Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2018

Nấm mỡ và những công dụng bất ngờ với sức khỏe

Nấm mỡ và những công dụng bất ngờ với sức khỏe

Nẫm mỡ là một loại nấm ăn được có công dụng tuyệt vời về mặt y học với sức khỏe con người. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có sản phẩm y dược nào có chiết xuất từ loại nấm này. Nấm được sử dụng phổ biến dưới dạng thực phẩm.

Công dụng của nấm mỡ

Theo các tài liệu y học cổ truyền, nấm mỡ vị ngọt, tính mát, có công dụng bổ tỳ ích khí, nhuận phế hoá đàm, tiêu thực lý khí, rất thích hợp cho những người chán ăn mệt mỏi do tỳ vị hư yếu, sản phụ thiếu sữa, viêm phế quản mạn tính, viêm gan mạn tính, hội chứng suy giảm bạch cầu… Sách Bản thảo cương mục viết nấm mỡ có tác dụng “ích tràng vị, hoá đàm lý khí”.

Các nghiên cứu dinh dưỡng hiện đại thì khẳng định: nấm mỡ có khả năng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn thương hàn và trực khuẩn coli. Nhiều năm trở lại đây, người ta cũng đã nhận thấy việc dùng nấm mỡ làm thức ăn hàng ngày hoặc thường xuyên uống nước sắc loại nấm này khả năng trị liệu viêm gan mạn tính và chứng giảm thiểu bạch cầu. Ngoài ra, nấm mỡ còn có công dụng làm giảm đường máu, hạ nồng độ cholesterol trong huyết thanh và cải thiện chức năng tuyến tuỵ. Bởi vậy, nấm mỡ được đánh giá là một trong những thực phẩm thích hợp dành cho người bị bệnh tim mạch, đái đường, ung thư hay mắc các bệnh lý về tuyến tuỵ.

Các món ăn chế biến từ nấm mỡ

Nẫm mỡ có những công dụng tuyệt với về mặt y học với sức khỏe con người. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có sản phẩm y dược nào có chiết xuất từ loại nấm này. Nấm được sử dụng phổ biến dưới dạng thực phẩm. Dưới đây là 4 công thức chế biến món ăn từ nấm mỡ thành thức ăn, ngon miệng và có lợi cho sức khỏe con người.

Công thức 1:  Nấm mỡ xào ếch.

Chuẩn bị  200g nấm mỡ, đùi ếch 100g, hành, gừng tươi, tỏi, hạt tiêu, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Đùi ếch lột da, rửa sạch, chiên non qua dầu; nấm mỡ thái đôi, chần qua nước sôi, để ráo nước. Phi hành tỏi cho thơm rồi xào lẫn đùi ếch với nấm, chế đủ gia vị, ăn nóng. Công dụng: Ích vị kiện tỳ, lý khí hoá đàm, thanh nhiệt lợi niệu.

Công thức 2: Nấm mỡ xào tôm

Nấm mỡ 200g, tôm tươi 500g, cà rốt, măng củ, hành, gừng tươi, dầu thực vật, bột đao và gia vị vừa đủ. Nấm rửa sạch, thái đôi hoặc thái miếng vừa ăn, chần qua nước sôi, để ráo nước; tôm bóc vỏ, bỏ đầu, rửa sạch, ướp nước gừng và gia vị; cà rốt và măng củ rửa sạch, thái mỏng. Phi hành cho thơm rồi xào lẫn tôm với cà rốt và măng trước, kế đó cho nấm vào, đun to lửa một lát là được, chế đủ gia vị. Công dụng: Bổ thận tráng dương, kiện tỳ ích vị, hoá đàm tiêu thực.

Công thức 3: Nẫm mỡ hầm đậu phụ

Nấm mỡ 150g, đậu phụ 300g, măng củ 100g, nước dùng (nước luộc gà hoặc nước ninh sườn) 200ml, hành, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Nấm rửa sạch, bổ đôi, chần qua nước sôi; măng thái mỏng; đậu phụ xắt miếng vừa ăn. Tất cả cho vào nồi, chế đủ gia vị, đổ nước dùng vào đun sôi khoảng 10 phút là được. Công dụng: Kiện tỳ ích vị, sinh tân nhuận táo, thanh nhiệt giải độc.

Công thức 4: Nấm mỡ xào lòng non

Nấm mỡ 350g, lòng non lợn 500g, hành, tỏi, gừng tươi, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Lòng non làm sạch, thái khúc chừng 2cm, gừng thái phiến, hai thứ cho vào nồi áp suất đun trong 2 phút rồi lấy ra, để ráo nước; nấm mỡ rửa sạch, thái đôi, chần qua nước sôi. Phi hành tỏi cho thơm rồi xào nấm với lòng non, chế đủ gia vị, ăn nóng. Công dụng: Kiện vị tiêu thực, lý khí hoá đàm, thanh tràng chỉ huyết.

Trên đây là 4 công thức chế biến thức ăn đơn giản và bổ cho sức khỏe. Tuy nhiên, có một điều cần phải lưu ý khi sử dụng nấm mỡ là: loại nấm này dễ gây dị ứng. Nên những người mẫn cảm với nấm thì không nên dùng. Hoặc khi dùng nấm thì phải hết sức cẩn thận.
Thông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969

Kỹ thuật trồng Nấm Mỡ

Kỹ thuật trồng Nấm Mỡ

Để trồng nấm mỡ tốt nhất đối với các tỉnh phía Bắc, khi cấy giống bắt đầu từ 15/10 đến 15/11 dương lịch hàng năm. Nếu làm sớm hoặc làm muộn hơn sẽ gặp thời tiết không thuận lợi, dẫn đến năng suất thấp.

1. Đặc tính sinh học (tóm tắt)

Nấm mỡ có tên khoa học là Agaricus gồm loại A.bisporus và A.bitorquis màu trắng, màu nâu. Nấm mỡ có nguồn gốc từ những nước có khí hậu ôn đới. Quả thể “cây nấm” rắn chắc gồm phần mũ và cuống rõ rệt. Đến giai đoạn phát triển, màng bao bị rách, bào tử bắt đầu phát tán từ phiến nấm, nấm nở như một chiếc ô.

Các bào tử phát tán trong không khí gặp điều kiện thuận lợi tiếp tục phát triển thành hệ sợi sơ cấp và thứ cấp, hệ sợi kết hợp với nhau hình thành quả thể nấm.

- Nhiệt độ thích hợp trong giai đoạn hệ sợi phát triển là 24-25°C, giai đoạn hình thành cây nấm là 16-8°C.

- Độ ẩm trong cơ chất (môi trường nuôi nấm) từ 65-70%. Độ ẩm không khí ≥ 80%. Độ pH = 7-8 (môi trường trung tính đến kiềm yếu).

- Ánh sáng: không cần thiết

- Độ thông thoáng: vừa phải

- Dinh dưỡng: không sử dụng xenlulô trực tiếp

Hàm lượng các chất khoáng trong thức ăn của nấm như sau:

N (đạm) 2,2 - 2,5%

P (phốtpho) 1,2 - 2,5%

CA (canxi) 2,5 - 3%

Tỷ lệ C/N 14-16/1

Lượng NH4 (amoni) < 0,1%

W (độ ẩm) 65 - 70%

Quá trình xử lý nguyên liệu trồng nấm mỡ cần phải phối trộn thêm các phụ gia (phân hữu cơ, vô cơ) với nguyên liệu chính để tạo môi trường thích hợp nhất cho nấm phát triển gọi là Composts.

2. Xử lý nguyên liệu

a) Thời gian ủ nguyên liệu:

Để trồng nấm mỡ tốt nhất đối với các tỉnh phía Bắc (khi cấy giống) bắt đầu từ 15/10 đến 15/11 dương lịch hàng năm. Nếu làm sớm hoặc làm muộn hơn sẽ gặp thời tiết không thuận lợi, dẫn đến năng suất thấp.

b) Công thức chế biến Composts tổng hợp:

Công thức 1:

Rơm rạ khô 1000kg

Đạm sunfat amon 20kg

Đạm urê 5kg

Bột nhẹ (CaCO3) 30kg

Supe lân 30kg

Công thức 2:


Rơm rạ khô 1000kg

Đạm urê 3kg

Phân gà 150kg

Bột nhẹ (CaCO3) 30kg

* Cách làm ướt rơm rạ: Rơm rạ khô được làm ướt trong nước vôi (theo tỷ lệ 1 tấn nguyên liệu cần 10kg vôi đã tôi) bằng các cách sau:

- Đổ nước vôi đã gạn trong từ từ vào bể ngâm rơm rạ chìm trong nước 15-30 phút, vớt ra ủ đống.

- Ngâm rơm rạ xuống ao hồ, kênh rạch… vớt lên bờ cứ 1 lớp rạ 20-30cm lại tưới một lớp nước vôi (dùng ô doa tưới).

- Rải rơm rạ ra sân bãi, phun nước trực tiếp bằng máy bơm hoặc ôdoa trong nhiều giờ (kiểu mưa dầm thấm áo) đến khi rơm rạ đủ ướt sẽ có màu nâu sẫm, lấy nước vôi tưới lên lượt cuối cùng và ủ đống.

- Lợi dụng trời mưa, tung rơm rạ ra sân, tưới lại bằng nước vôi đợt cuối, ủ đống.

* Ủ đống: Khi rơm rạ đã được làm ướt theo các cách trên, để ráo nước (12 giờ) bắt đầu chất đống ủ theo sơ đồ sau:

Chất đống rơm rạ làm ướt (1 tấn) đã để ráo nước bổ sung 5kg urê, 20kg sunfat → Để 3-4 ngày, đảo lần 1 → Để 3-4 ngày, đảo lần 2 bổ sung 30kg bột nhẹ CaCO3 → Để 3-4 ngày, đảo lần 3 bổ sung 30kg lân → Để 3-4 ngày, Đảo lần 4 → Giũ tơi → Vào khay.

Quá trình ủ đống; bổ sung hoá chất được tiến hành cụ thể:

- Kích thước đống ủ theo kệ lót (1,5m x 1,5m). Chiều cao 1,5m, tại điểm giữa có cọc tre để thông khí.

- Bổ sung hóa chất ở dạng khô và thật nhỏ, cứ một lớp rơm rạ cao 30cm thì rắc một lớp hoá chất.

- Đảo đều nguyên liệu từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài.

- Ngày đầu có thể nén chặt rơm rạ, các lần đảo tiếp sau không được nén. Cần tạo độ thông thoáng để đóng ủ lên men tốt.

- 1 tấn rơm rạ đánh đống ủ đo được 13m3.

- Kiểm tra độ ẩm trong mỗi lần đảo. Nếu thấy nguyên liệu khô (vắt rơm không có nước chảy ra tay), cần bổ sung thêm nước, nếu nguyên liệu quá ướt (vắt rơm có nước chảy thành dòng), cần phơi lại sau đó mới ủ đống.

- Trời quá nóng, gió mạnh, quá lạnh cần che phía ngoài thành đống ủ để giữ nhiệt độ trong đống ủ.

- Nếu trời mưa to, ủ đống ngoài trời cần tạo mái đống ủ có hình mui rùa hoặc che đậy phía đỉnh tránh nước mưa thấm sâu trong đống ủ.

- Nền (đáy) đống ủ phải thoát nước tốt.

- Nhiệt độ của đống ủ phải đạt 75-80°C vào ngày thứ 4 đến thứ 7 sau khi ủ đống.

Khi kết thúc quá trình ủ đống (giai đoạn lên men chính 14-16 ngày, composts đạt tiêu chuẩn: độ ẩm 65-70%, pH = 7-7,5); rơm rạ có mùi thơm dễ chịu, không có mùi amoniac, màu nâu sẫm là được.

c) Vào luống:

Có thể vò rối hoặc cuộn thành bó, chiều cao 18-20cm, độ chặt tương đối, bề mặt bằng phẳng. Trung bình 1 tấn rơm rạ khô sau khi ủ vào luống hết một diện tích 30-35m2.

d) Lên men phụ:


Vào luống xong được 7-8 ngày thì kiểm tra nhiệt độ trong luống, nếu đạt 28oC không còn mùi amôniác, độ ẩm chuẩn bắt đầu tiến hành cấy giống.

đ) Phương pháp cấy giống:

Dùng que sắt uốn cong để lấy giống trong chai ra. Kiểm tra thật kỹ xem giống có bị nhiễm bệnh không, bẻ tơi các hạt giống, rắc đều trên bề mặt. Lượng giống cấy cho 1m2 khoảng 300-350g. Lấy tay hoặc cào tự tạo (giống như bàn tay) giũ nhẹ để các hạt giống lọt xuống dưới lớp rơm rạ từ 3-5cm. Lấp phẳng bề mặt nguyên liệu như lúc ban đầu, lấy giấy báo hoặc giấy dễ thấm nước phủ kín bề mặt luống nấm. Hàng ngày tưới nước đủ ướt lớp giấy phủ. Khoảng 15 ngày sau tiến hành phủ đất.

e) Đất phủ và phủ đất:

Đất phủ có kết cấu viên, giàu chất hữu cơ (thường lấy ở tầng canh tác lúa, rau màu), có độ pH = 7, kích thước từ 0,3-1cm.

