả năm sau. Đốn tỉa phải đạt được yêu cầu: Giữ được kích thước của cây theo yêu cầu quản lý; Cho phép ánh sáng, thuốc BVTV… phun tới được tất cả các phần của cây; Kích thích được sinh trưởng, phát triển của cây trong mùa xuân, mùa hè, ra các cành cho quả mới cho mùa sau; Đốn tỉa các cành cho quả dư thừa trong mùa đông.

Tiến hành đốn tỉa 3 lần trong năm:

* Tỉa cành mùa xuân:

Với mục đích để cho ánh sánh chiếu đều vào các quả nên chỉ tỉa nhẹ để mở tán bằng cách cắt bỏ các cành sinh trưởng mạnh từ các cành trung tâm của cây và tất cả các cành vượt có góc mọc lớn hơn 450

* Tỉa cành mùa hè:

Thường được tiến hành sau thu hoạch 2 – 3 tuần. Mục đích của kỳ tỉa cành này là tạo cho ánh sáng đến được đều khắp tán cây và dừng sự sinh trưởng sinh dưỡng dư thừa tạo tiền đề cho phân hóa mầm hoa của năm sau. Không đốn tỉa nặng trong  thời gian này.

Tiến hành cắt bỏ những cành mọc thẳng ở giữa thân cây để cho cây thông thoáng tạo điều kiện cho những mầm mới mọc có thời gian tích luỹ chất dinh dưỡng, phân hoá mầm hoa trước màu đông. Cắt bỏ phần cành ngay phía trên mắt mầm và chú ý không nên đốn quá đâu làm cho cây bị tổn thương và suy yếu.

* Tỉa cành mùa đông:

Mục đích của tỉa cành mùa đông là loại bỏ những cành cho quả đã hoá gỗ trong mùa xuân, mùa hè... và tạo điều kiện để tỉa quả tốt hơn. Tỉa cành mùa đông phải tiến hành vào lúc trời còn lạnh cây còn đang ở trong giai đoạn nghủ nghỉ

Loại bỏ những cành vô  hiệu, những cành quá yếu. Tỉa cành mọc chụm phía trong tán cây. Tỉa bớt chỉ giữ lại những cành 1 năm cách nhau khoảng 30 cm, loại bỏ những cành mọc thấp hơn 50 cm. Cắt bỏ một phần đầu cành ngay phía trên mắt mầm, cắt ngọn các cành bên dài quá 40 cm.

c/ Tỉa quả:

Tiến hành tỉa quả khi quả có đường kính 0,5 - 1 cm và kết thúc tỉa trước khi hạt cứng. Tỉa tạo khoảng cách giữa các quả từ 5-7 cm. Tỉa bằng biện pháp thủ công.

+ Tỉa quả:

Tiến hành tỉa quả khi quả có đường kính 0,5 - 1 cm và kết thúc tỉa trước khi hạt cứng. Tỉa tạo khoảng cách giữa các quả từ 5-7 cm. Tỉa bằng biện pháp thủ công.

6. Phòng trừ sâu bệnh hại.

* Quản lý dịch hại không dùng thuốc hoá học.

Một là: Ngăn chặn sự xâm nhập vào vườn của dịch hại.

- Khi đốn tỉa cần tạo ra các vết cắt phẳng bằng kéo cắt cành hoặc cưa, vết cắt lớn cần quét vôi trắng. Vết cắt thô ráp sẽ đọng nước và tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của dịch hại như sâu đục thân, vết loét vi khuẩn.

- Chuyển các các đốn tỉa trong mùa đông ra khỏi vườn và đốt để tránh dịch hại từ cành này xâm nhiễm vào cây trồng và gây hại trong mùa xuân sang năm.

- Không nên bón quá nhiều phân, Khi bón nhiều phân đạm cây trở nên xanh và mềm sẽ thu hút nhiều dịch hại như rệp, bệnh vi khuẩn.

- Không đạt quá nhiều vật liệu tủ gốc sát gốc cây tránh mối gây và bệnh gây hại.

- Loại bỏ những lá không rụng trong mùa đông để dịch hại không có nơi tồn tại . Có thể dùng dung dịch đồng để phun làm rụng lá.

- Loại bỏ toàn bộ quả trên cây và huỷ tất cả các quả không sử dụng được.

- Thu dọn và tiêu huỷ lá rụng: Thu gom và đưa ra khỏi vườn để đốt. Điều này rất quan trọng vì các bệnh trên lá như bệnh xoăn lá, thủng lá, rỉ sắt sẽ lây nhiễm sang lá mới gây hại nếu không được tiêu huỷ.

Hai là: Tạo điều kiện môi trường không phù hợp cho dịch hại trong vườn.

- Làm cho cây thông thoáng hơn: Trồng cây theo hướng bắc nam để gió mùa xuân, mùa hè có thể thổi qua toàn bộ cây. Tỉa bớt cây rừng bao quanh vườn quả.

- Đốn tỉa và tạo tán cây, tỉa quả tạo điều kiện cho ánh dáng, gió tới được tất cả các cành trong tán, tăng hiệu quả sử dụng thuốc BVTV.

- Hỗ trợ các loài thiên địch của sâu bệnh haị mận trong vườn phát triển.

* Phòng  trừ dịch hại bằng thuốc hoá học.

Ở mỗi giai đoạn phát triển cây bị sâu bệnh hại khác nhau tấn công. Khi sâu bệnh xuất hiện đến ngưỡng phòng trừ mà thiên địch không đủ khả năng khống chế thì cần áp dụng biện pháp phòng trừ bằng thuốc hoá học.

- Rệp mận: Xuất hiện và gây hại sớm trong năm, gây hại nặng trên lộc xuân và lộc thu. Rệp chích hút làm cho các chồi non, lá non biến dạng, quăn queo, ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây, là nguyên nhân gây hiện tượng rụng quả hàng loạt tại các vùng trồng mận. Phòng trừ rệp bằng cách phun thuốc Sherpa 0,2% vào cuối tháng 11 đầu tháng 12 để hạn chế nguồn gây hại trên lộc xuân. Hoặc dùng Trebon, Applaud trừ rệp cuối thời kỳ lộc xuất hiện rộ, nồng độ theo khuyến cáo của hãng sản xuất.

- Sâu đục ngọn: Sâu hại các ngọn chồi xuân và chồi thu, khi các ngọn chồi đã già sâu non di chuyển gây hại trên quả, đục vào cuống hoặc núm quả tạo thành các đường hầm trong quả tới hạt, ở các lỗ đục có dịch nhựa chảy ra. Phòng trừ: Dùng thuốc Regent , Padan phun 2 lần vào cuối mùa xuân đầu mùa hè và đầu mùa thu.

- Sâu đục thân: Là sâu non của các loại xén tóc đục vào thân cây, cành làm cho cành bị héo khô, quả nhỏ, rụng bị nặng làm chết cả cây. Phòng trừ sâu đục gốc cây bằng cách quét vôi gốc cây cao 60-70cm vào tháng 11- 12 trong năm, cắt những ngọn cành bị héo trong vụ xuân và đốt, dùng dây thép, tay mây để chọc chết hoặc bắt sâu non. Dùng các loại thuốc Trebon, Decis 0,1%  tẩm bông nhét vào lỗ sâu đục, phun diệt trứng sâu.

- Bệnh thủng lá: Vết bệnh là những đốm nhỏ, tròn hay không định hình, ban đầu có màu vàng, sau chuyển màu nâu, mép viền nâu đậm. bệnh nặng vùng bị bệnh bị hoại tử, khô và rụng tạo thành những vết thủng trên phiến lá.. Ngoài triệu trứng gây thủng lá vi khuẩn còn có các vết đốm trên quả và trên thân cành.

Phòng trừ bằng cách đốn  cây, tỉa cành, tạo độ thông thoáng cho vườn quả và tán cây, vệ sinh và tiêu huỷ các lá bệnh. Phun phòng trừ bằng thuốc Mancozeb 80%, Ridomin 35%... liều lượng như khuyến cáo của nhà sản xuất.

- Bệnh phấn trắng: Vết bệnh màu trắng, nhỏ, xuất hiện không đều trên mặt lá, chúng phát triển và  liên kết thành vết trắng lớn phủ kín cả bề mặt lá. Lá bị bệnh kém phát triển, cong queo thường rụng sớm. Bệnh gây hại trên cả quả non, quả bị bệnh vẫn giữ được màu xanh hoặc biến màu hơi đỏ.

Phòng trừ bằng cách đốn tỉa cây, tạo độ thông thoáng trong tán lá để giảm nguồn lưu trữ bệnh. Dùng thuốc thuốc Mancozeb 80%, Ridomin 35% để phun phòng trừ.

- Bệnh thối nâu: Xuất hiện và gây hại trên quả khoảng tháng 6 tháng 7. Ban đầu trên quả có những vết màu nâu không có hình dạng nhất định, vết bệnh lan rất nhanh có những lớp nấm màu trắng mọc thành vòng tròn sau đó chuyển thành dạng màu nâu. Phòng trừ bằng cách phun thuốc trừ nấm Cacbendazim, Rovral… theo nồng độ khuyến cáo trên bao bì trước khi thu hoạch 30 ngày để hạn chế sự xâm nhập của nấm vào quả.

7. Thu hái và bảo quản

Thu hái khi quả đã chín. Trường hợp phải vận chuyển đi xa, thu hái khi độ già khoảng 79 - 90%, trước khi quả chín 7-10 ngày.

Khi thu hái cần nhẹ nhàng, không làm dập nát, sây sát. Quả thu hái xong cần đặt vào sọt có lót rơm rạ hoặc thùng gỗ, hộp cứng để vận chuyển không bị dập nát. Bảo quản mận ở nơi khô, mát, thoáng./.

Hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc cây bơ

Hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc cây bơ

Về cơ bản kỹ thuật trồng bơ BOOTH 7 hay các giống bơ ghép (Bơ HASS, Bơ REED…) cũng tương tự như khi anh trồng các giống bơ khác. Bà con có thể tham khảo bài viết này để áp dụng kỹ thuật trồng và chăm sóc với cây bơ.

Chuẩn bị trước khi trồng

Cắt bỏ sạch sẽ phần dây ghép (dây nilon màu trắng quấn quanh mắt ghép) tránh hiện tượng cây lớn lên bị phần dây này bó chặt, dẫn đến cây yếu ở phần mắt ghép. Gió mạnh dễ làm gãy ngay đoạn tiếp giáp giữa chồi ghép và thân ghép

Chỉ giữ lại một cành khỏe mạnh mọc ra từ phần chồi ghép. Như vậy cây sẽ dồn dinh dưỡng cho cành này. Từ đó phần chồi ghép sẽ phát triền nhanh và dễ tạo hình sau này

Nếu từ phần chồi ghép ra hoa nên vặt bỏ ngay, không nên để cho cây đậu quả sẽ yếu sức và phát triển kém

Kiểm tra và vặt bỏ các chồi mọc ra từ phần gốc ghép (Chồi của cây thực sinh dùng làm gốc ghép)

Tiến hành trồng

Ngay khi trồng sau cần tiến hành tưới nước ngay

3 ngày sau khi trồng nếu không có mưa cần phải tưới nước bổ sung, sau đó thường xuyên kiểm tra nếu thấy đất trong hố trồng khô cần phải tưới thêm.

