Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Chủ Nhật, 30 tháng 7, 2017

Bảo quản măng cụt bằng màng bao ORT 2000

Bảo quản măng cụt bằng màng bao ORT 2000

Các nhà khoa học TP Hồ Chí Minh vừa nghiên cứu thành công việc bảo quản măng cụt bằng loại bao gói Oxygen Transmission Rate. Kết quả, măng cụt được bảo quản tốt trong hai tuần, so với bảy ngày của các phương pháp khác.


Măng cụt là loại trái khó bảo quản trong khi chuyên chở. Khi vỏ trái măng cụt chuyển sang mầu đỏ hoặc đỏ tím thì chỉ giữ bảo quản được 5-7 ngày. Để khắc phục nhược điểm này, Phân viện Công nghệ sau thu hoạch TP Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm bảo quản măng cụt bằng loại bao gói Oxygen Transmission Rate (ORT 2000). Đây là loại bao PE có thấm khí O2 với lưu lượng 2.000ml/m2/giờ đồng thời giảm lượng etylen đến mức nhỏ nhất, giữ khí CO2 trong bao bì và giữ độ ẩm tương đối trong bao bì luôn ổn định ở khoảng 90% không phụ thuộc môi trường bên ngoài, cùng với các hóa chất như dung dịch chuẩn NaOH, 0,1N, dung dịch Phenolphatalein 1%.
Nhóm nghiên cứu sử dụng một kho lạnh và các thiết bị khúc xạ kế (0-32%), máy đo nồng độ CO2, cân phân tích và máy đo độ cứng trái măng cụt. Trái măng cụt được thử nghiệm là loại trái ở độ chín, hái từ cây lúc sáng sớm (hoặc chiều mát), trái sau khi thu hoạch mầu đỏ chuyển sang mầu đỏ hoàn toàn. Trái măng cụt được làm sạch, sơ bộ, lau nhẹ bằng vải ẩm để loại bỏ vết bẩn và đất cát bám trên cỏ, đồng thời loại thải trái bị dập, chảy mủ, hư hỏng. Nhiệt độ sử dụng ở 5-10oC và 15oC. Kết quả cho thấy, giá trị cảm quan của trái măng cụt bảo quản ở 10oC, cao hơn so với ở nhiệt độ 5oC và 15oC.

Tóm lại, trái măng cụt bảo quản trong bao bì ORT 2000 có vỏ trái mềm hơn so với bảo quản bằng các loại bao gói khác (PE 20 lỗ, 40 lỗ) và không xử lý màng bao. Chế độ nhiệt bảo quản thích hợp nhất với ORT 2000 cho măng cụt là 10oC trong thời gian hai tuần, sang tuần thứ 3 và 4 (khoảng 30 ngày) trái không còn giữ giá trị cảm quan như ban đầu, chất lượng có kém đi, song vẫn giữ được độ vỏ cứng và điểm cảm quan cao nhất, cũng như giá trị dinh dưỡng tốt hơn so với ở 5oC và 15oC. Khi được bảo vệ trong màng bao ORT 2000, trái măng cụt có tỷ lệ thoát hơi thấp, do đó trong lượng trái không hao hụt nhiều.
Nguồn nhandan

Kỹ thuật trồng cây măng cụt - Garcinia magostana

Kỹ thuật trồng cây măng cụt - Garcinia magostana

Măng cụt không kén đất nhưng phát triển tốt nhất trên đất tơi xốp, dễ thoát nước, giàu chất hữu cơ. Măng cụt không thích hợp trên đất mặn hoặc nhiễm mặn.


I. ĐIỀU KIỆN SINH THÁI Đất trồng:

Măng cụt không kén đất nhưng phát triển tốt nhất trên đất tơi xốp, dễ thoát nước, giàu chất hữu cơ. Măng cụt không thích hợp trên đất mặn hoặc nhiễm mặn.

Nhiệt độ và ánh sáng: Măng cụt phát triển tốt ở nhiệt độ 25-35oC, không ưa trảng nên khit rồng cần phải che bóng cho măng cụt.

Nước: cần cung cấp nước đầy đủ trong mùa nắng và thoát nước tốt trong mùa mưa.

II. GIỐNG VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG

Măng cụt có thể được nhân giống bằng cách ghép đọt hoặc gieo hạt.

- Phương pháp ghép không đạt hiệu quả cao do cây con có tỉ lệ hao hụt rất lớn; cây ghép cho trái nhỏ và ít hơn so với cây trồng bằng hạt.

- Gieo hạt là phương pháp nhân giống phổ biến của măng cụt, măng cụt đậu trái không thụ phấn, hạt măng cụt được phát triển từ phôi cái nên cây trồng từ hạt có đặc tính giống như cây mẹ.

Cách gieo hạt: hạt măng cụt mau mất sức nẩy mầm, do đó không nên dự trữ hạt lâu. Chọn hạt to, nặng > 1g từ những trái mặng cụt chín. Rửa sạch hát va 2gieo vào bầu đất hoặc liếp ươm. Vật liệu của bầu hoặc liếp ươm là tro trấu, bột sơ dừa hoặc cát mịn trộn phân hữu cơ. Thường xuyên tưới nước giữ ẩm, 20-30 ngày sau hạt sẽ nẩy mầm.

Khi cây lớn thì chuyển sang bầu lớn chú ý không làm tổn thương rễ vì rễ măng cụt không có lông hút và rất yếu. Cây phát triển rất chậm, trung bình 2 tháng măng cụt mới cho 1 cặp lá. Khi được chăm sóc tốt, bón phân đầy đủ sẽ giúp cho măng cụt phát triển nhanh hơn.



III. KỸ THUẬT TRỒNG

1.Chuẩn bị đất:

Nên trồng măng cụt trên mô của đất liếp, có bờ bao cống bọng để thoát nước tốt trong mùa mưa, cung cấp đủ nước trong mùa nắng.

2. Mật độ khoảng cách:

Măng cụt có tán cây lớn, tán là sum xuê, do đó nên trồng thưa cây cách nhau 7-10m, mật độ 100-200 cây/ha, với khoảng cách trồng nầy cây sẽ giao tán sau 30 năm trồng.

3. Chuẩn bị mô:

Mô cần được chuẩn bị 1-2 tháng trước khi trồng. Mô hình tròn có đường kính 0,6 –0,8m, cao 0,3-0,5m tùy theo địa hình cao hay thấp. Đất mô nên trộn với 10-20 kg phân chuồng hoai và 200g phân NPK 15-15-15.
 
4. Kỹ thuật trồng:


Khi cây con được 2 năm tuổi thì đem đi trồng, lúc này cây có 12-13 cặp lá và 1 cành cấp 1, khoét lỗ trên mô vừa với bầu đất, nhẹ nhàng đặt cây vào, lấp đất ngang mặt bầu, cắm cọc giữa cây không bị đổ ngã. Khi đặt cây cần cẩn thận để không bị hư rễ.
 
5. Trồng cây che bóng và cây chắn gió:


Măng cụt không chịu được ánh nắng trực tiếp, do đó cần che bóng cho cây trong 4-5 năm đầu. có thể trồng xen măng cụt với chuối hoặc trồng dưới tán dừa (hạn chế trồng chuối sứ vì chuối sứ có bộ rễ phát triển mạnh nên sẽ cạnh tranh dinh dưỡng với măng cụt).

Cần trồng cây chắn gió cho măng cụt vì gió có thể làm hại lá và trái.