* Cách làm đất: Dùng cuốc xẻng đạp nhỏ, lấy sảo có nan thưa lắc nhẹ, loại bỏ các hạt đất ở dạng tấm, bụi. Phần còn lại to bằng hạt gạo đến hạt ngô là được. Lượng đất phủ khoảng 20-25kg/m2, chiều cao 2-2,5cm. Khi phủ đất xong, tiến hành tưới nhẹ trên bề mặt. Thời gian khoảng 3-4 ngày sau khi tưới, nước đủ thấm ướt toàn bộ lớp đất phủ là đuợc. Giảm lượng nước tưới trong ngày, duy trì độ ẩm liên tục như vậy đến khi thấy nấm lên (sau 15-20 ngày phủ đất).

g) Chăm sóc và thu hái nấm:

Khi thấy nấm bắt đầu lên (xuất hiện các chấm nhỏ màu trắng, lớn dần bằng hạt ngô, miệng chén), điều chỉnh lượng nước theo mật độ và độ lớn cây nấm. Nấm ra càng nhiều và càng lớn thì lượng nước tưới cũng nhiều hơn. Tuỳ thuộc vào thời gian và thời tiết (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió) để điều chỉnh hệ thống cửa ra vào và lượng nước tưới. Khi tưới phải ngửa vòi, tưới rải đều khắp bề mặt đất phủ một lượt rồi quay lại tưới đợt 2, 3… Không tưới tập trung một chỗ và không để nước thấm sâu xuống lớp giá thể.

* Thông thoáng: Thời kỳ nuôi sợi không cần nhiều oxy tự nhiên nên chỉ cần thông không khí vừa phải. Ngày mở cửa 2 lần mỗi lần 15-20 phút là được.

- Thời kỳ nấm lên, sử dụng nhiều O2 tự nhiên, nồng độ CO2 trong phòng trồng lên cao. Tăng cường mở cửa nhiều lần trong ngày để điều hoà không khí.

- Khi nhiệt độ không khí thấp hơn nhiệt độ phòng cần thông thoáng để nhiệt độ phòng giảm xuống nhanh hơn và ngược lại. Khi nhiệt độ phòng tăng cao, thông thoáng kém, nấm phát triển nhanh, cuống dài và nhỏ, mũ bé và cúp.
- Tưới nước không đủ (quá khô), nấm không lên khỏi mặt đất, cuống rất ngắn, “gốc” phình to dạng củ, mũ lớn hơn bình thường, mọc lác đác.

- Độ ẩm không khó bão hoà (100%) kéo dài liên tục trong nhiều ngày thì trong quả nấm có những vết đen, vi sinh vật và sâu bệnh xuất hiện nhiều.

- Lượng O2 không đủ, nấm có dạng mũ bé, cuống to.

- Trao đổi không khí quá mạnh (gió mùa nhiều, nấm có màu vàng, mũ xuất hiện vảy).

* Hái nấm: Hái nấm trước giai đoạn rách màng bao, dùng tay trái nhẹ nhàng xoáy quả nấm, lấy hết phần gốc và cuống nấm lên. Nếu nấm mọc thành cụm thì nên hái cả cụm, tránh hái tỉa. Sau khi hái xong cần phải nhặt bỏ các “rễ già”, nấm nhỏ bị chết, bổ sung thêm đất phủ vào những nơi bị hao hụt do thu hái. Quá trình thu hái, chăm sóc kéo dài khoảng 2,5-3 tháng thì kết thúc một chu kỳ nuôi trồng nấm (khoảng 15 tháng 4 dương dịch hết nấm).

b) Chế biến nấm:

Tuỳ theo yêu cầu của khách hàng để tiến hành việc thu hái, chế biến. Trước hết cần lựa chọn nấm: hái những cây nấm không bị sâu bệnh, dị dạng và chưa nở ô, cắt sạch phần cuống có bám đất, để lại chiều dài cuống 1-1,5cm.

* Tiêu thụ tươi:

Để nấm vào túi PE, buộc chặt miệng túi, chuyển đến nơi tiêu thụ. Quá trình vận chuyện cần tránh va chạm cơ học để nấm khỏi bầm giập. Muốn bảo quản lâu cần để ở nhiệt độ lạnh 5-8°C, thời gian giữ được từ 24 đến 72 giờ.

* Nấm muối:

- Rửa nấm: Nấm hái xong, cắt cuống (như trên), thả vào chậu nước lạnh, rửa sạch.

- Đun sôi nước: Thả nấm vào chần 5-7 phút, phải ấn nấm chìm liên tục trong nước sôi, nếu để nấm nổi bề mặt, nấm sẽ có màu đen loang lổ, sau đó vớt ra thả ngay vào nước lạnh.

- Vớt nấm đã chần cho vào túi nylon, chum (vại), cứ 1kg nấm cần cho thêm vào 0,2 lít dung dịch muối bào hoà, 0,3kg muối khô, 3g axit xitric. Buộc túi hoặc đậy nắp, phía trên dùng vỉ tre ấn chìm nấm trong dung dịch muối, sau 15 ngày nấm ổn định nồng độ muối (đạt 22%), có màu vàng nhạt, pH = 4, nấm có mùi thơm, dung dịch trong suốt là đạt yêu cầu.

i) Sâu bệnh hại nấm:

- Chuột: Chúng đào bới gây xáo trộn luống nấm, thời kỳ cấy giống nếu không tìm cách tiêu diệt, chúng sẽ ăn các hạt giống vừa cấy và làm giảm năng suất. Nên đánh thuốc diệt chuột liên tục (nhất là giai đoạn cấy giống).

- Nấm dại (nấm mực…): Sống cạnh tranh chất dinh dưỡng của nấm. Loại này không gây ảnh hưởng lớn đến nấm. Nguyên nhân xuất hiện do độ ẩm nguyên liệu quá cao, cần nhặt sạch và điều chỉnh độ ẩm thích hợp.

- Mốc nâu, mốc xanh: Bệnh xuất hiện khi nhiệt độ không khí cao, sau các đợt thu hái không tiến hành vệ sinh tốt (chưa nhặt sạch các gốc, rễ, nấm nhỏ bị chết). Loại bệnh này rất nguy hiểm, là loại nấm ký sinh cần phải nhặt thật sạch các mầm bệnh, dùng formalin 5% phun vào nơi bị nhiễm bệnh.

- Ruồi nấm: Xuất hiện khi độ ẩm không khí cao, phòng thiếu thông thoáng, môi trường xung quanh và trong nhà trồng vệ sinh không tốt.

- Virut và các loại vi khuẩn: Tạo các điểm đen trên cây nấm. Nguyên nhân là do nguyên liệu ủ không đảm bảo, còn nhiều mầm bệnh trong nguyên liệu, môi trường nuôi trồng không sạch sẽ, nguồn đất phủ không được khử trùng…Dùng chlorine hoà vào nước phun trực tiếp lên luống nấm (dùng 250ml chlorine 5% hoà lẫn 100 lít nước).

Tẩy trùng đất phủ: 1m3 đất phủ cần 1 lít formaldehyd hoà tan trong nước, thấm đều đất, trùm kín nylon 2 ngày, sau đó mở ra, đảo đều là được.

Nấm muối có màu vàng, mùi thối, khó chịu do nồng độ muối không đảm bảo, nguồn nước quá bẩn, cần bổ sung thêm muối và tăng lượng axit xitric.

- Bệnh quả thể nấm dị dạng: Nguyên nhân do các yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, không khí) thay đổi đột ngột, do giống nấm bị thoái hoá…Biểu hiện nấm không hình thành quả thể đầy đủ.

k) Năng suất nấm:

- Trung bình 1.000kg nguyên liệu rơm rạ khô sau khi kết thúc một đợt nuôi trồng từ 15/10 đến 15/4 năm sau cho thu hoạch 200 đến 300kg nấm tươi. Tỷ lệ nấm tươi sau khi muối đạt tiêu chuẩn xuất khẩu là (2: 1,1). Ngoài nấm tươi ra, người sản xuất còn thu được 1.200- 1.400kg phế thải để làm phân bón rất tốt./.
Thông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969

Kỹ thuật trồng nấm mỡ tại nhà

Kỹ thuật trồng nấm mỡ tại nhà

Nấm mỡ có nguồn gốc từ những nước có khí hậu ôn đới. Quả thể nấm gồm cuống nấm và mũ nấm. Mũ nấm có màu trắng, đường kính từ 3- 8,0cm.

1.1. Tên gọi và vị trí phân loại:

- Tên khoa học: Agaricus bisporus; A. bitorquis.
- Tên tiếng Anh - thương mại: Button mushroom; White mushroom, Champignon de Paris.
- Tên khác: Nấm trứng, Nấm trắng, Nấm búp, Nấm khuy.
- Nấm mỡ thuộc chi Agaricaceae, bộ Agaricales, lớp Hymenomycetes, ngành phụ Basidiomycotina, ngành Nấm thật- Eumycota, giới Nấm- Mycota.
- Nấm mỡ nuôi trồng ở nước ta chủ yếu là loài Agaricus bisporus, ngoài ra còn có các chủng A. bitorquis, A. blazei (có màu nâu). Nấm mỡ được nuôi trồng đầu tiên ở Pháp (1650) ở Việt Nam được nuôi trồng vào những năm 80 của thế kỷ trước.

1.2. Đặc tính sinh học của nấm mỡ:

- Nấm mỡ có nguồn gốc từ những nước có khí hậu ôn đới. Quả thể nấm gồm cuống nấm và mũ nấm. Mũ nấm có màu trắng, đường kính từ 3- 8,0cm. Khi cây nấm trưởng thành, màng bao phía dưới bị rách nấm xoè như chiếc ô, các bào tử nấm mầu nâu sẫm phát tán ra ngoài. Trong điều kiện tự nhiên gặp môi trường thuận lợi các bào tử nảy mầm thành hệ sợi sơ cấp và kết với nhau thành sợi thứ cấp. Sợi thứ cấp tích luỹ đủ dinh dưỡng hình thành quả thể và chu kỳ mới lại bắt đầu.
- Nhiệt độ thích hợp trong giai đoạn nuôi tơ là 24 - 25°C, giai đoạn ra nấm cần nhiệt độ từ 15 - 18°C.
- Độ ẩm trong cơ chất (nguyên liệu compost) từ 65 - 70%. Độ ẩm không khí > 80%.
- pH của môi trường nuôi trồng cũng như nước tưới bằng 7,0 - 8,0 (trung tính hoặc kiềm yếu).
- Ánh sáng: không cần thiết cả giai đoạn nuôi sợi và quả thể.
- Độ thông thoáng vừa phải nồng độ CO2 < 0,1%.
- Dinh dưỡng: nấm mỡ không sử dụng Cellulose trực tiếp mà sử dụng thức ăn  là bã “mục thứ cấp” nên ta phải có quá trình xử lý nguyên liệu và phối trộn thêm các phụ gia (phân hữu cơ, phân vô cơ) để tạo môi trường thích hợp nhất cho nấm phát triển gọi là compost.
- Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong compost trồng nấm mỡ tối ưu gồm:
N (đạm)        2,2- 2,5%.
P (phot pho)    1,2- 2,5%.
Ca (Can xi)        2,5- 3,0%.
Tỷ lệ: C/N là:    14- 16/1
Lượng NH4 (amoniac):    < 0,1%.
w (độ ẩm):        65- 70%.

2. Thời vụ nuôi trồng nấm mỡ:

Nấm mỡ chủ yếu trồng ở các tỉnh phía Bắc, miền Nam nấm được trồng ở Đà Lạt. Vụ nấm kéo dài từ 15/10 năm trước tới 15/4 năm sau. Nhưng thời gian ủ rơm rạ chỉ giới hạn từ 15/10 đến 5/12 dương lịch hàng năm. Tốt nhất là ủ rơm rạ từ 15/10 đến 15/11. Nếu làm sớm hoặc làm muộn hơn sẽ gặp thời tiết không thuận lợi, dẫn đến năng suất thấp.

3. Xử lý nguyên liệu (chế biến compost- cơ chất) trồng nấm mỡ:

3.1. Công thức phối trộn nguyên liệu:
Công thức 1:
- Rơm rạ khô:    1.000kg.
- Đạm Urea:    5kg.
- Đạm sulfat amon (SA):20kg.
- Bột nhẹ (CaCO3)    30kg.
- Super lân (P2O5):    30kg.
Công thức 2:
- Rơm rạ khô:    1.000kg.
- Đạm Urea:    3kg.
- Phân gà khô:    150kg.
- Bột nhẹ (CaCO3)    30kg.
- Ở nước ta phần lớn lao động thủ công nên khi sử dụng công thức 2 phải chú ý vấn đề vệ sinh lao động.
- Có thể tăng, giảm lượng nguyên liệu chính là rơm rạ và các chất phụ gia điều chỉnh theo tỷ lệ của công thức nhưng đống ủ phải tối thiểu có từ 500kg rơm rạ mới đảm bảo quá trình lên men sinh nhiệt hữu hiệu.