Khi trồng nên để phần ghép cách mặt đất tối thiểu 20cm

Nếu trồng ở khu vực trống trải cần phải dùng lưới nhựa (loại màu đen thường dùng làm mái che) hoặc các vật liệu có sẵn che nắng và che gió, đồng thời phủ gốc bằng rơm hoặc cỏ khô, trấu… để giữ ẩm

Đóng cọc cố định thân cây, tránh gió mạnh làm gãy thân, gãy chồi ghép

Sau khi trồng khoảng 20-30 ngày, tiến hành bón thúc mỗi gốc khoảng 1 lạng phân NPK 16-16-8 để kích thích cây phát triển

Chăm sóc giai đoạn 2 năm đầu

Trong 2 năm đầu là giai đoạn cây phát triển, đặc tính của bơ ghép là thường ra cành ngang khá sớm, không mọc thẳng đứng như khi trồng từ hạt. Do đó anh/chị cần phải thường xuyên cắt tỉa cành ngang, nếu trồng xen với cà phê thì nên tạo hình cho cây thành dạng thẳng, cành ngang cao hơn tán cà phê từ 1-2m.
Giai đoạn ra quả bói

Năm thứ 3 trở đi, bơ ghép sẽ cho quả bói, tùy theo tình hình sinh trưởng của cây mà anh/chị nên quyết định có cho cây đậu quả hay không? Nếu cây khỏe có thể cho cây đậu quả bình thường, cây yếu thì nên cắt bỏ hoa để cây dồn sức phát triển tiếp.

Quả bói thường ra lác đác nhưng to, những năm về sau vào giai đoạn thu hoạch quả nhiều nhưng sẽ nhỏ hơn.

Giai đoạn kinh doanh


Từ năm thứ 4 trở đi, cây sẽ cho thu hoạch ổn định, anh/chị nên sử dụng phần nguồn gốc hữu cơ như phân chuồng phân vi sinh để bón cho cây, chỉ sử dụng phân hóa học với lượng vừa đủ (khoảng 1-2kg / 1 gốc) vào các giai đoạn sau thu hoạch, ra hoa, đậu quả, và nuôi quả.

Đây là những thông tin dựa trên kinh nghiệm cá nhân trong quá trình trồng và chăm sóc cây bơ Booth của chúng tôi. Xin thông tin đến anh/chị, nếu có gì sai sót mong anh/chị và các bạn bổ sung. Cảm ơn
Theo vua cây giống

Kỹ thuật trồng và chăm sóc Bơ Mỹ giống Booth 7

Kỹ thuật trồng và chăm sóc Bơ Mỹ giống Booth 7

Hướng dẫn kỹ thuật trồng chăm sóc giống bơ nhập ngoại: Bơ booth7, bơ Hass, bơ Reed

1/ Đất trồng:

Cây bơ trồng được ở nhiều loại đất nhưng thích hợp nhất ở đất đỏ bazan. Địa hình đất trồng bơ bắt buột phải thoát nước tốt, đây là lý do miền Tây Nam bộ khó phát triển được bơ. Độ pH đất từ 5 – 6. Nếu ở vùng đất quá dốc thì thiết kế theo đường đồng mức, tạo băng để hạn chế xói mòn.

2/ Giống bơ:

Hiện nay giống bơ (Booth7) nhập ngoại xuất xứ từ Mỹ cho năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, là giống bơ trái vụ thu hoạch vào tháng 9 đến tháng 11 đã và đang mở rộng trồng rất lớn trên nhiều vùng đất ở tây nguyên phù hợp độ cao 800m, giống bơ đã được viện khoa học nông lâm nghiệp tây nguyên nghiên cứu nhân giống đạt chất lượng chuẫn quả không thua kém gì bơ nhập ngoại.

Đặc biệt khi chọn mua bơ giống, Phải biết nguồn gốc của cây, ghép đúng giống tốt, thì cây sinh trưởng mới khỏe, chống chịu sâu bệnh, năng suất đạt cao, chất lượng quả phù hợp cho tiêu chuẩn xuất khẩu. (Hiện nay giống bơ này đang bán tràng lang không rõ nguồn gốc hãy nên cẩn thận khi mua giống).

3/ Mật độ, cách trồng:

Mât độ: Điều kiện trồng thuần bơ, thiết kế khoảng cách 8m x 6m hoặc 8m x 7m,trồng xen cà phê thiết kế 9m x 9m hoặc 9m x 12m. Hố đào 60 x 60 x 60cm bón lót mỗi hố 15 – 20 kg phân chuồng hoai (bổ sung men vi sinh).

Cách trồng: Dùng dao rạch vòng tròn bỏ đáy túi nilông, cắt bỏ những rễ mọc dài ra khỏi bầu đất, rạch dọc từ đáy lên 10cm, đặt mặt bầu thấp hơn mặt đất 5-10cm ngọn quay về hướng gió và lấp đất 1/2 bầu cây, rút túi ny lon từ từ kết hợp lấp và nén đất vào xung quanh bầu đất. Bơ mới trồng rất cần che nắng, cắm cọc.

4/ Phân bón:


Cây con nên bón 4 – 5 lần/năm, lượng bón tùy tuổi cây. Khi cây bắt đầu cho quả, nhu cầu phân Kali cao hơn, và lượng bón ổn định ở năm thứ 9, thứ 10. Các giai đoạn sinh trưởng của cây bơ mùa nghịch khác nhiều so với cây trông khác nên cần có chế độ dinh dưỡng cân đối theo tuổi và giai đọan. bổ sung phân bón hữu cơ, kết hợp phun bổ sung phân bón qua lá trước và sau thu hoạch.

5/ Tỉa cành tạo tán:

Tiến hành 2 – 3 lần/năm giai đoạn kỷ thuật chăm bón hoặc 1 lần sau thu hoạch, chú ý tỉa chồi của gốc ghép, tỉa những cành sâu bệnh sát đất, tỉa trống gốc nâng dần độ cao, tạo tán tròn đều thông thoáng đôi khi lệch về hướng gió lớn. Nên bỏ ra hoa trong năm đầu để cây đủ sức phát triển. Nên tạo tán lúc cây còn nhỏ, điều kiện chăm đầy đủ.

6/ Tưới nước:

Cây bơ cần lượng nước vừa phải nhưng tưới nhiều lần. Có thể tưới 3-4/lần trong mùa khô kết hợp tủ gốc, không cần tưới quá đẫm hay đầy bồn, kết hợp phòng bệnh và bón 2 lần phân trong mùa khô sau thu hoạch.

7/ Bệnh hại phổ biến:

Bệnh Thối rể, nứt thân: Do nấm Phytophthrora cinamoni, ở các chân đất ẩm ướt, thủy cấp cao, nấm xâm nhập làm hư rể cọc, sau đó nấm lan tràn phá huỷ cả bộ rễ làm cây chết rụi. Cây bị bệnh có tán lá xơ xác, lá đổi sang mầu xanh nhạt rồi rụng, cành chết dần từ ngọn xuống thân chính. Cần tránh ẩm ướt liên tục ở vùng rể, Phát hiện sớm những vết nứt dọc, xì mũ trên thân và thâm đen trong mạch gỗ.

Bệnh khô cành: Do nấm Colletotrichum cloeosporiodes, nấm xâm nhập vào trên cành làm cành khô chết. Trên trái đã già, nấm xâm nhập qua vết thương, làm trái bị nhũn (thường là ở phần cuối trái).

Ngoài ra, bệnh còn do nắng nóng rọi trực tiếp trong thời gian dài, trường hợp này xuất hiện rất phổ biến ở những cây mới trồng ít lá.

Bệnh trên quả già: Nấm bệnh xâm nhập từ khi quả đang phát triển (đường kính 12cm) tạo ra các điểm đen nhỏ trên vỏ quả, nhìn khá rỏ vào thời điểm sắp thu hoạch những vết nứt nhỏ, hình dấu cộng trên vỏ quả, các điểm đen này nứt và tách ra, làm giảm mẫu mã và giá bán. Nhìn chung, cần phun thuốc phòng trị nấm khi quả còn nhỏ cắt tỉa cành thông thoáng.

8/ Sâu hại phổ biến:

Côn trùng hại rể: Gồm các đối tượng thường thấy như mối, sùng, dế, kiến, đặc biệt là rệp sáp và bọ chích hút tập trung, làm cho không hút dinh dưỡng. Thường cây bị có lá vàng nhạt, cây suy kiệt dễ chết.

Bọ xít: Gồm 23 loài, chích hút nhựa đọt non, lá non làm héo và chùm đọt, đặc biệt là trái non tạo ra các chấm đen trên vỏ quả và nhiều hạt chai cứng trong thịt quả, làm rụng nhiều quả.

Mọt đục thân cành: Khá phổ biến trên các vườn bơ bắt đầu bước vào kinh doanh, tạo nhiều lổ đục nhỏ trên thân, cành (khác với sâu đục cành) với lớp phấn trắng ở lổ đục (có thể tạo nấm phát triễn) xuất hiện từ giữa mùa mưa và dẫn đến giữa mùa khô, lổ đục tuy nhỏ và đường đục ngắn nhưng làm giảm quá trình sinh trưởng, gây chết cành.

9/ Phòng trừ sâu, bệnh:

Cây bơ, thiệt hại thường do nấm bệnh tạo ra rất nguy hiểm và nên quản lý theo hướng nông nghiệp hữu cơ (hạn chế dùng thuốc BVTV), nên tạo cành,vườn thông thoáng, dọn sạch tàn dư và phun thuốc phòng.

10/ Thu hoạch:

Bơ Booth7 thường thu hoạch từ 2 – 4 đợt quả, xác định qua nhiều đặc điểm bên ngoài, quả xanh đậm.

Lưu ý: Không nên tưới nước vào lúc đang thu hoạch, qủa sẻ rụng hàng loạt.

Kỹ thuật trồng chuối đỏ

Kỹ thuật trồng chuối đỏ

Chuối đỏ còn được gọi là chuối đỏ Dacca, loại chuối vỏ đỏ này được tìm thấy ở Úc. Chúng nhỏ hơn và có vỏ dày hơn so với các loại thông thường. Tuy nhiên thịt chuối lại mềm và ngọt hơn.

Đặc điểm của giống chuối đỏ Chuối có vỏ màu đỏ đậm hoặc hơi tím. Thịt chuối có màu trắng kem cho đến màu hồng với hương vị chuối nhẹ nhàng quyện lẫn vị của quả mâm xôi đầy hấp dẫn. Nhưng nhìn chung, hương vị tổng thế quả nó vẫn mang đặc trưng của một quả chuối thông thường.

Hướng dẫn quy trình trồng chuối đỏ

Bước 1: Ngâm hạt giống vào nước 2 sôi 3 lạnh từ 24 - 36 giờ.

Bước 2: Gieo hạt giống vào đất, sâu khoảng 0,6cm. Đặt cây ở nơi có nhiều ánh sáng trực tiếp, lấp đất lại, tưới nước hàng ngày. Trong khi trồng cây giống cần đảm bảo nguồn nước đầy đủ cho cây, ngày tưới hai lần (sáng và tối). Cung cấp phân bón thường xuyên cho cây. Chuối tím thích hợp với các vùng khí hậu nhiệt đới.

Lưu ý cách trồng chuối đỏ: Chuối đỏ rất lâu nảy mầm, thời gian nảy mầm từ 1 - 6 tháng. Do vậy, cần hết sức kiên trì khi trồng loại cây này.

- Thông thường, sau khoảng 3 tháng hạt chuối sẽ nảy mầm và cho những lá non đầu tiên. Chăm sóc cẩn thận thì sau khoảng 4 tháng sau, chuối sẽ đạt độ cao khoảng 2m. Sau 5 tháng trồng, chuối sẽ ra những bông hoa đầu tiên. Cánh hoa màu hồng cánh sen. Nhụy hoa màu vàng nghệ. Sau khoảng 1 tuần ra hoa, chuối sẽ đậu những trái đầu tiên.

Đây là món ăn được yêu thích của vùng Trung Mỹ với hơn 6,4 tỉ đô la tiêu thụ mỗi năm. Chuối đỏ cũng rất tốt cho sức khỏe và nếu có điều kiện, bạn nên bổ sung nó vào chế độ ăn uống của mình. Chuối đỏ có hàm lượng calo thấp, một quả chỉ chứa khoảng 110 calo vì thế nếu hàng ngày ăn chuối đỏ bạn cũng sẽ không sợ bị tăng cân.