6. Tưới nước:

Bộ rễ măng cụt không có lông hút và phát triển kém cho nên cần cung cấp đầy đủ, thường xuyên cho cây trong mùa nắng và thoát nước tốt trong mùa mưa. Nếu thiếu nước cây sẽ chậm lớn. Đặc biệt giai đoạn sau trổ hoa, mang trái, nếu thiếu nước trái măng cụt nhỏ và có phẩm chất kém.

7. Tỉa cành, tạo tán:

Khi cành còn nhỏ cần tỉa bỏ các cành vượt, cành đan chéo nhau để tạo tán cho cây cân đối sau này.

Khi cây đã cho trái, sau thu hoạch cần tỉa bỏ cành sâu bệnh, giập gãy, cành vượt. Chú ý không tỉa quá nhiều làm cho gốc trơ trụi, ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào gốc sẽ gây hại cho cây. Để tạo tán cho cây lùn và tròn đều thì tiến hành cắt ngọn khi cây cao 8-10 m.

IV. BÓN PHÂN VÀ XỬ LÝ RA HOA

1. Bón phân


Cần bón cho cây 10-20kg phân chuồng/năm/cây vào đầu hoặc cuối mùa mưa. Ngoài ra, cần bón thêm phân NPK có hàm lượng N cao để giúp cây tăng trưởng nhanh.

- Giai đoạn cây chưa cho trái: năm đầu sau trồng bón 0,5kg/cây, các năm sau tăng dần lên mỗi năm 0,5kg. Có thế bón 2 lần trong năm, vào đầu và cuối mùa mưa.

- Giai đoạn cây cho trái ổn định: hàng năm bón cho cây phân chuồng và 10-12 kg phân NPK. Chia làm 3 lần bón:

+ Lần 1: sau thu hoạch bón toàn bộ phân chuồng = 3-4kg NPK 20-20-15.
+ Lần 2: trước khi ra hoa 30-40 ngày, bón phân có hàm lượng N thấp, P và K cao, mỗi gốc bón 3-4 kg DAP + Kali theo tỉ lệ 1:1.
+ Lần 3: sau đậu trái, khi đường kính trái 2cm, bón phân có hàm lượng K cao, để tăng phẩm chất trái. Mỗi gốc bón 3-4kg phân 20-20-15.

Tuy nhiên, mỗi lượng phân bón có thể gia giảm tùy thuộc vào tán cây, vào tình trạng sinh trưởng của cây, cây càng lớn lượng phân bón ngày càng tăng, năm trúng mùa bón nhiều hơn năm mất mùa. Nếu cây phát triển chậm thì tăng cường thêm phân Urea.

2. Xử lý ra hoa sớm:

Để măng cụt ra hoa sớm và bán được giá cao thì ngay sau thu hoạch tiến hành tỉa cành, bón phân để giúp cây sớm đâm tược non. Khi thấy cây chậm ra tược có thể phun thêm urea trên lá với liều lượng 50-100g/bình.

Khi đọt non được 9-10 tuần tuổi thì rút nước ra khỏi mương vườn và ngưng tưới trong 3-4 tuần, đến khi là có biểu hiện héo thì tiến hành cho nước vào mương và tưới đẫm trở lại: thực hiện 1-2 lần cây sẽ ra hoa. Nếu cây chưa ra hoa có thể tạo khô hạn lại lần 2.

V. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH

1. Sâu vẽ bùa:

Sâu non phá hại bằng cách đào những đường ngoằn ngoèo, ăn lớp biểu bì của lá làm cho lá bị biến dạng, mặt trên của lá bị khô, lá bị rụng. Bướm đẻ trứng trên là, làm nhộng trên những hầm ở lá.
Phòng trị: phun các loại thuốc như Vertimec, cyperan, polytrin, D.C. Tronplus, confidor.

2. Nhện đỏ:

Ấu trùng màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt, khi trưởng thành có màu đỏ. Nhện đỏ tấn công lên là và trái, chích cạp và hút nhựa lá và trái. Trên lá, vết thương tạo thành những chấm nhỏ li ti trên mặt lá, khi bị nặng vết chấm lan rộng và có màu ánh bạc, sau đó là có thể bị khô và rụng.

Trên trái, nhện thường sống tập trung ở phần cuống trái và đáy trái. Khi trái còn non, nhện chích và hút dịch ở lớp biểu bì là vỏ trái bị sần sùi.

Phòng bệnh: nhện đỏ thường lờn thuốc, do đó cần luân phiên các loại thuốc đặc trị nhện như: Comite, Trebon, Danitol,…

Hiện tượng chảy nhựa vàng: chưa xác định rõ nguyên nhân, có thể do bọ trĩ tấn công từ khi cây ra hoa đến sau đậu trái. Bọ trĩ làm cho trái bị chảy nhựa, làm giảm giá trị thương phẩm. Ngoài ra, 1-2 tháng trước khi trái chín nếu gặp mưa lớn và mưa liên tục cũng làm cho trái dễ bị chảy nhựa vàng, nếu nặng thì phần thịt trái bị đắng, không ăn được.

Phòng bệnh: phun các loại thuốc như Cyperan, Confidor, trebon, Regent, Comite,…
Ngoài ra, măng cụt còn có các loại côn trùng khác tấn công như rệp dính, bọ xít,…

3. Bệnh hại:

- Chết nhánh: do nấm Pastaliotopsis sp. Làm cháy là và chết nhánh nhỏ trên cây, bệnh có thể lây lan nhanh làm cho cây xơ xác.
Phòng trị bằng cách phun các loại thuốc trừ nấm như: Manzate, Rovral, Derosal, Daconil,…

- Bệnh đốm rong: do nấm Cephaleuros virescens tấn công lên nhanh, thân tạo thành các đốm đồng tiền màu vàng hoặc màu xám xanh
Phòng trị bằng cách cạo vết bệnh và bôi thuốc có gốc đồng hoặc vôi quét tường lên vết bệnh.

VI. THU HOẠCH

Khoảng 4 tháng sau khi hoa thụ phấn thì có thể thu hoạch, thu khi màu vỏ vừa chuyển qua màu đỏ, thu non lúc vỏ mới chuyển màu hồng thì cơm trong; thu già khi màu vỏ trái tím sẫm thì trái cứng. Ở Việt Nam cây 7 – 8 tuổi mới chỉ có 10 – 20 quả bói. Dùng sào tre làm lồng để thu quả, tránh giựt làm quả rớt xuống đất sẽ khó bảo quản sau này. Thu hái, chuyên chở cẩn thận. Khi tồn trữ lâu vỏ quả rắn lại, còn thịt quả có khuynh hướng chuyển qua màu nâu.
Trung tâm thông tin tư liệu

Thứ Năm, 27 tháng 7, 2017

Yêu cầu kỹ thuật trồng mãng cầu xiêm

Yêu cầu kỹ thuật trồng mãng cầu xiêm

Mãng cầu xiêm là trái đăc trưng ở miền nam có giá trị dinh dưỡng cao. Vì thế được mọi người ưa chuộng vậy trồng mãng cầu xiêm có khó? Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn bạn kỹ thuật trồng mãng cầu xiêm tỉ mỉ.


Thịt quả trắng, mùi dễ chịu, vị dịu, hơi ngọt, chua, có tính giải khát, bổ. Quả xanh làm săn da. Hạt se, gây nôn, sát trùng. Lá làm dịu. Người ta thường dùng quả để ăn. Thịt quả pha thêm nước và đường dùng xay sinh tố để giải khát, bổ mát và chống hoại huyết. Quả xanh phơi khô tán bột dùng trị kiết lỵ và sốt rét. Ngày nay người ta dùng mãng cầu xiêm làm thức ăn trái cây cho người bệnh tiểu đường và cao huyết áp.