3.2. Quy trình công nghệ xử lý nguyên liệu:
* Cách làm ướt rơm rạ:
- Rơm rạ khô được làm ướt trong nước vôi (theo tỷ lệ 1 tấn rơm rạ cần 10kg vôi đã tôi) bằng các cách sau:
+ Đổ nước vôi đã gạn trong vào bể khoảng 3,5 - 4kg vôi đã tôi cho 1m3 nước) ngâm rơm rạ chìm trong nước vôi 15 - 30 phút, vớt ra để ráo bớt nước rồi ủ đống.
+ Ngâm rơm rạ xuống ao hồ, kênh rạch,… vớt lên bờ cứ 1 lớp rơm rạ 20- 30cm lại tưới một lớp nước vôi (dùng ô doa tưới).
+ Rải rơm rạ ra sân bãi, phun nước trực tiếp bằng máy bơm hoặc ô doa trong nhiều giờ (kiểu mưa dầm) đến khi rơm rạ đủ ướt sẽ có màu nâu sẫm, lấy nước vôi tưới lên lượt cuối cùng và ủ đống.
+ Lợi dụng trời mưa, tung rơm rạ ra sân, tưới lại bằng nước vôi đợt cuối rồi ủ đống.
* Ủ đống và quá trình đảo ủ nguyên liệu:
- Khi rơm rạ đã được làm ướt theo các cách trên để róc nước hoàn toàn (12-24 giờ) bắt đầu chất đống ủ và tiến hành đảo ủ theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Quá trình đảo ủ nguyên liệu rơm rạ (compost) và các công đoạn nuôi trồng nấm mỡ.
- Quá trình ủ đống, đảo nguyên liệu và bổ sung hoá chất được tiến hành cụ thể như sau:
+ Sàn đống ủ có kệ lót cách mặt đất 15 - 20cm. Đống ủ ban đầu có kích thước: Rộng 1,5 - 1,6m; cao 1,6 - 1,8m; chiều dài tuỳ theo lượng rơm rạ (1 tấn có chiều dài 4,5m) cứ 1,5m  có 1 cọc thông khí. Thể tích ban đầu của đống ủ là khoảng 13 - 14m3/ 1 tấn rơm rạ. Làm theo cách này ta không phải cân..
- Khi chất đống ủ trộn đều đạm Ure với đạm sulfat amon (SA) cứ 1 lớp rơm rạ cao 30cm thì rắc 1 lớp phân đạm cho đều làm sao khi đủ rơm thì vừa hết đạm.
- Các lần đảo rơm sau theo thời gian và thứ tự bổ sung hoá chất như sơ đồ trên và tuân thủ các nguyên tắc.
+ Đảo đều nguyên liệu từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, rũ tơi rơm khi đảo ủ.
+ Ngày đầu có thể nén chặt rơm rạ, các lần đảo tiếp sau, khi chất rơm tuyệt đối không được nén để tạo độ thông thoáng cho đống ủ lên men tốt.
+ Mỗi lần đảo đều kiểm tra độ ẩm và chỉnh độ ẩm của rơm thật chuẩn. Nếu thấy nguyên liệu khô (vắt chặt không có nước chảy ra tay) cần bổ sung thêm nước, nguyên liệu quá ướt (vắt rơm có nước chảy thành dòng) cần phơi lại, sau đó mới ủ đống. Thường phải bổ sung thêm nước từ lần đảo thứ 3 trở đi.
+ Trời gió mạnh hoặc quá lạnh cần che phủ xung quanh đống ủ để giữ nhiệt và giữ ẩm trong đống ủ.
+ Nếu trời mưa to, ủ đống ngoài trời cần tạo mái đống ủ có hình mui rùa hoặc che đậy ở nóc để tránh nước mưa thấm sâu vào trong đống ủ.
+ Nền (đáy) đống ủ phải thoát nước tốt.
+ Nhiệt độ đống ủ phải đạt 75 - 80oC trong khoảng từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 7 sau khi ủ đống.
+ Khi kết thúc quá trình ủ đống (giai đoạn lên men chính) 14 - 16 ngày, compost đạt tiêu chuẩn: độ ẩm 65 - 70%, pH= 7 - 7,5, rơm rạ có màu nâu hạt dẻ, còn nguyên hình sợi rơm, có mùi dễ chịu và không còn mùi khai của amoniac. Nắm chặt, nguyên liệu dính vào nhau như cục đất sét, khi gỡ ra không bị nát vụn.

3.3. Lên men phụ và vào luống:
* Lên men phụ: Sau thời gian ủ đống 14 ngày và tiến hành đảo nguyên liệu 4 lần gọi là giai đoạn lên men chính, vi sinh vật trong đống ủ vẫn tiếp tục hoạt động và sinh nhiệt, gây mùn hoá. Lúc này ta phải tạo đống ủ thấp bằng một nửa đống cũ để nhiệt độ đống ủ giảm xuống, đây gọi là giai đoạn lên men phụ kéo dài 5 - 7 ngày. Khi nhiệt độ giảm xuống khoảng 28 - 30oC ta tiến hành đưa compost vào luống.
* Vào luống: Rũ tơi composts để bay hết hơi nóng, chỉnh độ ảm thật chuẩn (cầm một nắm rơm bóp chặt có nước rỉ ra ở kẽ ngón tay), xếp rơm thành từng lớp đứng liên tiếp có độ dày 12- 14cm (lớp thứ nhất), có độ chặt tương đối, bề mặt bằng phẳng. Phủ tiếp lên lớp thứ nhất một lớp rơm rạ đã ủ dày 3-4cm, ấn chặt vừa phải, (lớp thứ hai) lớp này để cấy giống nấm cho dễ. Trung bình 1 tấn rơm rạ khô sau khi vào luống được diện tích từ 40- 45m2.
- Trong nhà hoặc lán trồng nấm phải được vệ sinh nền tường, mái trước khi vào luống.
- Nếu là nền gạch, nền xi măng không cần lót nilon cần tưới ướt nền trước khi vào luống. Nền đất và trên giàn giá cần lót nilon (loại tái sinh) có thể đục lỗ để thoát nước.
- Bố trí luống nấm phải để lối đi và thuận tiện cho việc chăm sóc, thu hái nấm.
- Dùng vật liệu bằng gỗ, nan tre làm gờ chắn luống nấm hoặc đơn giản là dùng bùn để trát vào gờ luống để định hình và giữ ẩm cho luống nấm.

3.4. Cấy giống nấm mỡ:
- Giống nấm mỡ đựng trong túi nilon hoặc chai, trọng lượng trung bình khoảng 0,5kg/ 1 túi. Trước khi cấy giống cần:
+ Kiểm tra nhiệt độ luống nấm giảm xuống 28°C trở xuống thì mới được cấy giống. Nếu mặt luống bị khô thì tưới nước (0,2- 0,3 lít/m2) trước khi cấy giống ít nhất từ 4 - 6giờ.
+ Kiểm tra thật kỹ xem giống có bị nhiễm bệnh không. Túi giống bị chua hoặc mốc xanh, đen phải bỏ.
- Xé bao nilon, dùng tay bẻ  tơi các hạt giống rắc  đều trên bề mặt. Lượng giống cho 1m2 khoảng 300 - 350 gam. Lấy tay hoặc cào sắt (cào 5 răng dài 5cm) giũ nhẹ để các hạt giống lọt xuống dưới lớp rơm rạ từ 3- 4cm (lớp thứ hai khi vào luống). Sau đó dùng 1 lớp compost dày 2cm rắc đều, dùng tay hoặc mảnh gỗ ấn nhẹ, lấp phẳng bề mặt luống nấm, đảm bảo cho hạt giống đều nằm chìm và tiếp xúc tốt  với compost trồng nấm. Nếu cẩn thận và làm ít có thể dùng giấy báo đậy kín bề mặt luống nấm. Để sau 3-4 ngày bắt đầu tưới nước trực tiếp trên mặt báo (Không để đọng nước trên mặt báo phủ) hoặc tưới nhẹ lên lớp rơm rạ bảo vệ giống để giữ ẩm. Sau 12-15 ngày kể từ lúc cấy giống thì phải phủ đất.

3.5. Đất phủ và cách phủ đất:
- Nấm mỡ bắt buộc phải có lớp đất phủ trên bề mặt luống mới có nấm mọc.
- Đất phủ có kết cấu viên, dạng đất thịt nhẹ giàu chất hữu cơ (thường lấy ở tầng canh tác lúa, rau màu) có pH= 7 - 7,5; kích thước từ 0,3 - 1,5cm.
* Cách làm và phủ đất:
- Dùng cuốc, xẻng đập nhỏ đất, lấy sàng có nan thưa lắc nhẹ loại bỏ đất bột, vụn. Phần còn lại bằng hạt ngô trở lên (kích thước 0,3- 1,5cm) là được, đem phơi khô.
- Lượng đất phủ dày 2,0- 2,5cm; cần khoảng 25- 30 kg đất/ 1m2 luống nấm.
- Trước khi phủ đất thu nhặt lớp giấy báo, kiểm tra sợi nấm mọc đều trên mặt luống và ăn sâu vào cơ chất có màu trắng bạc như tàn thuốc lá là đủ điều kiện phủ đất. Nếu mặt luống khô, tưới nhẹ cho ẩm đều. Đổ nhẹ đất viên trên mặt luống, dùng tay hoặc bàn gạt san đều đất dày 2,5-3cm.
- Sau khi phủ đất xong trong khoảng 3- 4 ngày tưới nước nhiều lần đủ ẩm toàn bộ lớp đất phủ (bẻ viên đất không còn lõi trắng). Các ngày tiếp theo giảm lượng nước tưới, duy trì độ ẩm liên tục như đất gieo hạt rau cho tới khi nấm mọc (sau khi phủ đất  15- 20 ngày có nấm mọc bói) .

3.6. Chăm sóc và thu hái nấm mỡ:
- Nấm mỡ mọc quả thể rất phụ thuộc vào thời tiết, nhiệt độ các đợt gió mùa đông bắc. Mùa đông trời rét đậm, rét dài thì nấm mọc liên tục.
- Khi thấy nấm bắt đầu xuất hiện (có các chấm nhỏ màu trắng như hạt ngô) điều chỉnh lượng nước tưới theo mật độ và độ lớn cây nấm. Nấm ra càng nhiều, càng lớn thì lượng nước tưới cũng nhiều hơn. Tuỳ thuộc vào thời gian và thời tiết (nhiệt độ trong ngày, độ ẩm, tốc độ gió) để điều chỉnh hệ thống cửa ra vào và lượng nước tưới. Khi tưới phải tưới  ngửa vòi hoặc cao vòi cách mặt luống (40- 50cm) để không bị nát đất và ẩm đều, tưới đi tưới lại 2, 3 lần làm sao chỉ ẩm đất, không có nước thấm nhiều xuống lớp giá thể. Giai đoạn chăm sóc, thu hái cần chú ý:
* Thông thoáng:
- Thời kỳ nuôi sợi không cần nhiều O2 tự nhiên nên chỉ cần thông khí vừa phải. ngày mở cửa 2 lần, mỗi lần 15- 20 phút.
- Thời kỳ nấm mọc sử dụng nhiều O2 tự nhiên, nồng độ CO2 trong phòng trồng nấm lên cao. Tăng cường mở cửa nhiều lần trong ngày để điều hoà không khí.
- Khi nhiệt độ không khí thấp hơn nhiệt độ trong phòng cần thông thoáng để nhiệt độ phòng giảm xuống nhanh hơn. Khi nhiệt độ trong phòng tăng cao, thông thoáng kém thì nấm phát triển nhanh, cuống dài và nhỏ, mũ bé và nhanh nở xoè ô.
- Tưới nước không đủ (quá khô) nấm không lên khỏi mặt đất, cuống rất ngắn “gốc” phình to dạng củ, mũ lớn hơn bình thường, mọc lác đác.
- Độ ẩm không khí quá cao (độ ẩm bão hoà 100%) kéo dài liên tục nhiều ngày thì trong quả nấm có những vết đen, vi sinh vật và sâu bệnh xuất hiện nhiều.
- Lượng O2 không đủ nấm có dạng mũ bé, cuống to.
- Trao đổi không khí quá mạnh (gió lùa nhiều) nấm có màu vàng, mũ xuất hiện vảy.
* Hái nấm:
- Hái nấm trước khi nấm rách màng bao, đường kính mũ nấm từ 2,0-6,0cm, thích hợp cho việc bán tươi và chế biến.
- Dùng tay nhẹ nhàng xoáy quả nấm, lấy hết phần gốc và cuống nấm, dùng dao cắt ngang cuống nấm dài 0,5- 1cm. Nếu nấm mọc thành cụm thì nên hái cả cụm, tránh hái tỉa.
- Dừng tưới nước trước khi  hái từ 4- 5giờ để nấm không bị bẩn. Sau khi hái xong cần phải nhặt bỏ các gốc, “rễ già”, nấm nhỏ bị chết, bổ sung thêm đất phủ vào những nơi bị hao hụt do thu hái. Sau đó tưới nước như bình thường.
- Quá trình thu hái, chăm sóc kéo dài khoảng 2,0- 2,5 tháng thì kết thúc, nếu trời hết lạnh hoặc cơ chất hết dinh dưỡng thì hết nấm.
Thông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2018

Nấm đông cô có thể ngăn ngừa virus HPV

Nấm đông cô có thể ngăn ngừa virus HPV

Nấm không chỉ là thức ăn bổ dưỡng và ít calo mà chúng còn góp phần vào việc phòng chống ung thư do virus HPV gây ra ở nữ giới.