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2016

Giống Bơ Booth

Giống Bơ Booth


Giống Bơ Booth 7 là một trong những loại bơ sáp chín muộn được bà con ở vùng Tây Nguyên ưu tiên trong việc chọn lựa trồng xen canh với cây cà phê và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Giống bơ Booth 7 hay còn gọi là bơ bút có nguồn gốc từ Florrida, Mỹ được Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam đưa về trồng thử nghiệm tại Tiền Giang năm 1998.

Đặc điểm sinh trường của cây Bơ Booth 7 là loại giống cây ăn quả thích hợp với vùng nhiệt đới, có sức thích nghi cao, sinh trưởng khỏe, cây phân tán rộng và cho năng suất cao ổn định.

Trọng lượng quả đạt 280- 450g. Năng suất trung bình: 160 – 180kg/cây. Đạt tương đương với giống bơ chính vụ. Tỷ lệ thịt quả đạt 70 – 75%, thịt quả vàng kem, dẻo, béo không xơ. Hạt khít với thịt quả nhưng dễ tách. Chất lượng tốt

Vỏ quả già màu xanh, vỏ dày, quả hình tròn, cỡ quả trung bình đạt khoảng 350g/quả. Mỗi quả đều có một cuống riêng giúp dễ dàng thu hoạch và bảo quản. Thích hợp xuất khẩu ra nước ngoài. Thời gian thu hoạch: Tháng 9 đến tháng 11. Sau thu hoạch được 4- 6 ngày bơ sẽ chín.

Cây Bơ Booth 7 giống của trung tâm được nhân giống theo hình thức ghép cành, đảm bảo cây giống sẽ mang tất cả các đặc tính tốt của cây mẹ, ngoài ra còn có khả năng phát triển mạnh với bộ rễ hoàn chỉnh của gốc cây bơ hạt, thời gian ra quả là 3 năm từ khi trồng.

Chồi bơ BOOTH 7 được ghép trên gốc ghép thực sinh khỏe mạnh, đã ra được 10-20 lá mới. Chồi ghép cứng cáp, tổng chiều cao cây tính từ gốc đến ngọn là 40-60cm (riêng chồi ghép là 20-30cm), tỷ lệ sống cao. Không mang mầm bệnh, sâu hại, không dùng thuốc kích thích tăng trưởng.

Nguồn cây: Trung tâm cây giống trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội

Giá bán: 30.000đ/1 cây

Luôn có khả năng cung cấp với số lượng lớn với các kích thước cây khác nhau.

Giá chưa bao gồm tiền vận chuyển và thuế giá trị gia tăng VAT, giá cây có thể thay đổi theo thời điểm và kích thước cây.

Giá cả hợp lý khi lấy số lượng lớn. Xin liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 04.668 07 969 - 0986 266 563 hoặc email Hoptienhanoi@gmail.com để nhận được giá tốt nhất!

Cây ổi ruột đỏ Bến Cát

Cây ổi ruột đỏ Bến Cát


Ổi đỏ Bến Cát là giống ổi mới còn lạ với rất nhiều người, nó mang nhiều ưu điểm tốt như tốc độ phát triển cây nhanh, cây mang trái với kích thước đồng đều tương đương nhau, có ruột màu đỏ rất đẹp, vở quả màu xanh với mẫu mã trái không thua kém gì các giống ổi trong nước, quả chín nhưng ăn vẫn giòn không bị nát nhũn.

Bên trong ruột đỏ hồng chứ không đỏ đậm như ổi ruột đỏ xưa hay ổi ruột đỏ lá đỏ của Malaysia , đỏ từ trong ruột trắng dần ra ngoài vỏ, vỏ sần hơn ổi Đài Loan một ít . Trái chín vẫn giòn chứ không mềm nên thích hợp cho vận chuyển đi xa và phù hợp với sở thích của nhiều người.

Cây Ổi đỏ cho quả dài khi cây mới có trái, những năm sau đó quả ổi tròn hơn, trái vừa chứ không quá to như ổi không hạt, nhưng không nhỏ như ổi nữ hoàng, thông thường khoảng 250gr - 500gr.

Thổ nhưỡng thích hợp cần nghiên cứu thêm nhưng hiện tại đang rất thích hợp ở Miền Đông Nam bộ, lần đầu tiên thấy nó được trồng tại Trừ Văn Thố, Bến Cát, Bình Dương nên tạm gọi là "ổi đỏ Bến Cát" để phân biệt với nhiều loại ổi ruột đỏ khác.

Giống ổi ruột đỏ Bến Cát được nhân giống theo hai hình thức chiết cành và ghép cành để đảm bảo tính thuần chủng của cây giống.

Cây ổi ruột đỏ Bến Cát giống của trung tâm được nhân giống theo hình thức ghép cành, đảm bảo cây giống sẽ mang tất cả các đặc tính tốt của cây mẹ, ngoài ra còn có khả năng phát triển mạnh với bộ rễ hoàn chỉnh của gốc cây ổi hạt, thời gian ra quả là 8 tháng từ khi trồng.

Mật độ trồng: Theo các giống ổi khác, 4x5m; 5x5m; Thời vụ trồng: Một năm trồng hai vụ: Xuân-Hè và Thu-Đông

Nguồn cây: Trung tâm cây giống trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội

Giá bán: 20.000đ/1 cây

Luôn có khả năng cung cấp với số lượng lớn với các kích thước cây khác nhau.

Giá chưa bao gồm tiền vận chuyển và thuế giá trị gia tăng VAT, giá cây có thể thay đổi theo thời điểm và kích thước cây.

Giá cả hợp lý khi lấy số lượng lớn. Xin liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 04.668 07 969 - 0986 266 563 hoặc email Hoptienhanoi@gmail.com để nhận được giá tốt nhất!

Giống Nhót Ngọt

Giống Nhót Ngọt


Giống nhót ngọt: Đây là giống nhót mới do biến dị trên giống nhót chua, được người dân tự chọn lọc, trồng và nhân giống một cách tự phát trong nhân dân.

Đặc điểm quả to hơn nhót chua, khi chín ăn có vị ngọt rôn rốt hơi chua (như vị cây dứa Ta, dứa Mỹ Cayen), các đặc điểm khác giống nhót chua.

Trồng nhót ngọt cho hiệu quả kinh tế khá cao. Trồng một cây nhót ngọt 7-10 năm tuổi cho 1-2 tạ quả, thu nhập 4-6 trăm ngàn đồng.

Thời vụ: Nhót được trồng 2 vụ trong năm ở các tỉnh phía bắc. Vụ xuân trồng tháng 2-4. Vụ thu trồng tháng 8-10.

Mật độ trồng 4 m x 3 m/ 1 cây

Cây nhót ngọt giống được nhân giống theo hai hình thức là chiết cành và ghép cành. Hiện trung tâm bán cây nhót ngọt được nhân giống theo hình thức ghép cành.

Cây nhót ngọt giống là cây ghép cành lên gốc cây nhót hạt nên ngoài việc đảm bảo mang các đặc tính tốt của cây mẹ, cây còn có khả năng sinh trưởng phát triển mạnh với bộ rễ của cây nhót hạt.

Nguồn cây: Trung tâm cây giống trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội

Giá bán: 13.000đ/1 cây

Luôn có khả năng cung cấp với số lượng lớn với các kích thước cây khác nhau.

Giá chưa bao gồm tiền vận chuyển và thuế giá trị gia tăng VAT, giá cây có thể thay đổi theo thời điểm và kích thước cây.

Giá cả hợp lý khi lấy số lượng lớn. Xin liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 04.668 07 969 - 0986 266 563 hoặc email Hoptienhanoi@gmail.com để nhận được giá tốt nhất!

Giống Mận Tam Hoa

Giống Mận Tam Hoa


Mận Tam Hoa thuộc họ hoa hồng là loại cây ăn quả lâu năm, rụng lá mùa đông, trồng chủ yếu ở các vùng ôn đới nơi có độ cao trên 500 m so với mực nước biển.

Mận Tam Hoa là giống sinh trưởng mạnh, phân cành nhiều phù hợp với khí hậu Bắc Hà, Sa Pa và một số vùng sinh thái của tỉnh Lào Cai.

Thân cây non có màu nâu đâm vỏ nhẵn, thân già có màu mốc trắng xù xì. Lá kép, mép lá có răng cưa, lá màu xanh đậm. Hoa ra thành chùm, mỗi chùm có ba hoa, hoa màu trắng. Quả vỏ tím xanh, ruột tím đậm, ra hoa tháng 2, chín tháng 5 tháng 6. Khối lượng quả: 20- 30 quả/kg

Mật độ: 400 cây/ha, hàng cách hàng 5 m, cây cách cây 5 m.

Tiêu chuẩn cây giống: Cây con rễ trần hoặc ươm trong túi bầu tuổi từ 12 – 24 tháng, chiều cao cây từ 35 cm trở lên, đường kính gốc từ 0,6- 0,8 cm, đường kính cành ghép đo trên mắt ghép 2 cm từ 0,6- 0,7 cm. Không sâu bệnh, cụt ngọn.

Thời vụ: Trồng mận vào tháng 2 - 3 trước khi nảy lộc xuân và tháng 11- 12 sau khi rụng lá.

Cây mận tam hoa giống là cây ghép nên đảm bảo chất lượng của cây giống mang đầy đủ các đặc tính tốt của cây mẹ, cây mận giống sớm ra quả lại có gốc là cây mận hạt nên cây phát triển nhanh và rất bền cây

Nguồn cây: Trung tâm cây giống trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội

Giá bán: 20.000đ/1 cây

Luôn có khả năng cung cấp với số lượng lớn với các kích thước cây khác nhau.

Giá chưa bao gồm tiền vận chuyển và thuế giá trị gia tăng VAT, giá cây có thể thay đổi theo thời điểm và kích thước cây.

Giá cả hợp lý khi lấy số lượng lớn. Xin liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 04.668 07 969 - 0986 266 563 hoặc email Hoptienhanoi@gmail.com để nhận được giá tốt nhất!

Giống táo tây đỏ

Giống táo tây đỏ


Táo tây đỏ là một loài cây rụng lá trong họ Hoa hồng được biết đến vì quả ngọt của nó (quả táo). Nó được trồng trên toàn thế giới như một cây ăn quả, và là những loài được trồng rộng rãi nhất trong chi Hải đường (Malus). Do thời gian dài trước đây loại táo này được nhập vào Việt Nam chủ yếu là từ Trung Quốc nên bà con vẫn quen với tên gọi là "táo tàu"

Cây táo tây cao khoảng 3–12 m, tán rộng và rậm. Đến thu cây rụng lá. Lá táo tây đỏ hình bầu dục, rộng 3–6 cm, dài 5–12 cm; đầu lá thắt nhọn với cuống lá (petiole) khoảng 2–5 cm. Rìa lá dạng răng cưa.

Hoa táo nở vào mùa xuân cùng lúc khi mầm lá nhú. Hoa sắc trắng, có khi pha chút màu hồng rồi phai dần. Hoa có năm cánh, đường kính 2,5-3,5 cm.

Trái chín vào mùa thu và thường có đường kính cỡ 5–9 cm. Ruột táo bổ ra có năm "múi" (carpel) chia thành ngôi sao năm cánh. Mỗi múi có 1-3 hột.

Giống cây tây đỏ tại trung tâm là loại cây ghép , Chiều cao từ 40-50 cm mắt ghép 15- 20 cm

Giống cây táo tây đỏ trồng sau 24 tháng sẽ cho lứa quả đầu tiên, cây táo tây đỏ giống khỏe mạnh không bị sâu bệnh

Nguồn cây: Trung tâm cây giống trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội

Giá bán: 80.000đ/1 cây

Luôn có khả năng cung cấp với số lượng lớn với các kích thước cây khác nhau.