Mãng cầu xiêm ưa nóng vì thế được trồng ở miền nam việt nam chúng được ưa chuộng dùng làm các loại sinh tố và chữa bệnh rất hiệu quả.

Điều kiện trồng mãng cầu xiêm: Lượng mưa thích hợp cho mãng cầu xiêm là 1.800 mm, chịu hạn và lạnh kém hơn mãng cầu ta. Ðộ pH thích hợp từ 5,0-6,5. Ở vùng đất mặn hoặc nhiễm mặn có độ pH thấp và chịu ảnh hưởng của thủy triều người ta trồng mãng cầu ghép trên gốc bình bát, các nơi khác người ta trồng mãng cầu xiêm bằng hạt. Mãng cầu xiêm có thể trồng trên nhiều loại đất nhưng nó thích hợp trồng trên đất có tầng mùn hữu cơ dày, tơi xốp, thoát nước tốt. Đất có độ pH từ 5,6 – 6,5.

Nhân giống mãng cầu: Mãng cầu xiêm thường nhân giống bằng hạt, song nó cũng có thể trồng bằng cây đã lớn được bứng lên cẩn thận, bằng chiết cành, ghép mắt và ghép cành. Có thể gieo hạt trong các bầu hay trên líp đất có hơi pha cát. Gieo hạt sâu chừng 1cm và cách nhau 2 – 2,5cm. Che nắng cho hạt và tưới giữ ẩm thường xuyên.

Cách trồng:
Đào hố rộng 30 – 50cm, sâu 30 – 50cm, tùy cây lớn nhỏ. Nếu trồng luôn bầu cây thì hố phải rộng hơn nhiều so với kích thước của bầu để không ép rễ cây con. Lấp trở lại lớp đất mặt khi đặt cây con và tưới nước ẩm ngay. Cây mãng cầu xiêm nên trồng với khoảng cách 3 – 4m, trồng theo kiểu nanh sấu hoặc theo hàng.

Chăm sóc mãng cầu xiêm:  Để đảm bảo cây phát triển tốt, sau khi trồng bón thúc 2 năm đầu, mỗi năm bón 15kg phân hữu cơ hoặc phân chuồng hoai mục + 0,5kg NPK 16-16-8. Nếu dùng phân đơn thì bón khoảng 200g urea + 0,5kg super lân + 100g Kcl cho mỗi cây. Có thể tưới gốc bằng HVP 6-6-4 K-HUMAT hoặc Hum-K + Geniss + Phân bón lá Thiên Hải Ngọc để kích thích ra rễ mạnh.

Từ năm thứ ba trở đi, mỗi năm bón 15kg phân chuồng hoai + 300g phân urea + 1kg super lân + 200g kali cho mỗi cây, kết hợp tưới gốc bằng HVP 6- 6- 4 K- HUMAT hoặc Hum-K + Geniss + Phân bón lá để kích thích ra rễ và giúp cây hấp thu dinh dưỡng dưỡng mạnh hơn. Nên chia bón làm nhiều lần khi mang trái và đang thu hoạch. Có thể bón trực tiếp nếu bón theo kiểu rạch hàng quanh đường kính chiếu của tán cây thì ta nên chia làm 2 lần bón khi cây bắc đầu nuôi trái và đến khi ở cuối vụ thu hoạch, bón xong lấp đất và tưới nước cho phân hấp thu vào đất. Quá trình cây trưởng thành có thể sử dụng thêm các phân bón lá để giúp ra hoa, đậu trái tốt.

Muốn mãng cầu xiêm có nhiều trái

Muốn mãng cầu xiêm có nhiều trái

Khác với hoa của nhiều loại cây ăn trái, nhị cái của hoa mãng cầu xiêm lại trưởng thành trước nhị đực. Khi cánh hoa trong nở, nhị cái đã tươm mật sẵn sàng cho thụ phấn thì nhị đực vẫn chưa già để sẵn sàng tung phấn thụ cho nhị cái.


Khoảng 3-4 ngày sau, khi nhị đực già sẵn sàng tung phấn thì nướm của nhị cái đã bắt đầu héo. Chính vì sự “lệch pha” này mà qúa trình tự thụ phấn của hoa mãng cầu xiêm rất khó xẩy ra, như vậy mãng cầu xiêm đòi hỏi phải có thụ phấn chéo (nhờ côn trùng hay những tác nhân khác).

Nhưng hoa của mãng cầu xiêm lại không có mùi thơm để dẫn dụ côn trùng, cánh hoa lại dầy và khi nở lại hé ra rất ít, khiến cho các loài côn trùng rất khó chui vào. Mặt khác hoa lại mọc chúc xuống … nên rất trở ngại cho việc giúp sức của côn trùng, chỉ có kiến (chủ yếu là kiến đen) mới chui vào được để hút mật và qua đó giúp thụ phấn cho hoa. Do đó rất ít hoa được thụ phấn để đậu trái, những hoa không được thụ sẽ bị đen và rụng.

Mặt khác với cách thụ phấn trên đây, phấn sẽ không được phân bố đều trên nướm của nhị cái, chỗ nào không có phấn các múi ở đây sẽ không phát triển được, sẽ làm cho trái phát triển không đều, méo mó xấu xí như bạn đã thấy.

Để khắc phục tình trạng này bạn phải thụ phấn nhân tạo. Bằng cách chọn những hoa nhỏ, hoa có cuống nhỏ, hoa phát triển không cân đối, hoa ở ngoài chóp cành, hoa trên cành nhỏ… là những hoa thường khó đậu trái (nếu có đậu trái thì trái cũng nhỏ, chất lượng kém) để lấy phấn. Giữ lại những hoa to, hoa có cuống to, hoa phát triển cân đối, không bị sâu bệnh mọc ra từ thân, cành chính để thụ phấn tạo trái.

Khi thấy hoa cần lấy phấn sắp nở (cánh đã phát triển dài, có mầu trắng vàng, các cánh đã tách rời nhau, túi phấn của nhị đực đã chuyển dần từ mầu vàng đậm sang mầu xám nhạt (quan sát kỹ sẽ thấy các túi phấn hơi gồ ghề hơn so với trước đó) là có thể thu hái được. Thời gian thu hái hoa tốt nhất là vào buổi chiều mát. Sau khi hái, đặt hoa trên giấy trong một cái hộp kín để khỏi mất nước và không bị gió làm bay mất phấn. Sáng hôm sau bao phấn nứt thì tách bỏ cánh hoa, giũ cho túi phấn rơi hết xuống giấy, rồi dùng một que nhỏ (trên đầu có gắn bông gòn) chà nhẹ lên túi phấn để tách hạt phấn ra khỏi bao phấn (lượng phấn của một hoa có thể thụ cho 6-7 hoa cái).

Những hoa có ba cánh trong đã mở, nuốm nhị cái có mầu trắng, đầu nuốm đã tiết ra nhiều chất dính là thụ phấn được. Cách thụ phấn như sau: tay phải cầm cây cọ mềm chấm vào bột phấn, tay trái kẹp bông hoa muốn thụ phấn vào kẽ ngón tay, đầu ngón cái banh cánh hoa rộng ra, tay phải nhẹ nhàng quét lông của cây cọ (đã có dính sẵn phấn hoa) đều khắp nướm của nhị cái (nếu quét không đều, sau này trái sẽ bị lép, không mẩy đều).

Muốn có kết qủa cao, nên thụ phấn vào lúc 8-9 giờ sáng. Vào thời điểm ra hoa rộ khoảng 3-4 ngày thụ phấn cho vườn một lần. Nếu được thụ phấn nhân tạo cây sẽ đậu trái rất nhiều so với cứ để tự nhiên phó mặc cho cây “tự lo” (người có kinh nghiệm thụ phấn, tỷ lệ đậu trái có thể đạt tới 80-90%).