Virus gây u nhú ở người (HPV) là một loại virus phổ biến và rất dễ lây. Chúng lây nhiễm qua những vùng da mỏng như cổ tử cung, miệng hay cổ họng.

Hơn 3/4 phụ nữ đều nhiễm loại virus này và có thể nhiễm một số chủng của HPV gây ung thư cổ tử cung.

Theo nghiên cứu của Mỹ, các nhà khoa học đã tìm thấy hợp chất tương quan Hexoza (AHCC) có trong nấm đông cô. Được biết hợp chất này có thể ngăn ngừa các bệnh ung thư liên qua đến virus HPV.

Khi thử nghiệm trên chuột bạch, AHCC cho kết quả có thể diệt virus HPV trong vòng 90 ngày và giảm tốc độ tăng trưởng khối u cổ tử cung.

Giáo sư Tiến sĩ Judith Smith, Đại Học Y Khoa Texas cho biết: “AHCC rất có tiềm năng trong việc điều trị các bệnh lây nhiễm do virus HPV gây nên”.

Các nhà khoa học cũng cho biết, có thể sử dụng AHCC để điều chế thành thực phẩm bổ sung, sử dụng thay thế cho vắc xin ngừa HPV. Bởi AHCC hoạt động như một liệu pháp miễn dịch. Chúng sử dụng chính hệ thống miễn dịch của con người để chống lại bệnh.

Thông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969

Vị thuốc hay từ nấm hương

Vị thuốc hay từ nấm hương

Nấm hương, còn gọi là hương tín, hương tẩm, hương cô, đông cô… Theo quan niệm của y học cổ truyền, nấm hương vị ngọt tính bình, có công năng bổ tỳ ích khí, dưỡng huyết hòa huyết, tiêu đờm, chữa được bệnh sởi - đậu chẩn

Có nhiều cách dùng nấm hương, đơn giản nhất là ăn riêng nhưng thông thường người ta hay sử dụng nó như một thứ phụ trợ trong các món ăn được chế biến từ nhiều loại thực phẩm. Tuy nhiên việc lựa chọn và phối hợp nấm hương với các loại thức ăn khác cũng đòi hỏi phải có nguyên tắc nhất định theo quan điểm của dinh dưỡng học cổ truyền. Dưới đây là một số phương thuốc dùng nấm hương phối hợp điển hình.

Phương 1: Nấm hương 250g, mộc nhĩ đen 100g, thịt gà mái 500g. Nấm hương và mộc nhĩ ngâm nước cho nở hết rồi cắt bỏ chân, rửa sạch và thái chỉ. Thịt gà rửa sạch chặt miếng. Tất cả cho vào nồi, đổ một lượng nước vừa đủ, hầm nhừ bằng lửa nhỏ, chế thêm gia vị, ăn nóng. Phương này có công dụng kiện tỳ bổ thận, ích khí dưỡng huyết, có thể dùng để chữa các chứng bệnh có biểu hiện khí huyết suy nhược, mệt mỏi nhiều, mắt mờ, đầu choáng, mất ngủ, hay quên.

Phương 2: Nấm hương 200g, đậu tương 50g, dầu vừng và tỏi lượng vừa đủ. Nấm hương ngâm nước cho nở hết rồi cắt bỏ chân, rửa sạch. Ðậu tương ngâm nước rồi đãi bỏ vỏ. Tất cả cho vào nồi, đổ nước vừa đủ rồi hầm nhừ, chế thêm dầu vừng, tỏi đập giập và gia vị vừa đủ, ăn nóng. Phương này có tác dụng điều trị hỗ trợ cho trẻ em bị còi xương, người già bị loãng xương và chứng phù thũng.

Phương 3: Nấm hương 150g, chân giò lợn 1 cái, gia vị vừa đủ. Chân giò lợn làm sạch, chặt miếng rồi đem hầm nhừ. Tiếp đó cho nấm vào đun chín là được, chế thêm gia vị, ăn nóng. Phương này có tác dụng bồi bổ âm dương, kiện tỳ ích vị, dưỡng huyết, kích thích sự thèm ăn, tăng số lượng và chất lượng sữa ở phụ nữ cho con bú.

Phương 4:
Nấm hương 100g, bồ dục lợn 2 đôi, gia vị vừa đủ. Nấm hương ngâm nước cho nở hết rồi rửa sạch, cắt chân. Bồ dục lợn bổ đôi, ngâm nước lạnh 2 giờ, lọc bỏ gân trắng rồi thái miếng. Xào nấm và bồ dục lợn riêng rẽ, khi chín thì trộn cả hai vào nhau, chế thêm gia vị là được. Phương này có tác dụng bổ thận tráng dương, kích thích tiêu hóa. Thích hợp cho những người yếu sinh lý, hay đau lưng mỏi gối, ăn uống không ngon miệng.

Nấm hương tuy giàu dinh dưỡng, có tác dụng bồi bổ rất tốt nhưng không nên ăn quá nhiều, mỗi ngày chỉ nên ăn dưới 50g là tốt nhất. Những người tỳ vị hư hàn, đại tiện quá lỏng, quá nát không nên dùng.

Thông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969

Nấm Đông cô và các vị thuốc

Nấm Đông cô và các vị thuốc

Thành phần hoá học: Trong 100g nấm đã sấy khô có12,5g chất đạm, 1,6 g chất béo, 60g chất đường, 16mg can-xi, 240mg kali và 3,9g sắt, các vitamine


Nấm Đông Cô hay Nấm Hương (danh pháp khoa học: Lentinula edodes) là một loại nấm ăn có nguồc gốc bản địa ở Đông Á. Tiếng Anh và các ngôn ngữ châu Âu gọi nó theo tên tiếng Nhật, shiitake listen (trợ giúp·chi tiết) (kanji: 椎茸; có nghĩa "nấm shii", từ tên loại cây mà người ta trồng nấm này lên đó.

Nấm hương tên khoa học Lentinus edodes (Berk) thuộc họ nấm tán (polyporaceae). Gọi là nấm hương vì chúng có mùi thơm.

Cấu tạo : Nấm hương có một chân đính vào giữa tai nấm. Mặt trên tai nấm màu nâu, mặt dưới có nhiều bản mỏng xếp lại.

Nấm hương thuộc loại lâm sản quí, mọc hoang trong rừng ẩm mát các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái nguyên, Hoà Bình….

Bào tử nấm bay rất xa, bám vào các thân gỗ, nấm trên gỗ côm được xếp vào loại nhất.

Thành phần hoá học: Trong 100g nấm đã sấy khô có12,5g chất đạm, 1,6 g chất béo, 60g chất đường, 16mg can-xi, 240mg kali và 3,9g sắt, các vitamine

Nhờ hương vị đặc biệt thơm ngon, lại giàu chất dinh dưỡng, nấm trở thành nguồn thực phẩm ngày càng phổ biến trong đời sống ẩm thực. Theo các nhà y học, nấm chứa nhiều protein và các axit amin rất cần cho cơ thể con người. Ngoài ra, nấm còn chứa nhiều loại Vitamin (A, B, C, D, E...) và các chất kháng sinh, vi lượng cần thiết cho sự phát triển của cơ thể. Là loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhưng nấm không gây chứng xơ cứng động mạch và không làm tăng cholesterol trong máu như các loại thực phẩm nguồn gốc động vật.

Nếu trước đây, nấm chủ yếu được thu hái tự nhiên từ rừng, thì giờ đây nấm đã được trồng đại trà ở các hộ gia đình, các trang trại theo phương thức sản xuất hàng hóa. Công nghệ trồng nấm cũng được các Viện, các Trung tâm đầu tư nghiên cứu và đưa ra thành chuỗi quy trình khá đơn giản, dễ thực hiện. Từ gỗ mục, mùn cưa đến rơm rạ, bã mía, vỏ ngô,... đều có thể được tận dụng làm nguyên liệu để chế thành nguồn thức ăn “nuôi” nấm.

Trồng nấm hương thường phải chặt gỗ, tưới nước rồi cấy bào tử nấm vào. Người trồng nấm có thể chỉ cần mua các bịch chứa “thức ăn” đã cấy sẵn bào tử nấm về, đặt các bịch này lên giá đỡ và tưới nước sạch hàng ngày, sau một thời gian là được thu hoạch. Ngay cả nấm linh chi là loại nấm dược liệu quý, giờ đây cũng có thể được trồng đại trà theo công nghệ đơn giản này.

Từ các loại nấm hương, mộc nhĩ, nấm rơm, nấm sò, nấm mỡ,... có thể chế biến thành nhiều loại món ăn khác nhau, từ món súp khai vị, xào thập cẩm cho đến món nấm luộc đơn giản chấm tương gừng. Có nhiều món ăn mà trong đó nấm chỉ là thành phần nguyên liệu phụ nhưng lại tạo nên hương vị riêng rất hấp dẫn như: Tôm nõn xào nấm, lẩu hải sản - nấm hương, tim cật xào nấm tuyết, măng miến nấu với mộc nhĩ...

Trong y học, nấm được coi là loại dược phẩm quý có tác dụng bồi dưỡng cơ thể, tăng sức đề kháng. Nấm linh chi có xuất xứ từ các núi đá vùng Tây Tạng, Triều Tiên,... có tác dụng chống sự di căn của khối u, an thần; mộc nhĩ trắng có chất chống phóng xạ; nấm hương bổ gan; nấm vân chi chống ung thư...

Các hoạt chất dược liệu của nấm dễ tinh chế, chiết suất. Trường hợp sử dụng nấm đơn giản trong các bữa ăn hàng ngày, các hoạt chất này vẫn phát huy tác dụng. Nấm hương từ xưa được coi là “món ăn vị thuốc” quí vì ăn thường xuyên nấm hương sẽ làm tăng sức đề kháng, tốt cho gan và đặc biệt là làm giảm cholesterol trong máu.

Còn gan nhiễm mỡ? Nếu gan nhiễm mỡ do rượu, do hút thuốc lá thường xuyên thì nấm gì cũng chào thua. Nếu gan đã bị nhiễm siêu vi B,C, các tế bào gan đã bị suy yếu, bị bọc mỡ thì ăn nấm là cách thay đạm động vật bằng đạm thực vật để gan không bị quá tải.

Thông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969

Nấm Đông cô giúp cải thiện chức năng miễn dịch

Nấm Đông cô giúp cải thiện chức năng miễn dịch

Nấm đông cô, hay còn gọi là nấm hương rất tốt cho chúng ta, và các sản phẩm phụ từ nấm đông cô có thể hữu ích cho các cây trồng khác nữa.


Những loại nấm này có chứa chất polysaccharide có phân tử lượng cao (HNWP), và chất này đã được một vài cuộc nghiên cứu chứng minh rằng, nó có thể cải thiện chức năng miễn dịch ở người. Một cuộc nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng, chất eritadenine trong nấm đông cô có thể giúp làm giảm lượng cholesterol.

Nhà nông học David Brauer thuộc Sở Nông nghiệp Hoa Kỳ (ARS) đang nghiên cứu việc sản xuất nấm đông cô tại trung tâm nghiên cứu của sở ở Booneville, Ark. Cộng tác cùng các nhà sản xuất tại trung tâm nghiên cứu nấm đông cô ở Shirley, Ark, Brauer đánh giá xem liệu nấm đông cô mọc ở gỗ có lượng HMWP cao hơn nấm mọc ở trang trại hay không.

Nhóm nghiên cứu đã ghép các khúc gỗ với các bào tử từ 3 loại nấm đông cô khác nhau và so sánh sản lượng của nó với sản lượng nấm đông cô được trồng ở trang trại. Họ nhận thấy rằng, nấm mọc ở gỗ có lượng HMWP cao hơn nấm được trồng ở trang trại khoảng 70%.

Nhóm nghiên cứu còn quan sát thấy rằng, nấm đông cô mọc ở những khúc gỗ cây sồi màu đỏ và trắng có lượng HMWP cao hơn nấm đông cô mọc ở những khúc gỗ có nhựa cây.

Nấm đông cô mọc ở các khúc gỗ đặc biệt có các hợp chất có thể cải thiện chức năng miễn dịch ở người cao hơn các loại nấm đông cô mọc ở các trang trại.

Những khúc gỗ được dùng trong sản xuất nấm đông cô thường cho năng suất cao khoảng từ 2 đến 3 năm. Các nông trại trồng nấm đông cô lớn hơn có thể có trên 3.000 khúc gỗ và bỏ đi khoảng 1.000 khúc gỗ mỗi năm.

Không để lãng phí những khúc gỗ đã được sử dụng đó, nhóm của Brauer đã đập vụn các khúc gỗ này ra, cho thêm phân ure và vỏ bào từ các cây thân cỏ vào, sau đó trộn hỗn hợp này lại thành 1 loại phân trộn. Họ nhận thấy rằng, lượng Nitơ trong loại phân trộn này có thể sánh cùng lượng Nitơ có trong các chất cải tạo đất được mua ở ngoài thị trường.