Giá chưa bao gồm tiền vận chuyển và thuế giá trị gia tăng VAT, giá cây có thể thay đổi theo thời điểm và kích thước cây.

Giá cả hợp lý khi lấy số lượng lớn. Xin liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 04.668 07 969 - 0986 266 563 hoặc email Hoptienhanoi@gmail.com để nhận được giá tốt nhất!

Cây đu đủ Thái Lan

Cây đu đủ Thái Lan


Giống đu đủ lùn cao sản có nguồn gốc từ nguồn nhập nội của Thái Lan, sau khi trồng 5 - 7 tháng cho thu hoạch. Độ đóng trái thấp, từ 40 - 50 cm, nhiều cây chỉ cách mặt đất 20 cm nên rất tiện chăm sóc, thu hoạch và kéo dài chu kỳ kinh doanh, tăng hiệu quả kinh tế.

Tùy chế độ chăm sóc và mùa vụ, giống cho trái ở 2 dạng: Trái tròn và trái dài, trong đó tỷ lệ trái dài nhiều hơn, bán được giá cao hơn vì được nhiều người ưa chuộng.

Trọng lượng bình quân 1,5 - 2 kg/trái, có trái nặng tới 3 kg. Khi chín, vỏ trái có màu vàng tươi, ruột đỏ vàng như ruột gấc, tỷ lệ phần ăn được cao, tới trên 85%, ít hạt, ăn ngọt và thơm. Thịt dày, chắc, thuận tiện cho việc bảo quản và vận chuyển đi xa nếu thu đúng độ chín cần thiết.

Giống cho năng suất rất cao, tất cả các cây đều cho trái hầu như quanh năm, mỗi cây cho bình quân 50 - 60 trái/năm, sản lượng đạt tới 90 - 100 kg/cây/năm. Có thể thu xanh để làm rau (làm nộm, xào nấu), thu chín để ăn tươi, làm kem, làm mứt, chế biến nước quả…

Với giá bán bình quân từ 7.000 - 10.000 đồng/kg tùy vụ, giống đu đủ lùn Thái Lan có thể cho thu hoạch trên 200 triệu đồng/ha/năm.

Cây đu đủ giống Thái Lan được nhân giống bằng hình thức lại hữu tính, nó là sản phẩm của đời lai F1 thuần chủng nên mang đặc tính tốt với hiệu suất kinh tế cao.

Cây đu đủ giống Thái Lan được ươm từ các hạt giống nhập trực tiếp từ Thái Lan về Việt Nam nên chất lượng về độ ổn định của cây giống hoàn toàn được đảm bảo

Nguồn cây: Trung tâm cây giống trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội

Giá bán: 5.000đ/1 cây

Luôn có khả năng cung cấp với số lượng lớn với các kích thước cây khác nhau.

Giá chưa bao gồm tiền vận chuyển và thuế giá trị gia tăng VAT, giá cây có thể thay đổi theo thời điểm và kích thước cây.

Giá cả hợp lý khi lấy số lượng lớn. Xin liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 04.668 07 969 - 0986 266 563 hoặc email Hoptienhanoi@gmail.com để nhận được giá tốt nhất!

Cây Bưởi Đường Quế Dương

Cây Bưởi Đường Quế Dương


Bưởi Quế Dương, bưởi đường Quế Dương hay còn được gọi là bưởi Ta, bưởi Tháp Thượng.Từ một cây bưởi tổ, đến nay giống bưởi quý Quế Dương ở thôn Quế Dương, xã Cát Quế (Hoài Đức, Hà Nội) đã được nhân ra hàng chục ha.

Bưởi Quế Dương là giống bưởi có nhiều đặc điểm nổi trội. Bưởi quả to, mọng, chín vỏ vàng rất đẹp, tôm ráo, vị ngọt vừa (không đậm như bưởi Diễn) nên được rất nhiều người ưa chuộng.

Cây ra hoa vào đầu tháng 2 -3 dương lịch và được thu hoạch vào rằm tháng 8- tháng 9 âm lịch. Cây có khả năng chịu được thời tiết khắc nghiệt, ít mất mùa, có những đợt mưa ngâu liền 2 tháng cây vẫn cho ra quả sai.

Quả có dạng hình cầu, vỏ màu vàng chanh và nhẵn mịn. Múi quả dày, mọng nước, tỷ lệ thịt trong mỗi quả đạt 65- 75%. Trung bình mỗi quả thường nặng 1,2 -1,8 kg , có những quả to lên đến 3-4kg. Sau khi thu hoạch có thể bảo quản được 4-5 tháng mà ko bị ảnh hưởng đến chất lượng hay bị hư hỏng.

Tháng 9/2013 bưởi Quế Dương được mang đi tham dự hội chợ Nông nghiệp Đông Nam Á và đã được công nhận là giống bưởi ngon nhất Đông Nam Á. Đến tháng 11/2014 chính thức được nhận bằng thương hiệu tập thể Nhãn hiệu bưởi Quế Dương của xã Cát Quế.

Cây bưởi giống Quế Dương là cây bưởi ghép, cành bưởi quế dương ghép với gốc cây bưởi hạt, đảm bảo chất lượng cây bưởi giống mang đầy đủ đặc tính cây bưởi mẹ nhưng lại có khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh và khỏe mạnh như cây hạt.

Cây bưởi giống Quế Dương cho quả vào năm thứ 3 sau khi trồng, cay trưởng thành có thể đạt 500-600 quả/1 cây, cá biệt đã có cây đạt 900 quả.

Nguồn cây: Trung tâm cây giống trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội

Giá bán: 15.000đ/1 cây

Luôn có khả năng cung cấp với số lượng lớn với các kích thước cây khác nhau.

Giá chưa bao gồm tiền vận chuyển và thuế giá trị gia tăng VAT, giá cây có thể thay đổi theo thời điểm và kích thước cây.

Giá cả hợp lý khi lấy số lượng lớn. Xin liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 04.668 07 969 - 0986 266 563 hoặc email Hoptienhanoi@gmail.com để nhận được giá tốt nhất!

Cây bưởi Hoàng

Cây bưởi Hoàng

Bưởi Hoàng là loại bưởi được trồng tại Thôn Hoàng Trạch xã Mễ Sở, Văn Giang Hưng Yên. Là giống bưởi ngọt có từ lâu đời rồi mà chỉ có làng Hoàng trồng mới ra trái ngon và ngọt nhất. Quả bưởi rất to (gấp 3 quả bưởi Diễn), vỏ mỏng, múi to mọng, ăn ngọt dịu đậm đà, nhiều nước.

Giống Bưởi Hoàng là giống bưởi ngọt, không the, được thu hoạch vào tháng 10 – 11, cây giống sau 18 tháng có thể thu hoạch.

Thời vụ trồng bưởi hoàng Vụ Xuân: bắt đầu trồng từ tháng 2 đến tháng 4; Vụ Thu đông: bắt đầu trồng từ tháng 8 đến tháng 10. Do vụ xuân có điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi cho cây trồng phát triển nên vụ Xuân là thời vụ trồng cây bưởi hoàng tốt nhất.

Cây bưởi hoàng thích hợp với các loại đất phù sa được bồi đắp hàng năm, đất phải thoát nước tốt, có tầng canh tác dày trên 1m, mực nước ngầm dưới 1,5m, hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất khá, có nguồn nước để tưới trong mùa khô hạn.

Cây bưởi Hoàng trồng với kích thước khoảng 4x5m/1 cây hoặc 5x5m/1 cây, tùy theo hình thức thâm canh hay xen canh, loại đất màu mỡ và kiểu hình đất dốc hay bằng mà chọn khoảng cách thích hợp.

Cây bưởi Hoàng giống được nhân giống theo hình thức chiết hoặc ghép cành để đảm bảo tính thuần chủng của cây giống, các cây con luôn mang các đặc tính tốt của cây giống mẹ đầu dòng.

Cây Bưởi Hoàng giống của trung tâm là cây ghép, vừa mang đặc điểm tốt của cây mẹ, lại có đặc tính nhanh ra quả, với gốc ghép là gốc bưởi hạt nên khả năng sinh trưởng và phát triển mạnh khi đem trồng ngoài điều kiện tự nhiên.

Nguồn cây: Trung tâm cây giống Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội

Giá bán: 15.000đ/1 kg

Luôn có khả năng cung cấp với số lượng lớn với các kích thước cây khác nhau.

Giá chưa bao gồm tiền vận chuyển và thuế giá trị gia tăng VAT, giá cây có thể thay đổi theo thời điểm và kích thước cây.

Giá cả hợp lý khi lấy số lượng lớn. Xin liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 04.668 07 969 - 0986 266 563 hoặc email Hoptienhanoi@gmail.com để nhận được giá tốt nhất!

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

Cây Sa Kê - Xa Kê

Cây Sa Kê - Xa Kê

Xa kê hay sa kê (danh pháp hai phần: Artocarpus altilis) là một loài cây gỗ có hoa trong họ Dâu tằm (Moraceae), bản địa của bán đảo Mã Lai và các đảo miền tây Thái Bình Dương, nhưng hiện nay đã được trồng rộng khắp trong khu vực nhiệt đới, trong đó có miền Nam Việt Nam. Quả sa kê có mùi và vị như bánh mì nên còn được gọi là cây bánh mì - đây là quả lớn nhất trên cạn.

Miêu tả

Xa kê là cây gỗ có thể cao tới 20 m (66 ft). Các lá to và dày bản xẻ thùy sâu hình lông chim. Tất cả các phần của cây đều có chứa nhựa mủ, một loại nhựa cây có màu trắng sữa, được người ta dùng vào việc xảm thuyền.

Xa kê là loài cây đơn tính cùng gốc, với các hoa đực và hoa cái mọc trên cùng một cây. Các hoa đực ra đầu tiên và sau đó một khoảng thời gian ngắn là các hoa cái, mọc thành cụm hoa dạng đầu, chỉ có khả năng được thụ phấn sau đó 3 ngày. Động vật thụ phấn cho nó là các loài dơi ăn quả thuộc Cựu thế giới trong họ Pteropodidae). Quả giả, phức hợp phát triển lên từ bao hoa phình ra và bắt nguồn từ 1.500-2.000 hoa. Chúng được nhìn thấy trên lớp vỏ quả như là các đĩa giống hình lục giác.

Xa kê là một trong những loài cây lương thực có sản lượng cao, với một cây có thể ra tới trên 200 quả mỗi mùa. Tại miền nam Thái Bình Dương, cây sinh ra 50-150 quả mỗi năm. Tại miền nam Ấn Độ, sản lượng thông thường là 150-200 quả mỗi năm. SẢn lượng dao động trong các khu vực khô và ẩm. Tại Tây Ấn, ước tính dè dặt nhất là 25 quả một cây mỗi năm. Các nghiên cứu tại Barbados chỉ ra năng suất tiềm năng 16-32 tấn/ha (6,7-13,4 tấn/mẫu Anh). Quả hình trứng, kích cỡ to bằng quả bưởi chùm có bề mặt thô ráp và mỗi quả trên thực chất là tổ hợp của nhiều quả bế, mỗi quả bế được bao quanh bằng bao hoa dày cùi thịt và phát triển trên đế hoa dày cùi thịt. Một vài giống cây trồng đã qua chọn lọc có quả không hạt.

Xa kê có họ hàng gần với mít. Nó được gọi là "Kada Chakka" trong tiếng Malayalam và "Jeegujje"/"Geegujje"/"Jigujje" trong tiếng Tulu

Sử dụng


Xa kê là cây lương thực ổn định tại nhiều khu vực nhiệt đới. Nó được phổ biến ra xa khỏi quê hương bản địa của mình nhờ các thủy thủ Polynesia, những người đã chuyên chở các gốc ghép, cành giâm đi xa trên đại dương. Xa kê chứa nhiều tinh bột, và trước khi ăn nó có thể được quay, nướng, chiên, luộc. Khi được chế biến, nó có mùi vị giống như khoai tây hay tương tự như bánh mì mới nướng, vì thế mà có tên gọi cây bánh mì.