Phương pháp cho mãng cầu ra hoa rải vụ

Phương pháp cho mãng cầu ra hoa rải vụ

Cho mãng cầu ra hoa rải vụ bằng phương pháp bấm nhánh


Sử dụng phương pháp này có lợi thế là cây không bị mất sức nhiều do đó chi phí chăm sóc cũng giảm hơn so với phương pháp tuốt lá (giảm chi phí công suốt lá, phân bón vì cây không bị mất sức), số lượng trái ít hơn nhưng tỷ lệ trái đạt loại một cao ( loại từ 2-4 trái/kg chiếm khoảng 2/3 sản lượng), năng suất không thua suốt lá.


Mãng cầu là cây trồng truyền thống của nông dân xung quanh khu vực núi Bà Đen Tây Ninh. Những năm gần đây do có thị trường tiêu thụ nên diện tích mãng cầu tăng nhanh, nhất là ở xã Tân bình. Nếu để mãng ra hoa tự nhiên thì mùa khi thu hoạch sẽ vào thời điểm rộ của các loại cây ăn trái khác,  giá bán thường không cao nên hiệu quả kinh tế thấp. Nông dân Tây Ninh đã có nhiều kinh nghiệm làm cho mãng cầu ra hoa rải vụ và đã thu được lợi nhuận cao. Từ trước đến nay nông dân thường xử lý ra hoa trên cây mãng cầu bằng phương pháp làm rụng lá (suốt lá), hiện nay một số nông dân  áp dụng phương pháp bấm nhánh đã đạt hiệu qủa hơn. Sử dụng phương pháp này có lợi thế là cây không bị mất sức nhiều do đó chi phí chăm sóc cũng giảm hơn so với phương pháp tuốt lá (giảm chi phí công suốt lá, phân bón  vì cây không bị mất sức), số lượng trái ít hơn nhưng tỷ lệ trái đạt loại một cao ( loại từ 2-4 trái/kg  chiếm khoảng 2/3 sản lượng), năng suất không thua suốt lá.

Bấm nhánh tốt nhất nên bấm vào lúc khai thác trái vụ 2 (vụ đầu ta nên suốt lá), vì vụ hai trên nhánh cái có nhiều nhánh nhỏ, dùng kéo bấm tỉa những nhánh nhỏ vô hiệu, để lại những nhánh có màu da bò, và những nhánh này ta cắt chừa lại hai hoặc ba mắt mầm (khoảng 5cm), bấm rải đều cả cây và kết hợp bo tàn cho đẹp để dễ xịt thuốc sau này. Tỷ lệ bấm cành tuỳ theo thời vụ: tháng 4-7 (âm lịch) bấm khoảng 40-50%, tháng 7-9 (âm lịch) bấm 60-80%, tháng 10 trở đi cho đến mùa mưa bấm 100%.

Lưu ý: Theo kinh nghiệm của một số nông dân, khi bấm nhánh không nên sử dụng phân super lân + Kali, vì cây không mất sức đâm chồi mạnh dễ bị ra đọt mà không ra bông.

Ở  ấp Tân Hoà- Tân Bình – Thị Xã Tây Ninh, có anh nông dân Võ Văn Mẫn, là người đầu tiên áp dụng kỹ thuật bấm nhánh và anh đã thực hiện được khoảng 6 vụ, năng suất tương đương với phương pháp tuốt lá nhưng kích cỡ trái ở vườn mãng cầu của anh từ 2 – 3 trái/kg, vì vậy có giá trị thương phẩm cao và hiệu quả cao hơn phương pháp tuốt lá.

Trái mãng cầu thơm ngon bổ dưỡng

Trái mãng cầu thơm ngon bổ dưỡng

Mãng cầu xiêm có công dụng kháng khuẩn gây mầm bệnh và nấm gây bệnh. Rễ cây được dùng làm thuốc giải độc. Nước sắc cô đặc từ lá giúp ngừa viêm tấy rất hữu hiệu


Trái Mãng cầu xiêm không chỉ thơm ngon về khẩu vị mà còn chứa nhiều dưỡng chất có lợi cho cơ thể. Trong trái mãng cầu xiêm có nhiều carbohydrat, đặc biệt là đường fructose, vitamin C, B1 và B2, rất ít calori, chất béo và không chứa cholesterol. Trong 100 g Mãng cầu xiêm có 66 calori; 3,3 g chất xơ ăn kiêng; 20,6 g vitamin C; 1 g protein; 0,64 mg sắt; 27 mg phosphor; 29,6 acid ascorbic và 16,8 g carbohydrat. Các bộ phận như lá, rễ, hạt, cuống, vỏ, nạc… đều có tác dụng trong việc điều trị bệnh.

- Tác dụng kháng khuẩn, ngừa viêm tấy, điều trị vết thương: Chiết xuất từ vỏ cây, cuống, lá và rễ của cây Mãng cầu xiêm có công dụng kháng khuẩn gây mầm bệnh và nấm gây bệnh. Rễ cây được dùng làm thuốc giải độc. Nước sắc cô đặc từ lá  giúp ngừa viêm tấy rất hữu hiệu. Phần nạc dùng làm thuốc đắp lên vết thương giúp mau lành trong khoảng 3 ngày.

- Đề phòng cao huyết áp: Lá Mãng cầu xiêm được dùng để uống như trà giúp ngừa huyết áp.

- Chữa đau nhức các khớp: Nghiền nát lá đắp lên chỗ khớp bị đau nhức sẽ thấy hiệu quả rất rõ rệt.

- Ngừa giun sán: Hạt Mãng cầu xiêm nghiền nát uống giúp trị giun sán, ký sinh trùng (rễ cây cũng có tác dụng tương tự).

- Đẩy lùi bệnh hen suyễn: Vỏ cây không chỉ giúp ngừa bệnh hen suyễn mà còn giúp an thần. Loại trà chế biến từ lá Mãng cầu xiêm giúp làm dịu thần kinh khi bị căng thẳng, đem lại giấc ngủ ngon. Người xưa thường dùng nạc và lá cây này như phương thuốc gia truyền giúp an thần.

- Chữa bệnh tiêu chảy, nôn mửa: Hoa Mãng cầu xiêm làm giảm chứng tiêu chảy mạn tính. Ngược lại, hạt có tác dụng chống nôn.

- Bồi dưỡng sức khỏe: Thành phần vitamin B, C của nạc Mãng cầu xiêm dùng để chế biến món kem và nước ép rất tốt cho cơ thể.

- Chữa bệnh đường niệu, sỏi thận: Nước ép Mãng cầu xiêm có tác dụng trị bệnh về đường tiết niệu, tiểu ra máu và bệnh đau gan. Nước sắc từ rễ hoặc lá còn non giúp trị bệnh sỏi thận.

- Chữa bệnh chàm: Lá Mãng cầu xiêm được dùng như bài thuốc làm giảm bệnh chàm trên da. Đặc biệt, phần lõi trái là món ăn tốt cho trẻ bị yếu bàng quang cũng như giúp ngừa tật đái dầm thường xảy ra ở trẻ nhỏ.

Kỹ thuật trồng cây mãng cầu xiêm

Kỹ thuật trồng cây mãng cầu xiêm

Cây mãng cầu xiêm chủ yếu được trồng ở Nam Bộ và rãi rác ở Nam Trung Bộ. Mãng cầu xiêm là thực phẩm qúi nhờ giàu chất khoáng: lân, canxi và rất nhiều Vitamin B 1, B2,P,C có vị chua ngọt rất ngon khi làm nước sinh tố rất thích hợp cho người Phương Tây nhưng không thích hợp với khẩu vị người Á Ðông.