Các nhà nghiên cứu đã sử dụng phân trộn từ gỗ này để cải tạo đất trong hệ thống trồng rau nhà kính và nhận thấy rằng, các cây trồng từ hạt có tốc độ phát triển nhanh hơn những cây được trồng ở đất không được cải tạo. Sử dụng phân trộn được tái chế cũng là 1 cách để người trồng nấm tăng lợi nhuận.

Thông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2018

Nấm mỡ và những công dụng bất ngờ với sức khỏe

Nấm mỡ và những công dụng bất ngờ với sức khỏe

Nẫm mỡ là một loại nấm ăn được có công dụng tuyệt vời về mặt y học với sức khỏe con người. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có sản phẩm y dược nào có chiết xuất từ loại nấm này. Nấm được sử dụng phổ biến dưới dạng thực phẩm.

Công dụng của nấm mỡ


Theo các tài liệu y học cổ truyền, nấm mỡ vị ngọt, tính mát, có công dụng bổ tỳ ích khí, nhuận phế hoá đàm, tiêu thực lý khí, rất thích hợp cho những người chán ăn mệt mỏi do tỳ vị hư yếu, sản phụ thiếu sữa, viêm phế quản mạn tính, viêm gan mạn tính, hội chứng suy giảm bạch cầu… Sách Bản thảo cương mục viết nấm mỡ có tác dụng “ích tràng vị, hoá đàm lý khí”.

Các nghiên cứu dinh dưỡng hiện đại thì khẳng định: nấm mỡ có khả năng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn thương hàn và trực khuẩn coli. Nhiều năm trở lại đây, người ta cũng đã nhận thấy việc dùng nấm mỡ làm thức ăn hàng ngày hoặc thường xuyên uống nước sắc loại nấm này khả năng trị liệu viêm gan mạn tính và chứng giảm thiểu bạch cầu. Ngoài ra, nấm mỡ còn có công dụng làm giảm đường máu, hạ nồng độ cholesterol trong huyết thanh và cải thiện chức năng tuyến tuỵ. Bởi vậy, nấm mỡ được đánh giá là một trong những thực phẩm thích hợp dành cho người bị bệnh tim mạch, đái đường, ung thư hay mắc các bệnh lý về tuyến tuỵ.

Các món ăn chế biến từ nấm mỡ

Nẫm mỡ có những công dụng tuyệt với về mặt y học với sức khỏe con người. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có sản phẩm y dược nào có chiết xuất từ loại nấm này. Nấm được sử dụng phổ biến dưới dạng thực phẩm. Dưới đây là 4 công thức chế biến món ăn từ nấm mỡ thành thức ăn, ngon miệng và có lợi cho sức khỏe con người.

Công thức 1:  Nấm mỡ xào ếch.

Chuẩn bị  200g nấm mỡ, đùi ếch 100g, hành, gừng tươi, tỏi, hạt tiêu, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Đùi ếch lột da, rửa sạch, chiên non qua dầu; nấm mỡ thái đôi, chần qua nước sôi, để ráo nước. Phi hành tỏi cho thơm rồi xào lẫn đùi ếch với nấm, chế đủ gia vị, ăn nóng. Công dụng: Ích vị kiện tỳ, lý khí hoá đàm, thanh nhiệt lợi niệu.

Công thức 2: Nấm mỡ xào tôm

Nấm mỡ 200g, tôm tươi 500g, cà rốt, măng củ, hành, gừng tươi, dầu thực vật, bột đao và gia vị vừa đủ. Nấm rửa sạch, thái đôi hoặc thái miếng vừa ăn, chần qua nước sôi, để ráo nước; tôm bóc vỏ, bỏ đầu, rửa sạch, ướp nước gừng và gia vị; cà rốt và măng củ rửa sạch, thái mỏng. Phi hành cho thơm rồi xào lẫn tôm với cà rốt và măng trước, kế đó cho nấm vào, đun to lửa một lát là được, chế đủ gia vị. Công dụng: Bổ thận tráng dương, kiện tỳ ích vị, hoá đàm tiêu thực.

Công thức 3: Nẫm mỡ hầm đậu phụ

Nấm mỡ 150g, đậu phụ 300g, măng củ 100g, nước dùng (nước luộc gà hoặc nước ninh sườn) 200ml, hành, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Nấm rửa sạch, bổ đôi, chần qua nước sôi; măng thái mỏng; đậu phụ xắt miếng vừa ăn. Tất cả cho vào nồi, chế đủ gia vị, đổ nước dùng vào đun sôi khoảng 10 phút là được. Công dụng: Kiện tỳ ích vị, sinh tân nhuận táo, thanh nhiệt giải độc.

Công thức 4: Nấm mỡ xào lòng non

Nấm mỡ 350g, lòng non lợn 500g, hành, tỏi, gừng tươi, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Lòng non làm sạch, thái khúc chừng 2cm, gừng thái phiến, hai thứ cho vào nồi áp suất đun trong 2 phút rồi lấy ra, để ráo nước; nấm mỡ rửa sạch, thái đôi, chần qua nước sôi. Phi hành tỏi cho thơm rồi xào nấm với lòng non, chế đủ gia vị, ăn nóng. Công dụng: Kiện vị tiêu thực, lý khí hoá đàm, thanh tràng chỉ huyết.

Trên đây là 4 công thức chế biến thức ăn đơn giản và bổ cho sức khỏe. Tuy nhiên, có một điều cần phải lưu ý khi sử dụng nấm mỡ là: loại nấm này dễ gây dị ứng. Nên những người mẫn cảm với nấm thì không nên dùng. Hoặc khi dùng nấm thì phải hết sức cẩn thận.

Kỹ thuật trồng nấm mỡ tại nhà

Kỹ thuật trồng nấm mỡ tại nhà

Nấm mỡ có nguồn gốc từ những nước có khí hậu ôn đới. Quả thể nấm gồm cuống nấm và mũ nấm. Mũ nấm có màu trắng, đường kính từ 3- 8,0cm.


1.1. Tên gọi và vị trí phân loại:

- Tên khoa học: Agaricus bisporus; A. bitorquis.
- Tên tiếng Anh - thương mại: Button mushroom; White mushroom, Champignon de Paris.
- Tên khác: Nấm trứng, Nấm trắng, Nấm búp, Nấm khuy.
- Nấm mỡ thuộc chi Agaricaceae, bộ Agaricales, lớp Hymenomycetes, ngành phụ Basidiomycotina, ngành Nấm thật- Eumycota, giới Nấm- Mycota.
- Nấm mỡ nuôi trồng ở nước ta chủ yếu là loài Agaricus bisporus, ngoài ra còn có các chủng A. bitorquis, A. blazei (có màu nâu). Nấm mỡ được nuôi trồng đầu tiên ở Pháp (1650) ở Việt Nam được nuôi trồng vào những năm 80 của thế kỷ trước.

1.2. Đặc tính sinh học của nấm mỡ:

- Nấm mỡ có nguồn gốc từ những nước có khí hậu ôn đới. Quả thể nấm gồm cuống nấm và mũ nấm. Mũ nấm có màu trắng, đường kính từ 3- 8,0cm. Khi cây nấm trưởng thành, màng bao phía dưới bị rách nấm xoè như chiếc ô, các bào tử nấm mầu nâu sẫm phát tán ra ngoài. Trong điều kiện tự nhiên gặp môi trường thuận lợi các bào tử nảy mầm thành hệ sợi sơ cấp và kết với nhau thành sợi thứ cấp. Sợi thứ cấp tích luỹ đủ dinh dưỡng hình thành quả thể và chu kỳ mới lại bắt đầu.
- Nhiệt độ thích hợp trong giai đoạn nuôi tơ là 24 - 25°C, giai đoạn ra nấm cần nhiệt độ từ 15 - 18°C.
- Độ ẩm trong cơ chất (nguyên liệu compost) từ 65 - 70%. Độ ẩm không khí > 80%.
- pH của môi trường nuôi trồng cũng như nước tưới bằng 7,0 - 8,0 (trung tính hoặc kiềm yếu).
- Ánh sáng: không cần thiết cả giai đoạn nuôi sợi và quả thể.
- Độ thông thoáng vừa phải nồng độ CO2 < 0,1%.
- Dinh dưỡng: nấm mỡ không sử dụng Cellulose trực tiếp mà sử dụng thức ăn  là bã “mục thứ cấp” nên ta phải có quá trình xử lý nguyên liệu và phối trộn thêm các phụ gia (phân hữu cơ, phân vô cơ) để tạo môi trường thích hợp nhất cho nấm phát triển gọi là compost.
- Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong compost trồng nấm mỡ tối ưu gồm:
N (đạm)        2,2- 2,5%.
P (phot pho)    1,2- 2,5%.
Ca (Can xi)        2,5- 3,0%.
Tỷ lệ: C/N là:    14- 16/1
Lượng NH4 (amoniac):    < 0,1%.
w (độ ẩm):        65- 70%.

2. Thời vụ nuôi trồng nấm mỡ:

Nấm mỡ chủ yếu trồng ở các tỉnh phía Bắc, miền Nam nấm được trồng ở Đà Lạt. Vụ nấm kéo dài từ 15/10 năm trước tới 15/4 năm sau. Nhưng thời gian ủ rơm rạ chỉ giới hạn từ 15/10 đến 5/12 dương lịch hàng năm. Tốt nhất là ủ rơm rạ từ 15/10 đến 15/11. Nếu làm sớm hoặc làm muộn hơn sẽ gặp thời tiết không thuận lợi, dẫn đến năng suất thấp.

3. Xử lý nguyên liệu (chế biến compost- cơ chất) trồng nấm mỡ:

3.1. Công thức phối trộn nguyên liệu:
Công thức 1:
- Rơm rạ khô:    1.000kg.
- Đạm Urea:    5kg.
- Đạm sulfat amon (SA):20kg.
- Bột nhẹ (CaCO3)    30kg.
- Super lân (P2O5):    30kg.
Công thức 2:
- Rơm rạ khô:    1.000kg.
- Đạm Urea:    3kg.
- Phân gà khô:    150kg.
- Bột nhẹ (CaCO3)    30kg.
- Ở nước ta phần lớn lao động thủ công nên khi sử dụng công thức 2 phải chú ý vấn đề vệ sinh lao động.
- Có thể tăng, giảm lượng nguyên liệu chính là rơm rạ và các chất phụ gia điều chỉnh theo tỷ lệ của công thức nhưng đống ủ phải tối thiểu có từ 500kg rơm rạ mới đảm bảo quá trình lên men sinh nhiệt hữu hiệu.

3.2. Quy trình công nghệ xử lý nguyên liệu:
* Cách làm ướt rơm rạ:
- Rơm rạ khô được làm ướt trong nước vôi (theo tỷ lệ 1 tấn rơm rạ cần 10kg vôi đã tôi) bằng các cách sau:
+ Đổ nước vôi đã gạn trong vào bể khoảng 3,5 - 4kg vôi đã tôi cho 1m3 nước) ngâm rơm rạ chìm trong nước vôi 15 - 30 phút, vớt ra để ráo bớt nước rồi ủ đống.
+ Ngâm rơm rạ xuống ao hồ, kênh rạch,… vớt lên bờ cứ 1 lớp rơm rạ 20- 30cm lại tưới một lớp nước vôi (dùng ô doa tưới).
+ Rải rơm rạ ra sân bãi, phun nước trực tiếp bằng máy bơm hoặc ô doa trong nhiều giờ (kiểu mưa dầm) đến khi rơm rạ đủ ướt sẽ có màu nâu sẫm, lấy nước vôi tưới lên lượt cuối cùng và ủ đống.
+ Lợi dụng trời mưa, tung rơm rạ ra sân, tưới lại bằng nước vôi đợt cuối rồi ủ đống.
* Ủ đống và quá trình đảo ủ nguyên liệu:
- Khi rơm rạ đã được làm ướt theo các cách trên để róc nước hoàn toàn (12-24 giờ) bắt đầu chất đống ủ và tiến hành đảo ủ theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Quá trình đảo ủ nguyên liệu rơm rạ (compost) và các công đoạn nuôi trồng nấm mỡ.
- Quá trình ủ đống, đảo nguyên liệu và bổ sung hoá chất được tiến hành cụ thể như sau:
+ Sàn đống ủ có kệ lót cách mặt đất 15 - 20cm. Đống ủ ban đầu có kích thước: Rộng 1,5 - 1,6m; cao 1,6 - 1,8m; chiều dài tuỳ theo lượng rơm rạ (1 tấn có chiều dài 4,5m) cứ 1,5m  có 1 cọc thông khí. Thể tích ban đầu của đống ủ là khoảng 13 - 14m3/ 1 tấn rơm rạ. Làm theo cách này ta không phải cân..
- Khi chất đống ủ trộn đều đạm Ure với đạm sulfat amon (SA) cứ 1 lớp rơm rạ cao 30cm thì rắc 1 lớp phân đạm cho đều làm sao khi đủ rơm thì vừa hết đạm.
- Các lần đảo rơm sau theo thời gian và thứ tự bổ sung hoá chất như sơ đồ trên và tuân thủ các nguyên tắc.
+ Đảo đều nguyên liệu từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, rũ tơi rơm khi đảo ủ.
+ Ngày đầu có thể nén chặt rơm rạ, các lần đảo tiếp sau, khi chất rơm tuyệt đối không được nén để tạo độ thông thoáng cho đống ủ lên men tốt.
+ Mỗi lần đảo đều kiểm tra độ ẩm và chỉnh độ ẩm của rơm thật chuẩn. Nếu thấy nguyên liệu khô (vắt chặt không có nước chảy ra tay) cần bổ sung thêm nước, nguyên liệu quá ướt (vắt rơm có nước chảy thành dòng) cần phơi lại, sau đó mới ủ đống. Thường phải bổ sung thêm nước từ lần đảo thứ 3 trở đi.
+ Trời gió mạnh hoặc quá lạnh cần che phủ xung quanh đống ủ để giữ nhiệt và giữ ẩm trong đống ủ.
+ Nếu trời mưa to, ủ đống ngoài trời cần tạo mái đống ủ có hình mui rùa hoặc che đậy ở nóc để tránh nước mưa thấm sâu vào trong đống ủ.
+ Nền (đáy) đống ủ phải thoát nước tốt.
+ Nhiệt độ đống ủ phải đạt 75 - 80oC trong khoảng từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 7 sau khi ủ đống.
+ Khi kết thúc quá trình ủ đống (giai đoạn lên men chính) 14 - 16 ngày, compost đạt tiêu chuẩn: độ ẩm 65 - 70%, pH= 7 - 7,5, rơm rạ có màu nâu hạt dẻ, còn nguyên hình sợi rơm, có mùi dễ chịu và không còn mùi khai của amoniac. Nắm chặt, nguyên liệu dính vào nhau như cục đất sét, khi gỡ ra không bị nát vụn.