Do xa kê thường sinh ra một sản lượng lớn trong một khoảng thời gian nhất định trong năm nên việc bảo quản là một vấn đề. Một kỹ thuật bảo quản truyền thống là chôn các quả đã bóc vỏ và rửa sạch trong hố lót bằng lá để lên men trong vài tuần tạo ra một loại bột nhão dính và chua. Đượu lưu trữ như thế, sản phẩm có thể giữ troing một năm hay hơn thế, và một vài hố được thông báo là sinh ra sản phẩm ăn được sau trên 20 năm. Các tên gọi cho sản phẩm quả xa kê được lên men như vậy bao gồm mahr, ma, masi, furo, bwiru v.v.

Quả xa kê có thể ăn sau khi nấu chín hoặc có thể chế biến tiếp thành các loại thức ăn khác. Một sản phẩm thông thường là hỗn hợp của khối nghiền nhừ thịt quả xa kê nấu chín hay lên men trộn với sữa dừa và nướng trong lá chuối. Quả còn nguyên có thể nướng, sau đó lấy lõi ra và nhồi bằng các thức ăn khác như sữa dừa, đường, bơ, thịt nấu chín hay các loại quả khác. Quả nhồi này có thể nấu tiếp để cho hương vị của các chất nhồi thấm vào cùi thịt của quả.

Một món ăn của người Hawaii gọi là poi làm từ củ khoai sọ nghiền nhừ có thể dễ dàng thay thế hay tăng thêm bằng xa kê nghiền nhừ. Món ăn này gọi là poi ʻulu. Tại Puerto Rico nó được gọi là "pana".

Quả xa kê chứa khoảng 25% cacbohydrat và 70% nước. Nó chứa trung bình khoảng 20 mg/100g là vitamin C và một lượng nhỏ khoáng chất (kali và kẽm) cùng thiamin (100 μg).

Xa kê được sử dụng rộng rãi và đa dạng đối với những người dân trên các đảo trong Thái Bình Dương. Gỗ của nó có khả năng chống mối và các loài hà (họ Teredinidae) nên hay được sử dụng để làm các loại canoe. Lõi gỗ của nó cũng được dùng làm giấy, gọi là breadfruit tapa. Nó cũng được sử dụng trong y học dân gian trên các đảo để chữa bệnh, từ đau mắt tới đau thần kinh hông.

Trong Y học

Lá Xa kê có tác dụng kháng viêm, kháng sinh, lợi tiểu, trị tiêu chảy, tiểu đường, cao huyết áp, sỏi thận, bệnh gút và viêm gan vàng da. Thí nghiệm trên chuột tại Ấn Độ cho thấy cao khô (chiết bằng cồn 50 độ) của vỏ, lá Xa kê có tác dụng lợi tiểu ở liều 20 mg cao/kg khối lượng cơ thể, nhưng sẽ trở thành chất độc ở liều 80 mg/kg cơ thể. Liều lượng mỗi ngày dùng một lá dạng sắc uống, nhưng do lá có độc nên sau khi uống một tuần thì phải nghỉ một tuần, không được dùng liên tục như uống trà. Có thể dùng lá tươi hoặc là già, lá phơi khô đều được.

Trong lịch sử

Xa kê được thu thập và phân phối bởi đại úy hải quân William Bligh (1754-1817) như là một trong các mẫu thực vật được thu thập bởi tàu HMS Bounty vào cuối thế kỷ 18, phục vụ cho nhu cầu tìm kiếm nguồn thức ăn giàu năng lượng và rẻ tiền cho các nô lệ của đế quốc Anh trong khu vực Caribe.

Trong văn hóa

Theo thần thoại Hawaii, xa kê có nguồn gốc từ sự hy sinh của thần chiến tranh Kū. Sau khi quyết định sống ẩn mình với những người dân thường như là một nông dân, Kū cưới vợ và có con. Gia đình ông sống hạnh phúc cho tới khi nạn đói kém xuất hiện trên đảo của họ. Khi không thể nhìn mãi cảnh các con mình phải chịu đau khổ, Kū nói với vợ của mình rằng ông có thể giải thoát các con khỏi cảnh đói nghèo, nhưng để làm được điều này thì ông phải rời xa họ. Vợ ông đành phải miễn cưỡng đồng ý và sau khi bà đồng ý thì Kū bị chìm vào trong lòng đất nơi ông đang đứng cho tới khi chỉ còn nhìn thấy chỏm đầu của ông. Gia đình ông chờ đợi xung quanh nơi ông đã đứng này cả ngày lẫn đêm, họ khóc và làm ướt đẫm nơi này cho tới khi bỗng nhiên một chồi cây nhỏ xuất hiện tại chính nơi Kū đã đứng. Rất nhanh chóng, chồi cây nhỏ này lớn thành một cây cao, nhiều lá và quả. Gia đình Kū cùng hàng xóm ăn một cách ngon lành, giúp họ thoát khỏi cảnh chết đói.

Mặc dù xa kê phân bổ rộng khắp trong suốt Thái Bình Dương, nhưng nhiều loại giống cây trồng và cây lai ghép lại không hạt hay không có khả năng phát tán xa một cách tự nhiên. Vì thế, sự phân bổ của nó trong khu vực này rõ ràng là do con người, đặc biệt là các nhóm tiền sử, những người đã định cư trên các đảo trong Thái Bình Dương. Để điều tra mô hình di cư của con người trong Thái Bình Dương, các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp xác định niên đại phân tử của các loại giống cây trồng hay lai ghép của xa kê có tính toán phối hợp với các dữ liệu nhân loại học. Các kết quả hỗ trợ giả thuyết di cư tây-sang-đông, trong đó người Lapita được cho là đã di chuyển từ Melanesia tới các đảo của Polynesia.

Trồng cây Sa kê

Trồng cây Sa kê

Cây Sa kê có thể trồng được quanh năm. Khoảng cách trồng sakê là 12 x 14m vài tài liệu đề xuất 10m hay thấp hơn (Coronel 1983). Khoảng 100 cây/ha ở mật độ 10 x 10 hay 8 x 12m (Narasimhan 1990). Khoảng trống giữa các cây sakê có thể trồng cây nhỏ hơn như đu đủ, chuối, dứa hoặc rau cho đến khi cây sakê thuần thục (Ragone, 1997).

1. Giới Thiệu:

Tên thông thường: Cây Sa Kê, Cây Bánh Mì, Tên khoa học: Artocarpus altilis, Họ: Moraceae ( Dâu tằm), Chiều cao: 4 m- Đường kính thân : 10-12cm Cây Sa Kê có nguồn gốc từ các nước Đông Nam Á (được trồng nhiều ở Malaysia) và các Đảo Thái Bình Dương, hiện nay đã được trồng rộng khắp các nước nhiệt đới, trong đó có Việt Nam. Sa Kê là cây gỗ lớn, Cây trưởng thành có chiều cao khoảng 10m đến 20m, có nhựa mủ màu trắng sữa, cành mảnh mọc ngang, dài, làm thành tán rộng, dày. Lá Sa Kê lớn chia 3-9 thùy thuôn dài, cuống mập, rụng để sẹo trên cành. Đặc biệt lá có màu xanh bóng ở mặt trên, mặt dưới rất nhám, khi rụng đổi màu vàng nâu khô, cứng có thể làm vật trang trí. Sa Kê là cây đơn tính cùng gốc, hoa đực và hoa cái cùng mọc trên một cây. Cụm hoa đực ra đầu tiên có dạng bông dài, hoa nhỏ màu vàng, sau đó sẽ xuất hiện cụm hoa cái hình bầu thuôn, mập khi non có màu xanh, hoa mọc thẳng đứng trên cành, khi già hoa cái chuyển sang vàng rất bền. Cây Sa Kê thụ phấn nhờ côn trùng và động vật, chủ yếu là nhờ vào dơi ăn quả. Quả

Sa Kê giống dạng quả mít nhưng không tạo múi chứa thịt quả và hạt. Quả có thể dùng để luộc ăn, say lấy bột chiên hoặc nấu rượu…mang lại giá trị kinh tế cao. Cây Sa Kê gồm hai loại và được phân biệt bởi trái có hạt và trái không có hạt. Riêng Cây Sa Kê cho trái không hạt được trồng để thu hoạch trái cung cấp trên thị trường. Nếu trồng Cây Sa Kê làm cảnh sân vườn thì không cần phân biệt cấu tạo của trái sa kê.

2. Tiêu Chuẩn Chọn Giống:

Chọn cây khỏe mạnh, không sau bệnh, có thể là cây ghép hoặc cây chiết. Giống sakê được chia làm hai loại: loại có hạt là loại bình thường trong khi loại không có hạt là loại đột biến. Loại có hạt thường dùng hạt và khá giống hạt dẻ. Loại không có hạt dùng làm thức ăn. Các giống dùng làm thực phẩm khác nhau ít về chất lượng (Martin 1998). Loại có hạt nhân giống từ hạt. Loại không có hạt thường được nhân vô tính từ rễ hoặc chồi.

3. Thời Vụ và Mật Độ Trồng:

Cây Sa kê có thể trồng được quanh năm. Khoảng cách trồng sakê là 12 x 14m vài tài liệu đề xuất 10m hay thấp hơn (Coronel 1983). Khoảng 100 cây/ha ở mật độ 10 x 10 hay 8 x 12m (Narasimhan 1990). Khoảng trống giữa các cây sakê có thể trồng cây nhỏ hơn như đu đủ, chuối, dứa hoặc rau cho đến khi cây sakê thuần thục (Ragone, 1997).

4. Làm Đất Và Đào Hố Trồng:

Cây sa kê sống từ 30- > 50 năm, cao từ 10- 20m, đường kính cây lên đến 1,2m, người ta thường hãm ( chặt) để cây chống đổ khi có bão nhưng không làm giảm năng suất ra quả của cây, cây sa kê thích hợp với tất cả các vùng thổ nhưỡng kể cả đất phèn, đất mặn. Cây sinh trưởng > 5 độ C, dưới 5 độ C cây vẫn sống nhưng không có quả.

5. Phân Bón Lót:


Dùng phân hữu cơ hoại mục như phân bò hoai hay phân trùn quế để bón lót cho cây sa kê trước khi trồng. Sau đó dùng cây nén chặt xung quanh gốc để giúp cây vững chãi, có thể dùng 3-4 cây cừ tràm hay tầm vông cột chặt vào thân và cành cây sa kê, phân đầu cừ còn lại cắm xiên xuống đất để tránh gió thổi làm cây ngả đỗ sẽ hư bộ rễ non, cây dễ bị chết. Coronel (1983) đề xuất bón 100-200g SA/cây một tháng sau khi trồng và sau đó 6 tháng/lần. Khi cây bắt đầu cho trái, bón 500-1000g/cây, 2 lần/năm. Khi cây cho trái nhiều cần bón 2kg/cây. Cây không cần tỉa tạo cành ngoại trừ việc cắt đi cành chết. Khi cây quá cao có thể cưa ngọn để duy trì độ cao phù hợp cho việc thu họach (Ragone, 1997).

6. Kỹ Thuật Trồng Cây Sa Kê:

Khi bắt đầu trồng cây phải vun mô nâng cao độ cao của đất lên khoảng 20cm, nhằm giúp thoát nước cho bộ rễ cây Tiến hành đào lỗ đặt bầu sao cho rễ và thần cây ngay thẳng ở giữ hố, mặt trên của bầu thấp hơn miệng hố 1-2cm. Xé bỏ vò bầu trước khi đặt cây xuống hố, chú ý không được làm vỡ bầu hay bầu bị biến dạng. Lấp phần đất mặt xuống trước, lèn chặt bầu, vun thêm đất mặt vào quanh gốc trên cổ rễ 2-3cm. Dùng 3-4 cây gỗ cột vào thân và cành cây, đầu còn lại cắm xuống đất để tránh gió thổi làm đổ cây bật rễ non làm hỏng bộ rễ.

7. Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Sa Kê:

7.1. Kỹ thuật chăm sóc định kỳ:

Tưới nước đầy đủ cho cây sa kê sau khi trồng, có thể dùng thuốc ra rễ như N3M, surper roots, phân surper lân pha nước tưới cho cây ( khoảng 2-3 lần, cách nhau 5-7 ngày ) để mau ra rễ mới. Sử dụng tàn dư thực vật giữ ẩm là rất phổ biến cho cây sakê ở vùng Thái Bình Dương. Thời gian đầu sau trồng, cây cần được tưới nước nhưng sau đó nếu không tưới cây sakê vẫn sinh trưởng và đậu trái tốt, thậm chí ở vùng có mùa khô rõ rệt (Ragone, 1997).

7.2. Kỹ thuật Cắt tỉa, tạo hình:


Thường xuyên cắt bỏ những cành lá khô, héo, sâu bệnh.

7.3. Kỹ thuật Bón phân Cho Cây Sa Kê:

Sau khi trồng khoảng 25-30 ngày là cây bắt đầu phục hồi, lá bắt đầu nhú ra thì rải thêm khoảng một muỗng cà phê ( nếu cây nhỏ ) và muỗng canh ( đối với cây lớn) phân DAP xung quanh gốc cây. Sau 3 tháng cây sa kê đã cho nhiều lá mới và chồi non thì bón phân NPK 16.16.8 hay sunphat amon SA với liều lượng như phân DAP.Có thể bón luân phiên từng đợt cách nhau mỗi tháng bón một lần phân hạt. Trường hợp trồng cây sa kê nơi đất hẹp mà bộ rễ ăn lên trên thì phải bồi thêm lớp đất và phân hưu cơ cho cây mau lớn. Nếu trồng cây ngoài đất sân vườn thì chỉ cần chăm sóc trong 2 năm , không cần tưới nước mà chỉ cần bón phân làm 2-3 đợt trong năm để cây cho nhiều trái.

8. Phòng Trừ Sâu Bệnh Cho Cây Sa Kê:

Khi trồng cây sa kê mà thao tác làm tổn thương nhiều đến bộ rễ, sẽ làm ngọn chính của cây bị teo dần và đen chết , cây sẽ tái sinh những chồi trên thân. Khi đó cần cắt bỏ phần thân nhánh chết khô và phun nấm phòng bệnh như kasumin, valydamycin, metaxyl…. Nếu gặp trời mưa kéo dài và nắng gắt đột ngột, làm cho các loài rệp dễ tấn công, cần phun thuốc BVTV vừa phòng rệp như Secsaigon, anvado 100WP, bassan…cùng thuốc trừ nấm để phun khi có thời tiết bất thường. Lưu ý phong trừ sâu bệnh khi cây còn nhỏ hay mới trồng. Tuy nhiên cây sa kê phát triển tốt thì ít khi bị sâu bệnh tấn công. Cây sa kê trưởng thành cho hàng trăm trái trong một năm, cây sa kê thuộc nhóm cây thân gỗ trung bình và sống rất lâu năm. Sakê là cây thân cứng và tương đối ít sâu bệnh, tuy nhiên rệp sáp và bệnh đốm lá có thể gặp ở nhiều cây (Rajendran 1992). Vấn đề sâu bệnh ở sakê mang tính khu vực, bọ nhảy hai đốm hại lá ở Hawaii, rệp Rastrococcus invadeniss ở Tây Phi (Agounke et al.1988), nấm Rosellinina sp. ở Trinidad and Grenada (Marte 1986), tuyến trùng hại rễ (Meloidogyne sp.) gây nghiêm trọng ở Malaysia (Razak 1978). Ngoài ra còn có die-back (Zaiger and Zentmeyer 1966), thối trái, ruồi hại trái (Ragone, 1997)

9. Thu Hoạch và Bảo Quản:

Thường hái trái khi đã già nhưng chưa chín, trái thu hoạch không rớt xuống nền đất sẽ lưu giữ được lâu hơn. Nghiên cứu cho thấy có thể bảo quản sakê trong túi P.E. kín ở nhiệt độ thấp nhưng trái dễ bị tổn thương lạnh nếu bảo quản dưới 12°C. Bảo quản ở 14°C có thể giữ được 10 ngày. Thu hái cẩn thận có thể cải thiện thời gian bảo quản và chất lượng trái (Maharaj and Sankat 1990). Dùng màng bao (waxed) và bảo quản ở 16°C có thể kéo dài được 18 ngày. Bảo quản trong điều kiện điều chỉnh khí 5% CO2 và 5% O2 ở 16°C có thể bảo quản được 25 ngày nhưng giá thành cao (Ragone, 1997).

10. Kinh nghiệm và Thị Trường:

Cây sakê cung cấp dinh dưỡng cao, hàm lượng hydrat carbon cao, và có thể tiêu thụ được ở mọi giai đọan. Cây có tuổi thọ hơn 50 năm và cung cấp dinh dưỡng cho con người, làm gỗ và thức ăn gia súc. Sakê yêu cầu đầu tư ít, nhân công ít và có thể trồng trong nhiều điều kiện sinh thái. Bởi sakê thường được sử dụng khi chín nhưng còn cứng, các nghiên cứu về dinh dưỡng, phát triển thương mại hóa sản phẩm cần lưu ý giai đọan này để kéo dài thời gian quả cứng. Quả chín thường bị bỏ đi hoặc làm thức ăn cho gia súc và vì vậy rất ít nghiên cứu để mở rộng khả năng sử dụng quả khi chín. Trái sakê có thể tiêu thụ nhiều hơn nếu phối trộn sakê trong các sản phẩm khác như thức ăn em bé, đồ nướng, đồ tráng miệng (Ragone, 1997)

Cách trồng cây sa kê tại Việt Nam

Cách trồng cây sa kê tại Việt Nam

Được mệnh danh là cây cứu đói Châu Phi, cây sa kê được dùng để chế biến nhiều loại thức ăn ngon trong gia đình.

Cây sa kê được trồng rộng rãi khắp cả nước bởi đặc tính sinh trưởng dễ trồng và thích nghi hầu hết trên các loại đất như nhiễm phèn, nhiễm mặn.

Khi bắt đầu trồng cây phải vun mô nâng cao cho đất khoảng 20cm, giúp thoát nước cho bộ rễ cây.

Vì cây giống chiết cành nên bộ rễ ban đầu còn kém phát triển, bà con cần chống úng cho cây. Dùng phân hữu cơ hoại mục như phân bò hoai hay trùn quế để bón lót cho cây trước khi trồng.

Sau đó dùng cây nén chặt xung quanh gốc để giúp cây vững chãi, có thể dùng 3 - 4 cây cừ tràm hay tầm vông.

Cây sa kê

Sau khi trồng, bà con cần tưới nước đầy đủ cho sa kê. Có thể dùng thuốc ra rễ pha nước tưới cho cây (khoảng 2 - 3 lần, cách nhau 5 - 7 ngày) để cây mau ra rễ mới.

Khoảng 25 - 30 ngày, lá bắt đầu nhú ra thì rải thêm khoảng 1 muỗng cà phê (nếu cây nhỏ) và muỗng canh (đối với cây lớn) phân DAP xung quanh gốc cây.

Sau 3 tháng cây sa kê đã cho nhiều lá mới và chồi non thì bón tiếp phân cho cây.

Nếu trồng cây ngoài đất sân vườn thì chỉ cần chăm sóc trong 2 năm, không cần tưới nước mà chỉ bón phân làm 2 - 3 đợt/năm để cây cho nhiều trái.

Nếu gặp trời mưa kéo dài và nắng gắt đột ngột, làm cho các loài rệp dễ tấn công, cần phun thuốc BVTV vừa phòng rệp cùng thuốc trừ nấm để phun khi có thời tiết bất thường.

Lưu ý phòng trừ sâu bệnh khi cây còn nhỏ hay mới trồng. Tuy nhiên cây sa kê phát triển tốt thì ít khi bị sâu bệnh tấn công.

Cây sa kê trưởng thành cho hàng trăm trái trong 1 năm, cây sa kê thuộc nhóm cây thân gỗ trung bình và sống rất lâu năm.

Để có vườn sầu riêng sai trái

Để có vườn sầu riêng sai trái

Cây sầu riêng được trồng ở Đăklăk vẫn mang dang dấp manh mún, tự phát (chưa được qui hoạch và giống) nên năng suất và chất lượng không cao, chưa có sức cạnh tranh trên thị trường. Để giúp bà con làm vườn trồng xen canh sầu riêng trong vườn cà phê đạt hiệu quả tốt, có năng suất, xin được trao đổi một số kinh nghiệm đã được thử nghiệm và đạt kết quả tốt như sau:

1. Cách chọn giống:

Không nên mua những cây giống bày bán trôi nổi trên thị trường. Nên chọn những nhà vườn tại địa phương có giống tốt, trái to đều, cơm vàng, cùi dày, hạt nhỏ, chín sớm. Hạt có thể ươm trực tiếp vào hố đã chuẩn bị sẵn hoặc vào bầu, thời gian trồng thích hợp nhất là vào đầu mùa mưa (quãng tháng 6 âm lịch) để đến mùa khô năm tới cây đã có sức. Thay thế dần những cây còi cọc sâu bệnh, trái nhỏ, cơm sượng.

2. Chăm sóc:

Cây sầu riêng loại rễ cọc ăn sâu nhưng lại có rất nhiều rễ phụ, rễ tơ hồng ăn nổi, rất nhạy cảm với môi trường biến đổi xung quanh như đào bới chạm gốc, bón quá nhiều phân hóa học. Qua khảo sát và kinh nghiệm của những chủ vườn có giống sầu riêng tốt thì phân bón thích hợp cho sầu riêng 4 năm đầu là phân chuồng mục ủ với lân Văn Điển. Khoảng 40kg phân chuồng cộng với 3kg lân cho một gốc. Đào xa mép tán lá khoảng 40 phân (cỡ 2 gang tay), rải phân đều, sau đó lấp đất và tưới đậm. Cứ sau 30 – 40 ngày vào mùa mưa bón thêm 0,5 đến 1kg NPK 16–16–8 loại Bình Điền hoặc Chánh Hưng (loại chuyên dùng cho cây cà phê, ca cao) rải đều xung quanh tán lá. Hạn chế tối đa bón đạm, nhất là đạm Suynphát dễ làm cơm sượng. Sang năm thứ 5 khi cây đã sung sức, cành mập cứng đủ sức đeo trái thì bấm đọt (ngọn) để nuôi cành và tạo bộ tán lý tưởng.

3. Thụ phấn:

Đây là khâu then chốt nhất để đạt năng suất. Sầu riêng được thụ phấn nhân tạo ngoài giúp cây đậu sai, trái tròn đều bắt mắt, bà con nhà vườn nên theo dõi chu kỳ nở hoa để có biện pháp thụ phấn thích hợp. Khi cây trổ nụ hơn tháng sau sẽ nở hoa, nên dùng kéo bấm tỉa bớt nụ sao cho khi nở, hoa sẽ đều mập. Hoa thường nở vào buổi tối từ 18h đến 20h. Thời điểm thích hợp để thụ phấn sau khi hoa đã bung nhị chừng một tiếng. Lắc nhẹ chùm hoa thấy một hai giọt mật ở nhụy ứa ra là được. Tốt nhất nên có hai người, một soi đèn, một thụ phấn, nhớ chuẩn bị ghế hoặc thang chắc chắn, nếu cây trồng gần nhà nên kéo bóng đèn tròn loại 75w treo cao để côn trùng giúp thụ phấn ở những cành cao. Sau khi thụ phấn được một tháng tiến hành cắt bỏ bớt những trái nhỏ, phân bố sao cho đều các cành, không nên để nhiều trái sẽ nhỏ và cây mau mất sức.