Trái mãng cầu xiêm lớn hơn mãng cầu ta rất nhiều, nặng trung bình từ 1-2 kg có khi lớn hơn nữa, vỏ ngoài nhẵn chỉ phân biệt múi nọ với múi kia nhờ mỗi múi có một cái gai cong, mềm vì vậy còn có tên là mãng cầu gai. Nguồn gốc từ châu Mỹ Latinh, được trồng ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới không có sương.


I. Ðặc điểm sinh thái

Lượng mưa thích hợp cho mãng cầu xiêm là 1.800 mm, chịu hạn và lạnh kém hơn mãng cầu ta. Ðộ pH thích hợp từ 5,0-6,5. Ở vùng đất mặn hoặc nhiễm mặn có độ pH thấp và chịu ảnh hưởng của thủy triều người ta trồng mãng cầu ghép trên gốc bình bát, các nơi khác người ta trồng mãng cầu xiêm bằng hạt.

II. Giống và đặc điểm thực vật

Mãng cầu xiêm thuộc loại cây tiểu mộc cao 6-8 m, tán lá xanh quanh năm, hoa ở thân hay các nhánh già, hoa lớn. Hiện nay, ở Nam bộ có hai thứ mãng cầu: mãng cầu xiêm ngọt và chua. Thứ ngọt lá và quả thường nhỏ hơn thứ chua, giá cao hơn. Nhưng thứ chua có năng suất cao, dễ bán và làm mứt hay kẹo dễ hơn.

III. Kỹ thuật trồng

1. Nhân giống


Ðối với mãng cầu xiêm khi trồng tùy theo điều kiện đất đai cụ thể từng nơi mà chúng ta có thể ghép hoặc trồng bằng hạt. Nếu đất nhiễm mặn hoặc phèn mặn ngập nước theo thủy triều thì trồng mãng cầu ghép trên gốc bình bát. Các vùng khác thì trồng bằng hột hoặc chiết (sau 2-3 năm sẽ cho trái).

2. Khoảng cách trồng

Nên trồng khoảng cách 3 x3 m, một số nơi trồng 2,5 x2,5 m

3. Phân bón

Cần bón cân đối NPK nên chọn các loại phân 10-10-10 với loại phân trên năm 1 bón 100g, năm thứ 2 bón 400 g, năm thứ 3 bón 800g, năm thứ 4 bó 1,2 kg/cây. Khi cây lớn bon gia giảm từ 2-3 kg/cây/năm. Nếu đất xấu hoặc trên đất cát nên bổ sung thêm 10-20 kg phân chuồng /cây/năm. Chia làm 2-3 lần bón, sau thu hoạch (cuối mưa) và khi cây nuôi quả (đầu + cuối mùa mưa).

4. Thụ phấn bổ sung cho mãng cầu xiêm

Nhìn chung hoa mãng cầu có nhụy cái trưởng thành trước nên đòi hỏi thụ phấn chéo, hoa không có mùi thơm nên hấp dẫn ít côn trùng, cánh hoa dày và khi nở hé ra ít, hoa lại mọc chúc xuống . Thường côn trùng thụ phấn không đủ nên cần thụ phấn bổ sung bằng tay để tăng sự đậu quả. sự thụ phấn thiếu sẽ làm quả méo mó không nở phồng về các phía,hoa thiếu thụ phấn sẽ đen rồi rụng. Khi thụ phấn bổ sung bằng tay, hột phấn thường lấy ở những hoa bìa tán cây hay ở các cành nhỏ vì chúng ít có cơ hội phát triển thành quả lớn ,các cành nhỏ yếu không mang nổi quả tới khi thu hoạch. Lấy hoa có cánh đã hé, phần nhị đực có màu kem là tốt, thu hoa vào buổi chiều, để hoa vào một cái hộp nhỏ đậy kín cho khỏi mất nước, sáng hôm sau dùng một que nhỏ đầu cuốn bông gòn chấm vào hột phấn có màu vàng nhạt, tay phải cầm que có chấm hột phấn, tay trái kẹp hoa muốn thụ vào kẽ ngón tay, đầu ngón cái banh cánh hoa rộng ra, quét hột phấn lên nướm nhụy cái lúc này có màu trắng và ướt dính, quét đều và nhẹ nhàng. Hoa cần thụ nên chọn hoa chọn mọc ở thân hoặc những cành to, có cánh đang hé nở ra. Quả phát triển từ hoa được thụ thường to và nở đều. Cây sẽ sai quả hơn. Tất nhiên một lần chỉ thụ được một số hoa, như vậy phải làm nhiều lần, cách nhau khoảng 4 ngày.

5. Sâu bệnh hại chính


Sâu gây hại phổ biến nhất vẫn là rệp sáp và các loại rầy miệng chích hút khác, làm giảm chất lượng, sản lượng. Trị bằng nhiều loại thốc như BI 58, Applaud Mipcin,…

Rệp và rầy ngoài việc chích hút nhựa làm hại trái, còn tạo điều kiện thuận lợi cho một số bệnh xâm nhập, nhất là bệnh thán thư gây những vết hoặc đen.

Cách đề phòng: trồng thưa, giữ vệ sinh trong vườn không để cành lá bị bệnh vương vãi kể cả các loại trái cây khác cũng bị thán thư phá hại như ổi, xoài. Xịt thuốc benlat C, Kasuran BTN, Aliette 80 BTN,…

Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017

Kinh nghiệm trồng khế

Kinh nghiệm trồng khế

Thường xuyên giữ ẩm cho đất nền dưới bóng tán, nhưng không để ngập nước vài ba ngày liền sẽ dẫn đến rụng quả hàng loạt, chất lượng kém.


Đã hàng chục năm nay, vườn khế nhà ông Phạm Ngọc Mạnh ở thị trấn Nam Sách năm nào cũng bội thu, mặc dầu nhiều vườn kế cận năm được, năm mất mùa do bất lợi của ngoại cảnh (môi trường), do chủ nhân thích thì chăm bón, quên thì để "phóng sinh" v.v...

Nhìn những gốc khế ngọt, khế "rôn rốt", khế chua, cây nào cũng trĩu quả, quả nào cũng nây đều, bóng bẩy, không vết sâu bệnh v.v... nhiều người hỏi ông "bí quyết" trồng khế đều được ông hồ hởi trả lời ngay:

– Thứ nhất đó là phải nhân giống từ cây khế mẹ giống tốt (cho năng suất cao, phẩm chất tốt, sạch bệnh), nhân từ hạt bền cây hơn nhưng lâu cỗi, còn chiết (hoặc ghép lẫn các giống khế thì lấy gốc ghép là cây khế địa phương, cành hoặc mắt ghép là khế đặc sản có đủ các tiêu chuẩn trên).

– Trồng cây giống gốc bụ bẫm sẽ cho cành phát triển, cành la nhiều gần gốc sẽ cho sai hoa, đậu quả, quả lớn nhanh; gốc cách gốc khoảng 6m là vừa. Đất trồng khế phải tơi hả, xốp. Cần bón thêm phân chuồng hoai mục mỗi gốc lót từ 20 – 30kg, bón thúc đón hoa và đền quả trước và sau thu hoạch 4 – 6 tuần để bồi dưỡng và lại sức cho cây.