3.3. Lên men phụ và vào luống:
* Lên men phụ: Sau thời gian ủ đống 14 ngày và tiến hành đảo nguyên liệu 4 lần gọi là giai đoạn lên men chính, vi sinh vật trong đống ủ vẫn tiếp tục hoạt động và sinh nhiệt, gây mùn hoá. Lúc này ta phải tạo đống ủ thấp bằng một nửa đống cũ để nhiệt độ đống ủ giảm xuống, đây gọi là giai đoạn lên men phụ kéo dài 5 - 7 ngày. Khi nhiệt độ giảm xuống khoảng 28 - 30oC ta tiến hành đưa compost vào luống.
* Vào luống: Rũ tơi composts để bay hết hơi nóng, chỉnh độ ảm thật chuẩn (cầm một nắm rơm bóp chặt có nước rỉ ra ở kẽ ngón tay), xếp rơm thành từng lớp đứng liên tiếp có độ dày 12- 14cm (lớp thứ nhất), có độ chặt tương đối, bề mặt bằng phẳng. Phủ tiếp lên lớp thứ nhất một lớp rơm rạ đã ủ dày 3-4cm, ấn chặt vừa phải, (lớp thứ hai) lớp này để cấy giống nấm cho dễ. Trung bình 1 tấn rơm rạ khô sau khi vào luống được diện tích từ 40- 45m2.
- Trong nhà hoặc lán trồng nấm phải được vệ sinh nền tường, mái trước khi vào luống.
- Nếu là nền gạch, nền xi măng không cần lót nilon cần tưới ướt nền trước khi vào luống. Nền đất và trên giàn giá cần lót nilon (loại tái sinh) có thể đục lỗ để thoát nước.
- Bố trí luống nấm phải để lối đi và thuận tiện cho việc chăm sóc, thu hái nấm.
- Dùng vật liệu bằng gỗ, nan tre làm gờ chắn luống nấm hoặc đơn giản là dùng bùn để trát vào gờ luống để định hình và giữ ẩm cho luống nấm.

3.4. Cấy giống nấm mỡ:
- Giống nấm mỡ đựng trong túi nilon hoặc chai, trọng lượng trung bình khoảng 0,5kg/ 1 túi. Trước khi cấy giống cần:
+ Kiểm tra nhiệt độ luống nấm giảm xuống 28°C trở xuống thì mới được cấy giống. Nếu mặt luống bị khô thì tưới nước (0,2- 0,3 lít/m2) trước khi cấy giống ít nhất từ 4 - 6giờ.
+ Kiểm tra thật kỹ xem giống có bị nhiễm bệnh không. Túi giống bị chua hoặc mốc xanh, đen phải bỏ.
- Xé bao nilon, dùng tay bẻ  tơi các hạt giống rắc  đều trên bề mặt. Lượng giống cho 1m2 khoảng 300 - 350 gam. Lấy tay hoặc cào sắt (cào 5 răng dài 5cm) giũ nhẹ để các hạt giống lọt xuống dưới lớp rơm rạ từ 3- 4cm (lớp thứ hai khi vào luống). Sau đó dùng 1 lớp compost dày 2cm rắc đều, dùng tay hoặc mảnh gỗ ấn nhẹ, lấp phẳng bề mặt luống nấm, đảm bảo cho hạt giống đều nằm chìm và tiếp xúc tốt  với compost trồng nấm. Nếu cẩn thận và làm ít có thể dùng giấy báo đậy kín bề mặt luống nấm. Để sau 3-4 ngày bắt đầu tưới nước trực tiếp trên mặt báo (Không để đọng nước trên mặt báo phủ) hoặc tưới nhẹ lên lớp rơm rạ bảo vệ giống để giữ ẩm. Sau 12-15 ngày kể từ lúc cấy giống thì phải phủ đất.

3.5. Đất phủ và cách phủ đất:
- Nấm mỡ bắt buộc phải có lớp đất phủ trên bề mặt luống mới có nấm mọc.
- Đất phủ có kết cấu viên, dạng đất thịt nhẹ giàu chất hữu cơ (thường lấy ở tầng canh tác lúa, rau màu) có pH= 7 - 7,5; kích thước từ 0,3 - 1,5cm.
* Cách làm và phủ đất:
- Dùng cuốc, xẻng đập nhỏ đất, lấy sàng có nan thưa lắc nhẹ loại bỏ đất bột, vụn. Phần còn lại bằng hạt ngô trở lên (kích thước 0,3- 1,5cm) là được, đem phơi khô.
- Lượng đất phủ dày 2,0- 2,5cm; cần khoảng 25- 30 kg đất/ 1m2 luống nấm.
- Trước khi phủ đất thu nhặt lớp giấy báo, kiểm tra sợi nấm mọc đều trên mặt luống và ăn sâu vào cơ chất có màu trắng bạc như tàn thuốc lá là đủ điều kiện phủ đất. Nếu mặt luống khô, tưới nhẹ cho ẩm đều. Đổ nhẹ đất viên trên mặt luống, dùng tay hoặc bàn gạt san đều đất dày 2,5-3cm.
- Sau khi phủ đất xong trong khoảng 3- 4 ngày tưới nước nhiều lần đủ ẩm toàn bộ lớp đất phủ (bẻ viên đất không còn lõi trắng). Các ngày tiếp theo giảm lượng nước tưới, duy trì độ ẩm liên tục như đất gieo hạt rau cho tới khi nấm mọc (sau khi phủ đất  15- 20 ngày có nấm mọc bói) .

3.6. Chăm sóc và thu hái nấm mỡ:
- Nấm mỡ mọc quả thể rất phụ thuộc vào thời tiết, nhiệt độ các đợt gió mùa đông bắc. Mùa đông trời rét đậm, rét dài thì nấm mọc liên tục.
- Khi thấy nấm bắt đầu xuất hiện (có các chấm nhỏ màu trắng như hạt ngô) điều chỉnh lượng nước tưới theo mật độ và độ lớn cây nấm. Nấm ra càng nhiều, càng lớn thì lượng nước tưới cũng nhiều hơn. Tuỳ thuộc vào thời gian và thời tiết (nhiệt độ trong ngày, độ ẩm, tốc độ gió) để điều chỉnh hệ thống cửa ra vào và lượng nước tưới. Khi tưới phải tưới  ngửa vòi hoặc cao vòi cách mặt luống (40- 50cm) để không bị nát đất và ẩm đều, tưới đi tưới lại 2, 3 lần làm sao chỉ ẩm đất, không có nước thấm nhiều xuống lớp giá thể. Giai đoạn chăm sóc, thu hái cần chú ý:
* Thông thoáng:
- Thời kỳ nuôi sợi không cần nhiều O2 tự nhiên nên chỉ cần thông khí vừa phải. ngày mở cửa 2 lần, mỗi lần 15- 20 phút.
- Thời kỳ nấm mọc sử dụng nhiều O2 tự nhiên, nồng độ CO2 trong phòng trồng nấm lên cao. Tăng cường mở cửa nhiều lần trong ngày để điều hoà không khí.
- Khi nhiệt độ không khí thấp hơn nhiệt độ trong phòng cần thông thoáng để nhiệt độ phòng giảm xuống nhanh hơn. Khi nhiệt độ trong phòng tăng cao, thông thoáng kém thì nấm phát triển nhanh, cuống dài và nhỏ, mũ bé và nhanh nở xoè ô.
- Tưới nước không đủ (quá khô) nấm không lên khỏi mặt đất, cuống rất ngắn “gốc” phình to dạng củ, mũ lớn hơn bình thường, mọc lác đác.
- Độ ẩm không khí quá cao (độ ẩm bão hoà 100%) kéo dài liên tục nhiều ngày thì trong quả nấm có những vết đen, vi sinh vật và sâu bệnh xuất hiện nhiều.
- Lượng O2 không đủ nấm có dạng mũ bé, cuống to.
- Trao đổi không khí quá mạnh (gió lùa nhiều) nấm có màu vàng, mũ xuất hiện vảy.
* Hái nấm:
- Hái nấm trước khi nấm rách màng bao, đường kính mũ nấm từ 2,0-6,0cm, thích hợp cho việc bán tươi và chế biến.
- Dùng tay nhẹ nhàng xoáy quả nấm, lấy hết phần gốc và cuống nấm, dùng dao cắt ngang cuống nấm dài 0,5- 1cm. Nếu nấm mọc thành cụm thì nên hái cả cụm, tránh hái tỉa.
- Dừng tưới nước trước khi  hái từ 4- 5giờ để nấm không bị bẩn. Sau khi hái xong cần phải nhặt bỏ các gốc, “rễ già”, nấm nhỏ bị chết, bổ sung thêm đất phủ vào những nơi bị hao hụt do thu hái. Sau đó tưới nước như bình thường.
- Quá trình thu hái, chăm sóc kéo dài khoảng 2,0- 2,5 tháng thì kết thúc, nếu trời hết lạnh hoặc cơ chất hết dinh dưỡng thì hết nấm.

Những điều cần biết về Nấm ăn

Những điều cần biết về Nấm ăn

Trong các vi sinh vật có ích được lợi dụng nhiều nhất, gần gũi với con người nhất phải kể đến nấm (Fungi). Nấm là một loài sinh vật nhân thật không có chất diệp lục, dị dưỡng. Trong hệ thống phân loại gần đây sinh vật được xếp thành 5 giới, nấm được xếp vào giới thứ 3, ngang với thực vật và động vật.


Tuyệt đại bộ phận nấm được cấu tạo bởi các sợi nấm (hyphae). Sợi nấm có dạng ống, chứa đầy tế bào chất và dịch bào. Sợi nấm có 2 loại, một loại không có vách ngăn, nhiều nhân, một loại có vách ngăn, trên màng vách ngăn có lỗ thông để truyền thông tin và trao đổi chất. Phần lớn chúng có vách tế bào. Vách tế bào của một số nấm bậc thấp có thành phần chủ yếu là xenluloza, của nấm bậc cao lại chứa kitin. Có loài nấm chứa cả hai loại. Thành phần vách tế bào rất phức tạp, chúng có thể khác nhau tùy theo loại nấm, giai đoạn phát triển và điều kiện môi trường. Vách tế bào của một số loài nấm chứa rất nhiều chất trao đổi, làm cho sợi nấm có các màu sắc khác nhau tạo nên thể nấm hoặc quần thể nấm có các màu sắc khác nhau. Sợi nấm có đặc điểm sinh trưởng về phía ngọn, phân nhánh. Sợi nấm trong nhiều năm có thể tiếp xúc với nhau hình thành một khối gọi là thể sợi nấm (mycelium). Thể sợi nấm có thể do phân nhánh mà hình thành kết cấu dạng lưới mắt thường có thể thấy được gọi là bó nấm hình rễ (rhizomorphs), hoặc thành hạch nấm (selerotium) hoặc về sau phát dục thành cơ quan chứa bào tử gọi là thể quả (fruit body). Thể quả có nhiều dạng khác nhau: dạng tán, dạng cục, dạng nhiều lỗ dạng cổ ngựa… Tất cả kết cấu đó cũng giống như thể sợi nấm có thể tồn tại tạm thời hoặc lâu dài và những sợi nấm cấu tạo nên chúng có thể biểu hiện sự khác nhau ở mức độ phân hóa về kết cấu và chức năng.