4. Thu hoạch:

Khoảng 4 đến 5 tháng sau khi được thụ phấn, sầu riêng chín, nứt cuống và tự rụng. Khi thấy trái từ màu xanh chuyển sang vàng rồi vàng sậm là lúc trái đã già. Cần lấy dây xác rắn hoặc dây nilon buộc cuống treo vào cành để khi trái chín giữ an toàn cho người và trái không bị giập nứt ảnh hưởng đến chất lượng. Có thể dùng đoạn gỗ dẹt nhẹ gõ vào trái, nếu thấy tiếng bộp nhẹ là cắt xuống được, nhớ cắt xa cuống và xếp vào sọt có lót rơm hoặc bao, ba ngày sau trái sẽ chín và tự rụng cuống. Không nên để sầu riêng chín lâu quá mới sử dụng vì lớp vỏ sẽ tự tách, vi khuẩn dễ xâm nhập làm mất hương vị của trái.

Kỹ thuật trồng sầu riêng công nghệ cao

Kỹ thuật trồng sầu riêng công nghệ cao

Hiện nay, sầu riêng là một trong 3 loại cây ăn quả chủ lực được tỉnh khuyến khích nông dân các địa phương trồng. Theo Trung tâm Khuyến nông tỉnh, nông dân áp dụng kỹ thuật mới trong trồng, chăm sóc cây sẽ nhanh cho trái và sau 5 năm có thể cho thu lời hơn 100 triệu đồng/hécta/năm.

1/ Thiết kế vườn trồng

- Thiết kế vườn trồng phải đảm bảo các yêu cầu như thoát nước tốt trong mùa mưa, đảm bảo vườn thông thoáng, hạn chế được sâu bệnh gây hại và chống xói mòn để giữ độ phì cho đất.

2/ Kỹ thuật trồng

- Thời điểm trồng sầu riêng thích hợp nhất là từ đầu mùa mưa đến giữa mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 8).

- Tùy thuộc vào loại đất, giống và chế độ chăm sóc để bố trí mật độ trồng cây cho phù hợp. Tuy nhiên, loại đất tốt giàu dinh dưỡng như đất đỏ bazan nên trồng 100 cây/hécta, tương đương 10mx10m/cây. Còn đất xám trồng 125 cây/hécta khoảng 8mx10m/cây. Trong giai đoạn đầu cây còn nhỏ nên trồng xen canh một số cây ngắn ngày để lấy ngắn nuôi dài, tránh lãng phí đất và chống xói mòn.

- Đào hố trồng cây trước khi trồng khoảng 1 - 2 tháng. Hố đào sâu khoảng 0,7m và dài, rộng 1mx1m. Sau đó, mỗi hốc sử dụng 0,5kg vôi để xử lý một số loại sâu bệnh. Khi đào hố được 2 tuần, mỗi hố tiếp tục dùng 20 - 40kg phân hữu cơ hoại mục, 1kg phân lân, 0,5kg vôi bột và một nửa lớp đất mặt đào từ hố lên trộn đều cho xuống và lấp lại cao hơn mặt đất tự nhiên. Lúc trồng cây, đào hố vừa bằng bầu cây giống, nếu thấy cây có rễ già nhiều dùng kéo sắc tỉa bỏ bớt rễ già rồi đặt cây vào hố trồng, nén đất chặt xung quanh bầu cây. Trồng cây xong, cắm 3 cọc hình tam giác chụm xung quanh cây và buộc nhẹ vào thân cây để chống cho cây khỏi bị nghiêng ngả khi có mưa, gió lớn. Dùng rơm, cỏ khô ủ gốc để giữ ẩm, che mát cho cây trong thời kỳ đầu và thường xuyên giữ ẩm cho cây. Nếu có nắng hạn kéo dài nên dùng vòi hoa sen tưới nước bổ sung cho cây.

3/ Cách bón phân

- Qua đúc kết kinh nghiệm thực tế của nhiều nhà vườn thì dùng phân hữu cơ nhiều, hạn chế phân hóa học thì chất lượng cơm của trái sầu riêng tốt hơn và tỷ lệ trái sượng rất ít.

- Mỗi năm bón 20 - 30kg phân hữu cơ/cây để cây phát triển tốt còn phân hóa học bón theo từng giai đoạn phát triển. Song, trong 2 năm đầu phân hóa học pha vào nước tưới cho cây sẽ hiệu quả hơn. Những năm sau bón chung quanh tán cây và rải đều dưới tán, dùng cào trộn với đất mặt nếu không mưa tưới nhẹ. Chú ý, không bón phân Kali cho cây vì dùng loại phân này trái sẽ bị sượng.

+ Năm thứ 1: Bón 5 lần, mỗi lần 0,5kg phân 16-16-8-13S hoặc 20-20-15/cây.

+ Năm thứ 2: Bón 4 lần, mỗi lần 1kg phân 16-16-8-13S hoặc 20-20-15/cây.

+ Năm thứ 3: Bón 3 lần, mỗi lần 1,5kg phân 16-16-8-13S hoặc 20-20-15/cây.

+ Năm thứ 4: Bón 3 lần, mỗi lần 3,5kg phân 12-12-17.2 + TE/cây.

+ Năm thứ 5: Bón 4 lần, mỗi lần 5kg phân 12-12-17.2 + TE/cây.

+ Năm thứ 6: Bón 4 lần, mỗi lần 6kg phân 12-12-17.2 + TE/cây.

- Sau sáu năm cây sẽ đến thời kỳ kinh doanh cho trái ổn định. Lúc này các nhà vườn dùng nhiều loại phân bón để cung cấp đủ dưỡng chất cho cây. Cụ thể, sau thu hoạch bón 2-4kg phân 20-20-15 và 10-20kg phân chuồng hoai mục/cây. Trước khi cây trổ bông 1-2 tháng bón 1-2kg 10-52-17/cây, khi quả bằng trái cam bổ sung thêm 2-4kg phân 20-20-15 và 9 tuần sau khi đậu trái bón 2-4kg 20-20-15/cây.

- Nếu có điều kiện, các nhà vườn nên lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm và bón phân hóa học qua đường ống cho cây sầu riêng. Hệ thống này giúp nông dân giảm được 85% công tưới, bón phân, đồng thời hạn chế thất thoát phân bón, nâng cao hiệu quả sử dụng phân của cây. Như vậy, cây sẽ rút ngắn được thời gian cho trái, năng suất, chất lượng tăng cao và tuổi thọ được kéo dài.

4/ Tỉa cành, tạo tán

- Khi cây nhỏ chỉ để 1 ngọn, tỉa bỏ hết chồi gốc. Cành đầu tiên để cách mặt đất 30cm, sau đó để các cành nhỏ trên thân chính cách nhau từ 8-10cm, cùng một vị trí không để 2 cành vì cây sẽ bị chẻ khi mang nhiều quả. Tỉa bỏ hết cành vọt, cành gầy yếu để cây phát triển tốt.

Sầu riêng của Đồng Nai tại Festival Trái cây Việt Nam được nhiều du khách đánh giá cao.

- Thời kỳ cây mang trái tỉa cành gầy yếu, khô, bệnh khoảng 3 lần/năm. Lần 1 sau thu hoạch, lần 2 vào tháng 8-9 và lần 3 vào thời điểm cây cho trái bằng quả quýt.

- Cây sầu riêng ra hoa 2-3 đợt/năm, nhưng chỉ chọn một đợt chính còn lại loại bỏ hết để cây có sức nuôi trái. Khi hoa nở 20-30 ngày tỉa bỏ một nửa số hoa, hoa nở 35-42 ngày tỉa tiếp, chỉ để 200- 300 trái/cây và sau khi hoa nở 50- 56 ngày, chỉ để số trái phù hợp với sức của cây từ 60-150 trái/cây.

5/ Thu hoạch

Thời gian thu hoạch tùy theo đặc tính của từng giống, song giống địa phương Chín Hóa, khổ qua, sầu riêng hạt lép Long Thành, TX. Long Khánh từ khi xả nhị đến lúc thu hoạch khoảng 105-110 ngày. Các giống nhập như sầu riêng Dona từ lúc xả nhị thu hoạch 130-135 ngày.

* Chú ý, khi trái non vừa đậu đến khi trái non bằng quả quýt nên phun 15cc Toba Fruit để ngăn ngừa hiện tượng rụng trái non. Đồng thời, giữ ẩm đều cho cây không để ẩm độ trong đất thay đổi đột ngột dễ gây ra hiện tượng rụng trái non. Giai đoạn trái to khoảng 1kg trở lên phải thường xuyên theo dõi, phòng trừ sâu đục trái. Khi trái có cơm, thời tiết mưa nhiều lưu ý bệnh thối trái.

Nguyệt Hạ - Báo Đồng Nai, 06/05/2010

Bón phân cho sầu riêng

Bón phân cho sầu riêng

Mỗi gian đoạn sinh trưởng của cây luôn đi kèm với quá trình sinh lý nhất định. Do vậy, muốn cung cấp phân cho cây có hiệu quả nên tuân thủ nguyên tắc.

Bón phân khi làm đất:

- Đào hố sâu 0,6m, chiều rộng 0,8m x 0,8m, bón khoảng 1- 2kg vôi sống vào hố. Phơi đất thật khô. Dùng 20- 30kg phân xanh (hay phân chuồng, phân rác, …) đã oai mục và 0,5kg- 1kg phân lân (P2O5) trộn vào đất phơi khô và lấp xuống hố theo thứ tự theo tầng đất (đất ở đáy, ở giữa và lớp đất mặt).

- Đắp thêm một số đất khô có nhiều chất dinh dưỡng như đất vế mặt ruộng, đất phù sa sông rạch …

- Ở vùng đất miền Đông Nam Bộ nếu độ nghiêng lớn hơn 5%, có thể không cần làm mô, chỉ cần cuốc xới cho đất tơi xốp và trộn phân khoáng và phân hữu cơ cho cây trồng mau tốt.

Bón lót:

- Nếu có phân dơi, phân cá, phân hữu cơ hoai mục nên bón một ít vào hố, tùy khả năng mà bón ít nhiều. Trộn sơ cho phân lẫn vào đất. Loại phân có nhiều đạm hay hàm lượng muối trong phân cao thì phảI vùi sâu vào đất để rễ non không bị ngộ độc.

BÓN PHÂN:

Phương pháp cung cấp phân được giới thiệu sau đây dựa vào kinh nghiệm và một số tài liệu khảo của nước ngoài.

A/ Nguyên tắc cung cấp phân:

Phân bón bao gồm phân vô cơ (phân hóa học) và phân hữu cơ (phân xanh, phân chuồng, phân ruốc…) cung cấp cho cây trồng là nhằm tăng nguồn dinh dưỡng dự trữ cho cây trong đất. Cây không thể hấp thụ chất dinh dưỡng trực tiếp từ phân (đặc biệt là phân vô cơ) mà phải thông qua yếu tố cơ bản rất đặc biệt là đất và nước.

Mỗi gian đoạn sinh trưởng của cây luôn đi kèm với quá trình sinh lý nhất định. Do vậy, muốn cung cấp phân cho cây có hiệu quả nên tuân thủ nguyên tắc.

1. Bón phân có định kỳ:

Cây cần nhiều chất dinh dưỡng, nhất là lúc ra chồi non, lá non, ra hoa, mang trái. Nên cần bón thúc phân cho cây khi lá đã già hay sau mùa thu hoạch trái và sau đó thường xuyên bón bổ sung. Thời gian từ ra hoa đến trái chín của sầu riêng khoảng 16- 18 tuần. Giai đoạn làm cơm cần nhiều chất dinh dưỡng hơn giai đoạn cuối, nên bón phân trước khi trái hình thành cơm.