– Tuyệt đối không lạm dụng phân hóa học (nhất là đạm) vì rất dễ làm cho khế bị sâu bệnh, "tốt lá xấu hoa". Nguy hiểm nhất vẫn là sâu đục thân càng làm cho khế vốn ròn, tự gẫy khi mang quả, nguy hiểm cho người thu hoạch. Chỉ nên lót NPK vi sinh để bồi dục, cải tạo lý hóa tính cho đất mà thôi! (mỗi gốc không quá 3kg rải đều dưới bóng tán rồi xới xáo, kết hợp nhặt cỏ dại).

– Khi đường kính gốc từ 10cm trở lên, vỏ ngoài hóa bần thì quét nước vôi vào đó cho đến các cành la gần gốc để phòng chống sâu bệnh và tăng độ phản xạ ánh sáng giúp các lá khuất tán quang hợp tạo nhiều chất sống cho cây. Kết hợp với tỉa bỏ cành tăm để tập trung nhựa sống cho các cành "chủ".

Thường xuyên giữ ẩm cho đất nền dưới bóng tán, nhưng không để ngập nước vài ba ngày liền sẽ dẫn đến rụng quả hàng loạt, chất lượng kém.

Cách trồng cây khế Bonsai

Cách trồng cây khế Bonsai

Cây khế ngoài trồng lấy bóng mát và quả ăn còn được trồng làm cây bonsai đẹp với nhiều trái chín trĩu cành thể hiện sự sung túc, đầy đủ.


Cây khế bonsai thích hợp trồng làm cảnh sân nhà, sân vườn… Hoặc cây trồng chậu trang trí tiền sảnh, mặt tiền quán cà phê, nhà hàng… Cây khế bonsai rất được ưa thích và có giá trị.

Các cây khế Bonsai có đường kính từ 10 cm đến 20 cm, thích hợp trồng biệt thự, sân vườn. Các cây Khế có kích cỡ lớn hơn, từ 20 – 30 cm hoặc hơn 30cm, thường thích hợp trồng khu biệt thự, sân vườn cần trồng để có cây xanh cảnh quan phủ xanh ngay.

Yếu tố đất trồng


Loại đất phù hợp cho cây khế là nhiều mùn, dễ tiêu thoát nước, tơi xốp vì rễ khế dễ bị thối khi bị ngập úng. Độ pH của đất thích hợp là 5,5 đến 6,5. Cây khế rất cần nước trong giai đọan nuôi quả từ tháng 6 đến cuối năm, vì khô hạn sẽ làm quả bị rụng nhiều. Do vậy khi nuôi quả, phải đủ ẩm cho vườn khế nếu cần thì phải tưới.

Yếu tố nhiệt độ


Cây khế chịu được biên độ nhiệt độ rộng. Cây lớn có thể chịu được rét đậm, rét hại và nắng nóng. Ở nhiệt độ 22 đến 25oC, quả chín đẹp mã và vị thơn ngon, cho nên lứa quả chín vào cuối thu là tốt nhất.

Yếu tố nước

Thời tiết khô hạn từ tháng 6 đến cuối năm sẽ ảnh hưởng đến quá trình ra hoa kết quả của cây khế. Chính vì vậy, cần tưới nước thường xuyên cho chậu cảnhtrồng khế trong giai đoạn này. Một mẹo nhỏ để giữ ẩm cho cây khế của bạn là hãy đặt chậu cảnh dưới bóng râm của giàn dây leo hoặc những cây cảnh có tán rộng hơn. Như vậy, sẽ hạn chế được ánh nắng rọi trực tiếp vào cây khế, tránh làm hao hụt lượng nước.

Tỉa cành và bón phân khoa học

Cây Khế là loại cây ưa phân bón hữu cơ. Phân chuồng, kali, tro bếp, vôi bột là những loại phân bón thích hợp cho chậu cảnh trồng khế. Cần sử dụng thêm phân bón tổng hợp và điều tiết trong từng giai đoạn phát triển của cây khế.

Yếu tố ánh sáng


Khế không ưa ánh sáng chiếu thẳng, nhất là khế ngọt mà ưa bóng râm, cho nên trồng xen khế trong vườn có các cây cao, che bớt ánh nắng là rất tốt.

Phòng trừ sâu bệnh cho cây khế

Chưa có loại bệnh nấm, virus nào nguy hiểm đối với khế. Các loại sâu đáng chú ý là ruồi đục quả, sâu non thuộc bộ cánh phấn, đục vào quả và có thể ăn cả hoa và quả non.

Trong dân gian, cây khế Bonsai là loài cây gắn liền với đời sống dân dã được trồng ở các vùng thôn quê. Nó cũng là hình ảnh thân thuộc trong câu chuyện cổ tích đã đi vào tâm trí bao thế hệ.

Đối với tín ngưỡng dân gian, những người kỹ tính thường chọn cây khế để trồng trong các nhà thờ họ, như là sự kỳ vọng về sự trường tồn, thịnh vượng cho cả gia tộc mình.

Cách trồng cây khế ngọt trong chậu tại nhà

Cách trồng cây khế ngọt trong chậu tại nhà

Trồng khế ngọt trong chậu hiện đang được nhiều người ưa chuộng. Bạn có thể bắt gặp những cây khế ngọt dù thấp nhỏ vẫn ra hoa, kết quả ngay cả khi được trồng trong chậu. Muốn có một cây khế ngọt để vừa làm cảnh vừa thu quả không khó, chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc sau:


1. Chọn thời vụ trồng thích hợp


Cây khế thường phát lộc vào mùa xuân, ra hoa vào đầu hạ và kết quả vào cuối thu. Vì vậy, thời điểm thích hợp để trồng khế trong chậu là vào vụ xuân hoặc vụ thu. Trồng và chăm sóc đúng thời vụ, cây sẽ cho hoa vào thời tiết ấm và khô. Tỉ lệ kết quả cũng vì thế mà tăng lên. Chọn thời vụ thích hợp sẽ giúp cây khế ngọt của bạn kết quả vào đúng vụ thu, là vụ cho quả chín đẹp và thơm ngon nhất.

2. Chọn đất trồng dễ tiêu thoát nước

Là loại cây có rễ dễ bị thối khi ngập úng, khi trồng cây khế ngọt  trong chậu – vốn là môi trường hạn chế lượng đất, bạn cần chọn đất mùn tơi xốp. Độ pH của đất thích hợp là 5,5 đến 6,5. Trước khi cho đất này vào nên lót một ít sỏi hoặc đá xuống dưới chậu cảnh để dễ thoát nước. Kinh nghiệm của nhiều người trồng khế lâu năm cho thấy mỗi năm nên thay 1/3 số đất trong chậu bằng đất mới để có đủ chất dinh dưỡng cho cây.

3. Điều hòa lượng nước tưới

Trồng trong chậu đồng nghĩa với việc khế rất khó tìm lượng nước ngầm trong lòng đất, vì vậy, bạn cần cũng cấp đủ nước cho cây trong những giai đoạn cần thiết. Thời tiết khô hạn từ tháng 6 đến cuối năm sẽ ảnh hưởng đến quá trình ra hoa kết quả của cây khế. Chính vì vậy, cần tưới nước thường xuyên cho cây khế trong giai đoạn này. Một mẹo nhỏ để giữ ẩm cho cây khế của bạn là hãy đặt chậu cảnh dưới bóng râm của giàn dây leo hoặc những cây cảnh có tán rộng hơn. Như vậy, sẽ hạn chế được ánh nắng rọi trực tiếp vào cây khế, tránh làm hao hụt lượng nước.