Sự tích lũy các hợp chất trong thể sợi nấm và các chất trao đổi trong các loài nấm rất khác nhau thể hiện tính đa dạng các loài nấm, nhưng sản phẩm tích lũy ban đầu là sản phẩm phân giải hợp chất cacbon, chủ yếu có các axit hữu cơ và các chất khác, đặc biệt là các chất ethanol với axit citric, axit omithuric, axit fumaric. Đường glucoza lên men thành bã rượu là đặc tính sinh học chung của nhiều loài nấm và nấm men. Loại sản phẩm thứ hai là vật trao đổi sơ cấp, chúng phân bố rất rộng có tác dụng duy trì sinh trưởng và kết cấu tế bào. Những chất này có được là do tổng hợp các chất là sản phẩm trao đổi trong quá trình phân giải hợp chất cacbon như các axit amin và protein, axit lipoic, polysacharit. Loại sản phẩm thứ ba là vật trao đổi thứ cấp được sản sinh từ vật trao đổi sơ cấp bằng các con đường khác nhau, chúng chỉ có một số chất như carotenoid, sterol, gibberelin, biotin, chất kháng sinh và chất độc của nấm. Ba loại sản phẩm trên khác nhau về hàm lượng và chủng loại tuỳ theo các loài nấm, môi trường sinh trưởng và thời kỳ phát triển khác nhau.

Nấm ăn là một loại nấm có thể quả lớn cung cấp nguồn thực phẩm cho con người, được nhân dân ta sử dụng từ lâu. Trong thiên nhiên có hàng trăm loài, nhưng sản xuất nấm ăn theo quy trình công nghiệp mới chỉ có 20 loài.

Hầu hết chúng thuộc ngành phụ nấm đảm và một phần thuộc ngành phụ nấm túi. Chúng thường mọc trên cây khô, cây đổ, gốc chặt, trên mặt đất, lùm cỏ, lá cành mục. Có loài mọc đơn lẻ, có loài mọc thành cụm, thành đám. Có loài mọc trên thân cây, có loài sống cộng sinh với rễ cây, có loài mọc trên đất thành từng đám lớn. Đặc biệt là vào mùa hè thu chúng có nhiều đặc trưng hình dạng, màu sắc kích thước khác nhau và tạo nên tính đa dạng của nấm.

Giá trị dinh dưỡng của nấm ăn

Giá trị dinh dưỡng của nấm ăn

Nấm ăn không chỉ ăn ngon mà dinh dưỡng rất phong phú, hàm lượng protein cao hơn bất cứ một loại rau nào

Ngoài ra còn có các chất đường, lipit, chất khoáng, vitamin và các axit amin, trong đó protein và axit amin là những chất cần thiết cho con người. Theo phân tích nấm ăn của nhiều nhà nấm học, trong nấm mỡ có 17 axit amin, nấm hương có 18 axit amin mà trong các loài rau không thể có được. Hàm lượng protein trong nấm chiếm 30-50% (trọng lượng khô hoặc 3-5% trọng lượng tươi), gấp 2 lần rau cải, 4 lần quýt, 12 lần táo.

Nấm ăn có nhiều loại vitamin. Nấm mỡ có 8 loại, trong đó vitamin c và pp khá cao; trong nấm hương hàm lượng vitamin D có 40 ngàn đơn vị trong 100g; nấm mối và nấm vòng mật có nhiều vitamin A. Chúng đều rất cần thiết cho cuộc sống con người.

Trong nấm ăn tổng lượng lipit thấp hơn thịt gà, thịt lợn và bia; axit lipoic không bão hoà chiếm 74-83%. Cho nên nấm ăn là một loại thức ăn làm giảm béo.

Những thực phẩm có lượng protein cao, nhiều loại vitamin, lipit thấp như nấm là thức ăn lý tưởng cho con người.

Ngoài việc cung cấp thực phẩm, một số loài còn có giá trị làm thuốc chữa bệnh. Nấm hương ăn ngon còn có tác dụng bổ huyết, trừ phong, chữa đậu mùa trẻ em, mẩn ngứa…những nghiên cứu gần đây cho thấy nấm hương chứa vitamin pp chữa bệnh sùi da, tăng sức đề kháng cho cơ thể, chữa huyết áp cao, giảm cholesterol. Nhiều loài nấm chứa polysacharit nâng cao khả năng ức chế u bướu; một số loài còn có khả năng phòng chống bệnh ung thư.
Thông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969
Blog: https://caygiongdhnn1.blogspot.com
Theo GS.TS Trần Văn Mão

Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2018

Trồng nấm rơm theo công nghệ mới

Trồng nấm rơm theo công nghệ mới

Theo ph­ương pháp trồng nấm hiện nay, bình quân 100kg rơm rạ ng­ười trồng nấm thu đ­ược khoảng 4- 7kg nấm. Song cách làm mới, sử dụng vi sinh vật rất ư­a nhiệt và phân khoáng, năng suất trồng nấm rơm sẽ tăng lên rất nhiều.

Nhà trồng nấm: có tổng diện tích là 9 m2 (mỗi chiều 3m). Giàn giá thể 5 tầng (bằng compost), làm sát 2 bên vách, cách nhau 45cm, tầng dư­ới cùng cách mặt đất 30cm, để lối đi ở giữa khoảng 60cm. Ngoài nhà vách và mái ốp rơm rạ dày 15cm, trong nhà phủ kín bằng nilon. Hai bên hông nhà có 2 cửa sổ kích cỡ 20x20cm. Đầu hồi đối diện cửa ra vào có một buồng chờ rộng 0,8m, dài 1m.

Vật liệu: gồm 600kg rơm rạ, phân khoáng urê (của Indonesia), canxicacbonat Hải Phòng (bột nhẹ), supephosphat Lâm Thao, Sunphat amon (SA), vôi, cám gạo, bình xịt thuốc sâu, nhiệt kế, khuôn gỗ (1,8x1,8x0,3m): giá thể bằng compost

Qui trình:


+ Tạo giá thể trồng nấm: cắt khúc rơm rạ 15-20cm, cho vào khuôn gỗ có kích th­ước nh­ư trên theo từng lớp, dày từ 20-30cm, rắc vôi với tỉ lệ 2%, urê 1%, sunphat amon 2%, canxi cacbonat 1%, supe phosphat 2%, giống vi sinh ­a nhiệt hỗn hợp, tư­ới n­ước vừa phải (dùng chân giậm nén rơm thật chặt) cho đến khi dồn hết 600kg rơm rạ, tạo thành đống rơm có chiều cao khoảng 1,8m. Giữa đống rơm có xiên một cây cọc tre để thông khí. Cứ sau 3 ngày đảo một lần lớp rơm rạ từ trên xuống d­ưới, từ d­ới lên trên, từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong... rồi lại ủ lên như­ cũ. Đến lần đảo thứ 3 t­ới thêm nư­ớc vừa đủ, supe photphat 1%, canxi cacbonat 1%, cám 3%. Nếu trồng ngoài trời sẽ ủ thêm 3 ngày nữa, bổ sung thêm n­ước

+ Trồng trong nhà nấm: khi đ­ưa giá thể nấm vào trong nhà phải đảo lại, bổ sung thêm n­ước đạt độ ẩm 75%, bổ sung nấm xạ khuẩn rồi đư­a vào giàn nấm, đóng cửa lại. Ngày hôm sau mở cửa khoảng 2 giờ cho thông thoáng, hạ nhiệt rồi lại đóng cửa để nhiệt độ trong nhà nấm tăng trở lại, tiếp tục làm như­ vậy đến ngày thứ năm, hạ nhiệt rồi bắt đầu cấy nấm giống. Sau khi cấy giống xong phải đóng chặt cửa, theo dõi nhiệt độ, nếu thấy nhiệt độ lên quá 40°C phải mở cửa trong 3 ngày. Tiếp đó mở thoáng cho ánh sáng vào, t­ới nư­ớc để hạ nhiệt độ còn khoảng 28-32°C. Trong vòng 4 ngày, giá thể phát triển thành trứng và tiến hành thu hoạch, hái 2-3 lần/ngày, thu hoạch trong vòng 15 ngày-Qua thực tế thu hoạch cho thấy: với 600kg rơm rạ khô, sản lượng nấm t­ươi đạt 172,2kgThông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969
Blog: https://caygiongdhnn1.blogspot.com

Cách thu hái và chế biến Nấm rơm

Cách thu hái và chế biến Nấm rơm

Thị trường tiêu thụ nấm muối hiện nay cũng rất đa dạng. Nấm muôi nguyên quả, sau đó phân loại theo kích cỡ đường kính cây nấm to, nấm nhỏ khác nhau.

Kể từ lúc trồng đến khi hái hết đợt 1 khoảng 15 – 17 ngày. Nấm ra rộ vào ngày thứ 12 đến 15.Sau 7 –8 ngày ra tiếp đợt 2 và hái trong 3 – 4 ngày thì kết thúc một đợt nuôi trồng (tổng thời gian 25 – 30 ngày). Dọn vệ sinh sạch sẽ: tưới nước vôi (giống như vôi quét tường) để  3 – 4 ngày lại trồng đợt tiếp. Hái nấm còn ở giai đoạn hình trứng (trước khi nấm nở ô) là tốt nhất, đảm bảo chất lượng và năng suất cao. Trường hợp nấm mọc tập trung thành cụm, ta có thể tách những cây lớn hái trước, nếu khó tách thì hái cả cụm (cả to, nhỏ đều hái hết). Một ngày, hái nấm 2 – 3 lần. Những ngày nắng nóng, nhiệt độ không khí cao, nấm phát triển rất nhanh, vì vậy người hái nấm phải quan sát kỹ, khi nấm hơi nhọn đầu là hái được.

Năng suất  nấm đạt 12 – 20% so với nguyên liệu khô (một lần rơm rạ cho thu hoạch khoảng 120 – 200 kg nấm tươi). Năng suất nấm cao hay thấp  tuỳ thuộc vào chất lượng giống nấm, kỹ thuật nuôi trồng và yếu tố khí hậu.

Tiêu thụ nấm rơm:


Khi hái nấm xong, nấm rơm vẫn tiếp tục phát triển, nếu để thêm vài tiếng sau, từ giai đoạn hình trứng có thể bị nở ô, vì vậy cần tiêu thụ nhanh trong  3 – 4 giờ đồng hồ. Dụng cụ đựng nấm cần thoáng, không để quá nhiều nấm (chiều cao dụng cụ tối đa 25 cm). Muốn để nấm qua ngày thì bảo quản ở nhiệt độ 10 – 15°C. Nếu ở xa các trung tâm tiêu thụ nấm tươi thì sáng sớm (5 – 6 giờ) phải hái nấm và chuyển ngay đến điểm cân nhận.

Nấm rơm là loại thực phẩm rất ngon và bổ. Nấm  có hàm lượng đạm cao, giàu Axit Amin, chất khoáng và các Vitamin. Chế biến nấm thành nhiều món ăn khác nhau, trước khi ăn nên chần qua nước sôi khoảng 1 –2 phút, nấu nấm phải chín.

Chế biến nấm muối xuất khẩu:

Thị trường tiêu thụ nấm muối hiện nay cũng rất đa dạng. Nấm muôi nguyên quả, sau đó phân loại theo kích cỡ đường kính cây nấm to, nấm nhỏ khác nhau. Hoặc nấm phải bóc vỏ bao rồi phân loại ...

Cách muối như sau:


- Đun nước sôi, thả nấm tươi vào chần, dùng vỉ tre nén cho nấm chìm trong nước, đun to lửa  cho sôi lại càng nhanh càng tốt. Để sôi 5 – 7 phút, vớt nấm ra thả vào chậu nước lạnh, thay nước nhiều lần tới khi mát tay là được (có thể để vòi chảy liên tục) đảm bảo nấm rắn chắc, đổ nấm ra rổ để ráo nước.

- Cho nấm đã chần vào túi nilon không thủng, chum vại, can nhựa... Cứ một lớp nấm, một lớp muối theo tỷ lệ 1 kg nấm + 0,3 kg muối khô nhỏ hạt + 0,2 lít dung dịch muối bão hòa.

- Khi nấm đã đầy các dụng cụ cần phủ thêm một lớp muối khô trên bề mặt để ấn chìm nấm trong nước muối, tránh nấm mốc phát triển. Nếu để lâu 1 – 2 tháng trở lên cần cho thêm 3 – 4 kg Axit Xitric cho 1 tấn nấm. Thời gian muối được 15 ngày, nấm sẽ ổn định về chất lượng, lúc đó tiến hành phân loại hoặc bóc vỏ nấm.

- Nấm muối đảm bảo chất lượng tốt là không bị váng mốc, mùi thơm dễ chịu, nồng độ muối đạt 230 Be, độ pH = 4. Cây nấm rắn chắc, không giập nát. Không lẫn các tạp chất khác, màu dung dịch muối trong suốt. Tỷ lệ nấm muối so với nấm tươi đạt khoảng 60 – 70%.