2. Bón đúng và bón đủ:

- Mỗi giai đoạn và sinh trưởng nhu cầu chất dinh dưỡng có khác nhau. Cung cấp nhiều đạm cây sẽ giảm ra hoa, trái dễ bị rụng, hương vị phẩm chất giảm.

- Phải cung cấp đủ lượng phân dự trữ trong đất để cây phát triển và có năng suất cao. Thiếu phân cây ngừng sinh trưởng, phát dục không hoàn chỉnh, năng suất kém …

- Ngược lại, cây thừa phân sẽ làm bộ rễ tổn hại, tình trạng nặng cây sẽ bị chết. Bón nhiều phân trong thời gian ngắn ở giai đoạn mang trái sẽ làm rụng trái hàng loạt …Tốt nhất là bón vừa đủ theo định kỳ sinh trưởng của cây.

3. Bón để nuôi cây:

Vào thời điểm đất khô, thiếu nước tưới nếu bón phân sẽ gây lãng phí và có thể gây hại cho cây. Quan trọng nhất là phân đạm, khi bón phân tưới qua một vài lần tưởng rằng phân đã thấm sâu vào đất và cây đã hấp thụ hết. Thực tế, cây chỉ hấp thụ một phần, phần lớn còn lại nếu đất bị khô, khí hậu nóng hoặc nắng lâu ngày đạm chất sẽ bị hốc hơi.

Để phát huy tác dụng của phân bón, khi đã bón phân thì phải tưới một lượng nước vừa đủ và liên tục được giữ ẩm (nhất là vào mùa nắng) để cây hấp thụ được phân và tránh những mất thoát đáng tiếc. Vào mùa mưa, ở những vùng đồng bằng, liếp thường nhỏ, bón phân xong nếu bị mưa to dễ bị rửa trôi (nhất là ở vùng đất có kết cấu bề mặt quá chặt). Do đó, phải tìm cách để cho phân ngấm sâu vào đất.

B/ Sử dụng phân hữu cơ:

1. Các loại phân hữu cơ thông dụng:

Phân hữu cơ là các loại phân xanh, phân chuồng, phân ruốc, phân dơi … Phân chuồng, phân rác, phân xanh trước khi sử dụng phải ủ cho hoai mục. Phân chưa hoai mục có nhiều vi sinh vật có hại cho cây trồng hoặc khi các vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ để tạo thành chất mùn sẽ sinh nhiệt (có thể lên trên 55°C) làm tổn hại bộ rễ.

Phân hữu cơ là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây rất có giá trị. Giúp cải tạo đất rất tốt, làm đất có kết cấu tơi xốp hơn, tăng độ phì của đất (không làm chai đất như phân vô cơ).

2. Cách bón:

a) Dùng phân xanh, phân chuồng bón xung quanh tán cây:

Đào hố ngang 10 - 30cm, sâu 10 - 30cm xung quanh tán cây. Nếu phân ít có thể đào phân nửa hơn một phần ba tán cây. Cho phân xuống rãnh và lấp đất lại. Nên kết hợp với việc bón phân hóa học, nhất là ở giai đoạn bón thúc, làm cho cây phát triển nhanh hơn và tránh được sự lãng phí do bốc hơi hay bị rửa trôi.

b) Dùng phân cá, phân ruốc, phân dơi:

- Có thể kết hợp với phân xanh, phân chuồng để bón như trên theo định kỳ. Cây chưa cho trái nên bón định kỳ 6 tháng một lần (đầu mùa mưa bón một lần và đầu mùa nắng bón một lần). Cây đã cho trái nên bón vào giai đoạn trước nửa tháng ở đợt thu hoạch trái sau cùng.

- Có thể ngâm với phân hóa học để lấy nước tưới thường xuyên cho cây 10 - 15 ngày/lần, giúp cây phát triển nhanh.

+ Có thể dùng lu, khạp, hủ … đựng khoảng 2 giạ phân cá, phân ruốc (có thể trộn thêm phân dơi), 2 kg phân DAP, 200g- 800g phân Kali (nên dùng Sulfat Kali K2SO4) hoặc 2,5kg phân NPK 16.16.8 … đổ nước vào cho ngập và ngâm sau 2 tuần lễ thì sử dụng được. Thỉnh thoảng quậy lên cho mau rã.

+ Dùng khoảng 100cc nước phân (1/3 lon sữa bò) pha với 10 lít nước để tưới cho 5-10 cây con. Nên tưới vào chiều mát và sáng hôm sau, tưới xả lại bằng nước sạch. Cây trồng sau 10 ngày có thể tưới phân được.

Cây lớn tăng lượng phân lên khoảng 50cc (1/2 lon sữa bò) pha 10 lít. Tưới từ 5 lít đến 40- 50 lít cho một cây. Chu kỳ tưới khoảng 1 tháng/ 1 lần.

C/ Sử dụng phân hóa học:

1. Cách bón :

Cây con trồng cao khoảng 50cm có thể bón phân hóa học như NPK, DAP hoặc trộn lẫn hỗn hợp Urê, Lân và Kali theo tỷ lệ 3-4-3 cho vùng đất có độ phì nhiêu trung bình ở đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ 2-3-5 cho vùng đất xám hay đất đỏ Bazan. Sầu riêng ở giai đoạn trưởng thành cần nhiều Kali, tùy vùng đất mà xác lập tỷ lệ NPK bón cho hợp lý, lượng phân bón cho cây phải đảm bảo cho nhu cầu tăng trưởng ở các giai đoạn. bảng sau đây chỉ lượng phân sử dụng tương ứng với sự phát triển của cây.

BẢNG 3
Chiều cao cây(m) Lượng phân bón/ lần Chu kỳ bón (tháng)
0,5 40- 50 g 2
1 60- 80g 3
2 150- 2000g 4
3 200- 3000g 4
4 300- 600g 6(*)
(*): Bón vào đầu hay cuối mùa mưa, phải linh động xác định thời điểm bón phân. Để cây ra hoa sớm, nên bón phân lần 1 ngay kghi thu hoạch trái xong, lần 2 trước khi xiết nước làm trái hai tháng.

Nếu cây đã cho trái thì có thể bón 3 lần như sau :

BẢNG 4
Giai đoạn sau khi đậu trái Số lượng phân bón/ lần (gam)
20- 30 ngày 200- 300
60 ngày 400- 500
Sau thu hoạch 600- 10000(**)

(**): Cây từ 6 tuổi trở lên lượng phân bón tăng lên từ 1kg cho đến 3kg (gia tăng tỷ lệ thuận với độ rộng của tán cây).

2. Một số qui trình kỹ thuật bón phân nên tham khảo:

a) Tài liệu cây sầu riêng của Lê Thanh Phong, Võ Thanh Hoàng, Dương Minh, Khoa trồng trọt trường Đại Học Cần Thơ- NXB Nông nghiệp- TPHCM năm 1996. Việc bón phân cho mỗi cây qua các năm tuổi được đề nghị như sau :

- Trong năm thứ 1: Bón cho mỗi cây từ 100- 150g N, 50g P2O5 và 50g K2O (tương đương 200- 300g Urêa + 300g Super lân + 100g K2SO4/ gốc). Bón mỗi lần phân nửa vào đầu và cuối mùa mưa.

- Trong năm thứ 2 và 3 : Mỗi năm bón cho cây 200- 300g N, 100g P2O5 và 100g K2O. Bón một lần phân nửa vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa.

- Năm bắt đầu cho trái: Bón cho mỗi cây 500g N, 250g P2O5 và 250g K2O. Có thể chia làm 3 lần bón :

* Lần thứ 1: Bón 1/3 đạm, 1/2 Kali ở giai đoạn trước khi ra hoa.

* Lần thứ 2: Bón 1/3 đạm và 1/2 Kali khi trái có đường kính 10- 15cm.

* Lần thứ 3: Bón 1/3 đạm và toàn bộ số phân lân sau khi thu hoạch trái xong.

- Năm cho trái ổn định: tăng dần lượng phân bón đến 2- 3kg NPK tỷ lệ 2-1-1 hàng năm và cần bón thêm 20- 30kg phân chuồng hoai mục cho mỗi gốc.

Năm thứ 1 và thứ 2 nên pha phân để tưới. Từ năm thứ 3 trở đi nên xới xung quanh gốc để bón (vòng theo tán cây).

b) Tài liệu Phân bón và cách sử dụng của KS Nguyễn Thị Quí Mùi- NXB Nông nghiệp- TPHCM- 1997. Sầu riêng mới trồng ít chú ý đến việc bón phân. Lượng phân hóa học có thể bón cho 1 cây/ năm.

+ 200- 400g Urêa

+ 800- 1.000g Lân Super.

+ 100g Sulfat Kali (K2SO4).

Số phân trên có thể chia làm 4- 5 lần bón trong năm.

Có thể dùng NPK 15-15-15 dùng từ 300- 500g chia làm nhiều lần bón trong năm tùy theo tuổi của cây.

c) Tài liệu nghiên cứu qui trình trồng sầu riêng Thái Lan của Phichit Xôtvătthana :

- Trong 2 năm đầu sau khi trồng, việc bón phân có tính quyết định cho sự thành công trong nghề trồng sầu riêng. Tỷ lệ phân bón 15-15-15, liều lượng 300- 500g chia làm 3- 4 lần.

- Bón phân bồi dưỡng cho cây còn nhỏ hoặc cây có tuổi cao, sau khi thu hoạch trái nhằm thúc cho cây tạo hệ thống rễ chắc khỏe và tích lũy dinh dưỡng cho vụ ra hoa tiếp theo. Bón nhiều Phospho hơn theo tỷ lệ 12-24-12 với lượng dùng từ 200g đến 3 kg.

- Bón cho cây chuẩn bị ra hoa : Giai đoạn trước khi ra hoa nên bón chất đạm ít đi và tăng thêm Phospho và Kali như loại : 9-24-24.

- Bón phân ở giai đoạn kết trái : Nên dùng các loại phân làm tăng thêm chất lượng trái như 13-13-21 hay 14-14-21, lượng phân dùng từ vài trăm gam đến vài ký, và chia làm nhiều lần tùy cây lớn nhỏ. Để sầu riêng có chất lượng cao và trái to thì phun Kali cùng với Lưu huỳnh bột loại hòa tan trong nước nhưng không nên dùng quá liều cần thiết sẽ gây độc cho cây.

* Lưu ý :

- Tránh bón thúc vào giai đoạn cây đang ra cành lá non. Bón vào giai đoạn lá vừa già hay đã già.

- Kỹ thuật bón phân hóa học, tính toán liều lượng thích hợp và tỷ lệ NPK cung cấp cho cây sầu riêng là rất quan trọng. Trong thực tế canh tác môi trường đất trồng trọt mỗi vùng mỗi khác, đặc điểm sinh trưởng của từng giống cũng khác. Chưa có công trình nghiên cứu về cây sầu riêng hoàn chỉnh. Vì thế phải theo dõi điều chỉnh trong quá trình canh tác, quyết định lượng phân bón phù hợp từng giai đoạn sinh trưởng … nhằm xác lập công thức và qui trình bón phân là vấn đề rất cần thiết.

1. Đối với cây sầu riêng phạm vi độ pH thích ứng hẹp nên dùng nhiều biện pháp để điều chỉnh độ pH như bón vôi, bón tro, bón các loại chất kiềm, làm thủy lợi … Một số phân bón có thể gây phản ứng bất lợi khi bón trên đất quá chua hay quá kiềm .

2. Chỉ bón phân khoáng khi đã xác định được đất đang thiếu, cây đang cần hay để phát huy tác dụng các loại phân khác cho cây trồng.

3. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại phân bón lá sử dụng cho cây sầu riêng. Ở một mức độ nào đó nó có thể thay thế được phân khoáng bón vào đất.

RHQ, 07/05/2007