4. Tỉa cành và bón phân

Khế là loại cây ưa phân bón hữu cơ. Phân chuồng, kali, tro bếp, vôi bột là những loại phân bón thích hợp cho trồng khế. Cần sử dụng thêm phân bón tổng hợp và điều tiết trong từng giai đoạn phát triển của cây khế. Ngoài ra, sau vụ thu hoạch quả, trước khi khế ra hoa vụ mới cần cắt tỉa bỏ bớt những cành già, cành sâu bệnh, cành mọc chen chúc, cành yếu…Nếu cây khế có tán quá dày choán hết diện tích chậu nên tỉa bớt cho tán cây thông thoáng. Như đã nói ở trên, khế không ưa ánh nắng rọi trực tiếp nên cần cắt tỉa sao cho có khung tán rộng, cành phân bố đều trong tán. Như vậy sẽ tránh được ánh nắng trực xạ làm nứt vỏ và nám quả.

Để khế ngọt ra trái quanh năm

Để khế ngọt ra trái quanh năm

Cắt bỏ tất cả các cành trên cây càng tốt. Làm như vậy khế ngọt bị đau tức sẽ ra nhiều lộc ở các kẽ lá và các chùm hoa nhỏ li ti cũng sẽ mọc ra để cho quả


Khế ngọt ăn tươi như các loại trái cây khác, làm mứt, nước quả, …trái khế ngọt có tính nhuận trường, khích thích ăn ngon miệng và giải nhiệt. Khế giàu vitamin C (25 – 40 mg/100 g thịt quả), carotene (150 (g) và cho khoảng 25 – 35 calo/100 g phần ăn được. Để cây khế ra trái quanh năm, chúng ta có thể tham khảo cách làm sau :

Khế ngọt từ 3 năm trở đi đã cho quả khá nhiều, đây là thời gian bắt đầu sử dụng các biện pháp tác động.

- Chon thời gian tác động:

Sau khi thu hái hết lứa trái khế ngọt cuối cùng ta dọn vệ sinh quanh gốc, xới xáo nhổ cỏ đốn tỉa bỏ hết các cành con, cành còi cọc, cành mọc sát đất. Bón phân hồi sức cho cây bằng 10 – 15kg phân chuồng hoai mục, 1kg phân NPK. Tưới nước giữ ẩm thường xuyên

- Điều kiện thứ hai quyết định đến ra quả quanh năm của khế là cắt bỏ phần ngọn non của các cành khế đang phát triển chừng 20cm. Cắt bỏ tất cả các cành trên cây càng tốt. Làm như vậy khế ngọt bị đau tức sẽ ra nhiều lộc ở các kẽ lá và các chùm hoa nhỏ li ti cũng sẽ mọc ra để cho quả. Khi hoa đã ra ta tiếp tục thúc phân và tưới nước cho cây để nuôi quả.

Chú ý: Đối với cây to cao, nhiều cành lá ta chỉ chọn bẻ những cành to thấp, những cành nhỏ hơn bỏ lại rồi lại bẻ cho đợt tiếp theo.

Thứ Hai, 24 tháng 7, 2017

Quả khế cải thiện sức khỏe sau những cơn say

Quả khế cải thiện sức khỏe sau những cơn say

Y học cổ truyền của nhiều nước dùng khế để cải thiện sức khỏe sau những cơn say rượu bí tỉ và trị say nắng…


Quả khế có rất nhiều công dụng tốt cho sức khỏe mà không phải ai cũng biết đến. Trong khế chứa nhiều vitamin C, có thể ngăn ngừa và trị bệnh cảm, đồng thời giúp cơ thể tổng hợp chất collagen làm da mặt mịn màng, tràn đầy sức sống. Ăn khế rất có lợi với những người bị rụng tóc do chứa hàm lượng vitamin nhóm B cao, cần cho sự tăng trưởng của tóc…

Y học cổ truyền của nhiều nước dùng khế để cải thiện sức khỏe sau những cơn say bí tỉ và trị say nắng… Nước ép từ quả khế có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh chàm bằng cách thoa trực tiếp vào những vùng da bị ảnh hưởng. Người mắc bệnh đái tháo đường cũng có thể cắt quả khế ra và đun sôi với một chén nước ở lửa nhỏ đến khi còn lại khoảng nửa chén, chia ra uống 2 lần/ngày.

Đông y còn dùng hoa khế để trị bệnh sốt rét, lấy lá khô chữa ung loét đường tiêu hóa.

Lưu ý: Những người mắc các bệnh về thận cần tránh ăn khế vì khế có chứa nhiều oxalic acid. Chất này sẽ tích lũy ở những quả thận yếu ớt. Dấu hiệu nhận biết cơ thể không thích hợp để ăn khế là sau khi ăn khế từ 1-5 giờ, cơ thể cảm thấy buồn nôn, ói mửa, nấc cụt, mất ngủ…/.

Kỹ thuật trồng khế ngọt

Kỹ thuật trồng khế ngọt

Đất trồng khế ngọt nên chọn loại đất tốt, giàu mùn có nguồn nước tưới. Nếu ở vùng đồi thì chọn đất trồng ở chân đồi.


1. Thời vụ trồng:

Ở miền Bắc, vụ xuân là tốt nhất (tháng 2-3) và có thể là vụ thu (tháng 8-10). Kích thước hố: 0,6x0,6x0,6m. Nếu đất xấu 1,0x1,0x0,8m. Khoảng cách cây 5x6m hoặc 5x5m. Khế ưa bóng râm nên có thể trồng xen trong vườn xoài, mít, nhãn...

2.Chăm sóc:

- Chọn đất ẩm, nhiều màu và nhiều bóng râm: Chú ý cắt tỉa sao cho có khung tán rộng, cành phân bố đều trong tán không cho nắng rọi vào thân chính. Khi cây lớn, cành quá dày thì nên tỉa bớt cho tán cây thông thoáng: Bỏ bớt cành già, cành mọc chen chúc, cành sâu bệnh, cành yếu... Thời gian cắt tỉa thích hợp là vào sau vụ thu hoạch quả, trước lúc ra hoa.
- Mỗi năm sau đợt thu quả (cuối năm) bón cho mỗi gốc 20-30kg phân chuồng. Khi còn nhỏ bón cho mỗi cây 400-500g phân NPK (tỷ lệ là 10:12:7 hay 16:16:8). Cây bắt đầu cho quả có thể bón tăng thêm liều lượng 500-800g/cây (15:15:15). Chú ý tăng cường phân kali.
- Với cây lớn cho nhiều quả bón 3-4kg phân NPK hỗn hợp/cây, chia ra 3-4 lần trong năm. Cách nhau 3-4 tháng bón một lần. Phòng trừ sâu bệnh: Chưa có loại bệnh nấm, virus nào nguy hiểm đối với khế. Các loại sâu đáng chú ý là ruồi đục quả, sâu non thuộc bộ cánh phấn, đục vào quả và có thể ăn cả hoa và quả non. Thu hoạch: Sau khi ra hoa khoảng 100 ngày thì khế chín, tuỳ theo màu sắc quả biết được mức độ chín để thu hoạch cho phù hợp với nhu cầu thị trường. Khế là loại không chín thêm sau khi thu hoạch, do vậy không nên hái xanh. Quả khế dễ giập chỉ nên thu hoạch bằng tay, nếu trên cao thì thu hoạch bằng sào có gắn rọ ở đầu để hái.

3.Phòng trừ sâu bệnh:

Chưa có loại bệnh nấm, virus nào nguy hiểm đối với khế. Các loại sâu đáng chú ý là ruồi đục quả, sâu non thuộc bộ cánh phấn, đục vào quả và có thể ăn cả hoa và quả non.