Nấm sấy khô:

Thái nấm thành lát mỏng (kiểu lát sắn) hoặc để nguyên quả nấm đã nứt bao đem phơi nắng (nếu trời nắng to) hoặc sấy ở nhiệt độ: 40 – 450C đến khi nấm khô giòn. Đảm bảo độ ẩm còn lại nhỏ hơn 13% cho vào túi nilon buộc kín, nấm sẽ mau khô và có màu hơi vàng trông rất đẹp. Nấm khô để xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.Thông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969
Blog: https://caygiongdhnn1.blogspot.com

Một số kinh nghiệm sản xuất Nấm rơm trong mùa mưa

Một số kinh nghiệm sản xuất Nấm rơm trong mùa mưa

Ngoài các yêu cầu kỹ thuật đã khuyến cáo qua báo đài, sách báo, phim ảnh...bà con nông dân cần chú ý một số vấn đề sau đây:

1/ Khi chất mô nên chất bề ngang dài 3,5 - 4 tấc, chiều cao 3 - 4 tấc để khi mưa bão liên tục nhiều ngày thì giồng mô lớn sẽ giữ nhiệt độ tốt hơn giồng nhỏ và đảm bảo meo nấm phát triển.

2/ Trong thu hoạch lúa, nông dân thường sử dụng dây lạt dừa (dừa nước) để buộc. Nếu dùng rơm chất nấm nên lựa bỏ. Nếu không dây sẽ thấm nước cho ra chất chát làm ảnh hưởng đến rơm xung quanh giồng mô, meo sẽ phát triển yếu.

3/ Nếu chất ngoài trảng nắng, chú ý lượng nước tưới đầy đủ khi trời nắng gắt. Đồng thời, giồng phải chất xuôi theo chiều gió, nếu gió lớn phải che bớt. Nếu gặp những ngày mưa nhiều, nên chú ý thoát nước.

4/. Lớp rơm đậy sau khi cho meo khoảng từ 25 – 30 cm, không nên đậy quá dầy meo khó phát triển, nấm ít mọc lên nóc mô mà chỉ phát triển hai bên làm ảnh hưởng đến năng suất.

Trên đây là một số lưu ý khi trồng nấm rơm trong mùa mưa. Mong rằng, với những lưu ý trên bà con trồng nấm, đặc biệt là trồng lần đầu tiên sẽ thành côngThông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969
Blog: https://caygiongdhnn1.blogspot.com

Nấm rơm phòng chữa bệnh cao huyết áp và u bướu

Nấm rơm phòng chữa bệnh cao huyết áp và u bướu

Nấm rơm tính mát, vị ngọt, đi vào tì kinh, vị kinh. Có thể bổ tì ích khí, thanh thử nhiệt, hạ huyết áp, chống các loại u bướu. Thích dụng với những bệnh nhân bị các chứng bệnh tì hư khí nhược, thử nhiệt tâm phiền, cao huyết áp, các loại u bướu


Nấm rơm cũng như các loại nấm ăn khác như nấm hương, nấm đầu khỉ, v.v… là loại chân khuẩn thích ôn, nhiệt độ thích hợp để nó phát triển là: Đối với tổ chức dạng sợi chân khuẩn là 36°C, còn đối với thể của hạt là 28°C – 32°C. Trong 100g, nấm rơm tươi có các thành phần dinh dưỡng: Nước 92,3g; prô-tê-in 2,7g; chất béo 0,2g; chất coarse fibre 1,6g; saccharides 2,7g; nhiệt lượng 26,24 calo; ash content 0,5g; can-xi 17mg; ka-li 33mg; sắt 1,3mg; vi-ta-min B1 0,08mg; vi-ta-min B2 0,34mg; niacin 8mg; magnesium 21mg; sodium (Na) 73mg, potassium 179mg; vi-ta-min A 1704 đơn vị quốc tế. Nấm rơm còn có chứa 17 loại amino acid (trong đó có 8 loại cơ thể rất cần thiết); lại có chứa chất extremelyprotein có tác dụng chống ung thư và các chất aminobenzoic acid, D-mannitol, sorbierite và vi-ta-min, v.v… Nấm rơm là loại thức ăn bảo vệ sức khỏe có giá trị dinh dưỡng cao.

1. Tác dụng và các bài thuốc bổ dưỡng chữa bệnh bằng nấm rơm

Nấm rơm tính mát, vị ngọt, đi vào tì kinh, vị kinh. Có thể bổ tì ích khí, thanh thử nhiệt, hạ huyết áp, chống các loại u bướu. Thích dụng với những bệnh nhân bị các chứng bệnh tì hư khí nhược, thử nhiệt tâm phiền, cao huyết áp, các loại u bướu. Các bài thuốc chữa bệnh như sau:

1 – Đối với các bệnh nhân bị thiếu máu và đề phòng bệnh ung thư: Ăn dài ngày nấm rơm.

2 – Đối với các bệnh nhân tì hư: Ăn dài ngày món nấm rơm tươi xào, nấu như các món ăn thường ngày.

3 – Đối với những bệnh nhân bị các vết lở loét khó khép kín miệng thì có thể dùng 60g nấm rơm tươi và 60g nấm đầu khỉ, rửa sạch thái ra xào nấu thành món ăn như thường để ăn.

2. Các món ăn điều trị bệnh bằng nấm rơm

1 – Nấm rơm 200g và trứng chim bồ câu hoặc trứng chim cút 24 quả (bỏ vỏ), cùng với các gia vị như muối tinh, bột hồ tiêu, hành, gừng, nước dùng, dầu ăn, mì chính bột đã nhào ướt, mỗi thứ lượng thích hợp vừa ăn. Đem xào lẫn thành món xào nấm, trứng; cũng có thể nấu với nước dùng thành món nấu để ăn.

Công hiệu: Nấm rơm có các công hiệu thanh thử nhiệt, hạ huyết áp, chống ung thư, phối hợp nấu với trứng chim bồ câu hoặc trứng chim cút có công hiệu bổ gan thận, ích khí huyết, bồi bổ tinh, tủy. Có thể làm món ăn ngon, bổ dưỡng điều trị đối với cả những chứng bệnh thuộc hư nhược như khí đoản, người bải hoải, trí nhớ giảm sút và bị các bệnh toàn thân như ung thư và một số bệnh truyền nhiễm khác. Đối với những người khỏe mạnh vẫn có thể ăn món ăn này để tư bổ, cường tráng, nâng cao khả năng phòng, chống bệnh ung thư và nhiều bệnh khác do thiếu dinh dưỡng gây nên.

2 – Nấm rơm 150g, tôm nõn 150g, ngọn rau dền 50g cùng một số gia vị tinh bột, lòng trắng trứng, muối tinh, mì chính, bột hồ tiêu, hành, bột gừng, dầu ăn, nước dùng, mỗi thứ lượng thích hợp vừa ăn, dùng các nguyên liệu đó để làm thành món xào hoặc nấu tùy ý.

Công hiệu: Tôm nõn bổ thận, trợ dương, thu co nước tiểu, làm chắc tinh, phối hợp nấu với nấm rơm thành món ăn ngon, thích dụng điều trị cho những bệnh nhân bị những chứng bệnh liệt dương, di tinh, phóng tinh sớm, không có thai hoặc bị những chứng bệnh tiểu tiện nhiều lần không tự kiềm chế được do khí huyết không đủ, tinh huyết hư suy, thận dương hư tổn gây nên.Thông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969
Blog: https://caygiongdhnn1.blogspot.com

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2018

Nhờ nấm chống ung thư

Nhờ nấm chống ung thư

Nấm là loại thực phẩm rất tốt cho sức khỏe và có tác dụng ngăn ngừa ung thư.

Theo nhận định của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), không dưới 70% trường hợp bệnh lý liên quan mật thiết hoặc với rối loạn biến dưỡng hoặc với suy yếu sức đề kháng hoặc cả hai. Hai nhân tố này bao giờ cũng có mặt trong bệnh ung thư, nếu không trước khi phát bệnh thì sau khi được điều trị hoặc trước có rồi, sau nặng hơn.

Trên cơ sở vừa phân tích, biện pháp nào vừa tăng cường sức đề kháng vừa điều chỉnh biến dưỡng đều mang ý nghĩa phòng bệnh cũng như gia tốc tiến trình phục hồi. Không quá khó nếu đừng quên một phương tiện rất gần trong tầm tay. Đó là hoạt chất betaglucan trong các loại nấm!

Nếu nhà điều trị ở phương Tây mới dùng nấm như thuốc trong phác đồ điều trị nhiều bệnh chứng nghiêm trọng từ vài chục năm gần đây thì thầy thuốc y học cổ truyền phương Đông đã biết rõ về hiệu năng phòng và chữa bệnh của nấm này từ nhiều ngàn năm. Mặt khác, cũng nhờ các nhà khoa học ở phương Tây trong vài thập niên gần đây đã chọn đông y như nguồn tư liệu hàng đầu để nghiên cứu cho sản phẩm và liệu pháp mới nên tác dụng phòng và chữa bệnh của nhiều loại nấm như linh chi, đông trùng hạ thảo, nấm thái dương, thông, nấm nai… đã được xác minh qua hàng loạt công trình khảo sát trên lâm sàng cũng như trong thực nghiệm.

Nếu linh chi, đông trùng hạ thảo… quá quen thuộc với người dân châu Á vì từ lâu đã có tên trong dược điển thuốc chống ung thư của nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… thì các loại nấm này nay cũng được nhiều thầy thuốc ở châu Âu kết hợp trong phác đồ điều trị nhiều bệnh mạn tính như thấp khớp, dị ứng, viêm gan… và nhất là cho bệnh nhân ung thư, từ khi các nhà nghiên cứu phát hiện những đặc tính nổi bật của betaglucan trong nấm, đó là:

- Gây hưng phấn hoạt tính của thực bào và bạch cầu để truy sát tế bào ung thư.

- Cải thiện chức năng giải độc của lá gan, trái thận, khung ruột.

- Điều chỉnh biến dưỡng chất béo và chất đường.

- Ngăn ngừa thiếu dưỡng khí nội bào thông qua tác dụng cải thiện tuần hoàn vi mạch.

- Ức chế tác hại của siêu vi gây ung thư.

- Trung hòa độc chất sinh ung thư nội tại cũng như ngoại lai.

Không có gì khó hiểu nếu tổ chức FDA ở Mỹ đã xếp nấm vào nhóm thực phẩm phòng ngừa ung thư. Bên cạnh tác dụng dược lý, bổ sung dùng nấm hay thành phẩm có betaglucan còn thêm nhiều lợi điểm nhờ tác dụng: ổn định thể trọng ở người có khuynh hướng béo phì; cân bằng đường huyết ở người bệnh tiểu đường có lượng đường trong máu dễ dao động; hỗ trợ tác dụng của nhiều loại thuốc trị bệnh gút, giảm đau, cao huyết áp, trầm cảm…; cải thiện tiêu hóa cho người hay táo bón.

Vì betaglucan là một nhóm hoạt chất nên nếu phối hợp nhiều loại nấm trong một thành phẩm bao giờ cũng có lợi hơn chỉ dùng độc vị. Nhiều tay vỗ nên tiếng, nhiều mặt giáp công bao giờ cũng hữu hiệu hơn khi đối đầu với tế bào ung thư trăm mưu ngàn chước.
Thông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969

4 lưu ý chế biến nấm đúng cách

4 lưu ý chế biến nấm đúng cách

Nấm là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, rất tốt cho sức khỏe, nhưng nếu không biết chế biến đúng cách sẽ làm mất chất dinh dưỡng và có thể gây ngộ độc cho người ăn.


Theo các chuyên gia, nấm chứa các vitamin và gần 60 nguyên tố khoáng nên ăn nấm thường xuyên giúp cơ thể đề kháng bệnh tật, kháng ung thư và kháng virut, giải độc và bảo vệ tế bào gan, hạ đường máu, chống phóng xạ, chống lão hóa và giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Thế nhưng việc chế biến và dùng nấm ra sao cho có lợi nhất lại là điều ít người biết và quan tâm. Thông thường nhiều người thường vệ sinh nấm sai quy trình, sai cách, chính vì thế dẫn đến một số tác dụng phụ khi ăn nấm.

Dưới đây là những lưu ý trong chế biến và sử dụng nấm có lợi cho sức khỏe.

Nấm sống trong môi trường tuyệt đối sạch, thân nấm lại ở dạng xốp và sợi nên khi rửa nấm sẽ làm nước đọng lại khiến cho nấm không còn được ngọt. Vì vậy không nên rửa kỹ.

Tuy nhiên, một số loại nấm bắt buộc phải vệ sinh nếu trong quá trình vận chuyển để dây bẩn vào, nhưng nên rửa dưới vòi nước dạng hơi sương chứ không rửa trực tiếp nước vào thân nấm sẽ làm hỏng thịt nấm.

Khi sử dụng nấm tuyệt đối phải cắt bỏ chân (cắt gốc) vì chân nấm là nơi tiếp xúc với chất dinh dưỡng, phần bọc và nuôi cây giống là một số chất vô cơ mà chúng ta không nên sử dụng.

Cần ăn nấm được nấu chín hoàn toàn, tức là khoảng 5 – 10 phút sau khi đun sôi. Sau khi ăn nấm xong không nên dùng ngay đồ uống lạnh như trà đá hoặc cà phê đá, bởi vì nấm mang tính bổ âm nên uống ngay đồ lạnh sau đó thì dễ bị lạnh bụng.
Thông tin liên hệ:

Website: http://Caygiong.org
Điện thoại: 0986 266 563 – 024 668 07 969