4. Thu hoạch:


Sau khi ra hoa khoảng 100 ngày thì khế chín, tuỳ theo màu sắc quả biết được mức độ chín để thu hoạch cho phù hợp với nhu cầu thị trường. Khế là loại không chín thêm sau khi thu hoạch, do vậy không nên hái xanh. Quả khế dễ giập chỉ nên thu hoạch bằng tay, nếu trên cao thì thu hoạch bằng sào có gắn rọ ở đầu để hái.

Lợi ích đối với sức khỏe của quả Hồng ít người biết

Lợi ích đối với sức khỏe của quả Hồng ít người biết

Hồng là một loại cây ăn trái thuộc chi Thị (Diospyros). Quả hồng sắc vàng cam đến đỏ cam tùy theo giống; cỡ nhỏ đường kính dưới 1 cm cho tới cỡ lớn đường kính đến 9 cm. Dáng quả hình cầu, hình con cù, hay dạng quả cà chua bẹp. Đài hoa (calyx) thường dính với quả khi chín.


Loài hồng phổ biến nhất cho trái là hồng Nhật Bản (D. kaki). Trái chín thì ngọt, ít chua, thịt mềm, có khi bị xơ. Loài hồng này, nguyên thủy xuất phát từ Trung Hoa, là một loài cây thay lá, thường rụng lá khi ra quả (deciduous). Cây hồng sau được trồng khắp miền Đông Á, đến thế kỷ 19 thì du nhập vào California và châu Âu.

Giống (cultivar) hồng mòng (Hachiya) có dáng con cù với lượng tannin cao khi còn xanh nên vị chát. Phải đợi thật chín mềm mới ăn được.

Giống hồng giòn (Fuyu) có dáng hình bẹp. Lượng tannin tuy không kém giống hồng mòng nhưng trong quá trình chuyển từ xanh sang chín, giống hồng giòn mất tanin rất nhanh nên trái có thể ăn được sớm hơn khi còn giòn.

Để làm chóng chín, hồng mòng thường được đem rấm. Cách rấm có thể dùng ánh sáng, khí nóng, trấu, cồn, thán khí hay êtilen để ép chín. Một cách khác là đem ngâm nước tro để trái hồng biến chất, mất vị chát. Loại hồng này gọi là hồng ngâm.

Quả hồng có thể ăn tươi hay phơi khô. Hồng khô cần hai đến ba tuần phơi ngoài trời rồi sấy thêm trước khi thành phẩm.

Tại Hàn Quốc, hồng khô được dùng cất rượu, làm giấm

Hồng ngâm đã đi vào tục ngữ tiếng Việt với câu "Tiếc đĩa hồng ngâm cho chuột vọc". Ý muốn nói phí công, phí của tựa một vật quý như hồng ngâm mà để chuột làm hư mất.

Gỗ hồng (D. virginiana) được chuộng dùng làm gậy đánh golf cho tới đầu thế kỷ 20 khi gậy bằng gỗ bị thay thế bằng gậy đúc từ kim loại. Gậy thụt bida cũng hay dùng gỗ cây hồng.

Ngày nay gỗ hồng thường dùng làm cung bắn tên vì độ rắn của gỗ.

Hồng là loại trái cây rất phổ biến tại Việt Nam và được nhiều người ưu thích. Quả hồng không đơn giản là thứ quả tráng miệng thơm ngon mà còn là nguồn cung cấp vitamin và chất khoáng dồi dào như vitamin A, C; photpho, canxi, sắt... Hơn nữa, hồng còn có tác dụng chữa nhiều loại bệnh mà ít người biết đến.

Chống viêm, nhiễm trùng

Quả hồng chứa một lượng khá lớn chất catechin và polyphenol (chất chống oxy hóa). Các chất này có khả năng chống viêm rất tốt, nhờ đó, ăn hồng giúp hỗ trợ chống viêm cũng như nhiễm trùng mạnh.

Muốn có một đôi mắt sáng, bạn hãy bổ sung quả hồng vào thực đơn mỗi ngày. Nguồn vitamin A dồi dào từ quả hồng sẽ giúp cải thiện thị lực, tăng cường tầm nhìn cho đôi mắt. Ngoài ra, lượng sắt trong quả hồng còn giúp hỗ trợ sản xuất hồng cầu trong máu.

Chống ung thư


Vitamin A, shibuol, a-xít betulinic và các chất chống oxy hóa khác chính là các 'chiến binh' chống lại các gốc tự do trong tế bào - tác nhân gây tổn thương tế bào và dẫn đến căn bệnh ung thư.

Tăng cường hệ miễn dịch

Quả hồng tuy nhỏ nhưng lượng vitamin C có trong đó lại không hề nhỏ. Vitamin C chính là yếu tố ngăn ngừa các bệnh như cảm cúm, cảm lạnh, các bệnh nhiễm trùng phổi như hen suyễn. Vì vậy, ăn hồng thường xuyên giúp hệ miễn dịch của cơ thể khỏe mạnh hơn.

Tốt cho hệ tiêu hóa


Loại quả hồng vàng chứa chất tanin có chức năng điều tiết chuyển động của đường ruột, qua đó hỗ trợ điều trị các bệnh tiêu. Không chỉ vậy, quả hồng rất giàu chất xơ nên việc ăn hồng thường xuyên sẽ giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh hơn. Quả hồng xanh giã nát, cho thêm nước đun sôi để nguội, nước uống này chữa tiêu chảy rất hiệu nghiệm.

Hỗ trợ bệnh nhân tiểu đường


Bệnh nhân tiểu đường luôn phải đặc biệt chú ý đến chế độ ăn, tuy nhiên quả hồng lại là loại trái cây có thể ăn bất cứ lúc nào. Chìa khóa nằm ở lượng chất xơ phong phú của quả hồng, giúp người bị căn bệnh này giảm cảm giác thèm ăn và mức độ đói. Hơn nữa, loại trái cây này còn góp phần điều chỉnh lượng đường trong máu, rất tốt với bệnh nhân tiểu đường.

Tốt cho người bị huyết áp cao


Những người bị cao huyết áp cần phải tránh những loại thực phẩm có chứa nhiều muối. Hồng được biết đến là loại trái cây có lượng natri cực thấp, đồng thời chất shiboul có tác dụng làm hạ huyết áp nên bệnh nhân cao huyết áp có thể đưa hồng vào thực đơn hàng ngày.

Hỗ trợ giảm cân


Quả hồng chứa rất ít calo và chỉ cung cấp 31 g carbonhydrate trong tổng trọng lượng trung bình của một quả là 168 g. Do vậy, những người muốn giảm cân có thể sử dụng loại trái cây này để hỗ trợ quá trình giảm cân.

Chống xuất huyết tự nhiên


Người Nhật Bản thường sử dụng quả hồng để kiểm soát chảy máu do bị thương. Trong Đông y, vỏ, rễ, thân cây và tai quả hồng cũng được sử dụng trong các bài thuốc cầm máu.

Chữa nấc

Có nhiều bài thuốc chữa nấc đơn giản, dễ kiếm và khá rẻ tiền mà lại rất hiệu nghiệm chỉ từ những quả hồng. Có thể dùng tai hồng sao vàng, tán thành bột mịn rồi uống với rượu là có thể chữa khỏi nấc. Ngoài ra, có thể dùng tai hồng (100g), đinh hương (8g) và gừng tươi (5 lát) sắc lấy nước uống nhiều lần trong ngày cũng trị nấc rất hiệu quả.

Các bài thuốc này có thể trị dứt điểm bị nấc trong nửa ngày, lâu nhất là 3 ngày trong trường hợp bệnh đã kéo dài.

Lưu ý: Không nên ăn quá nhiều quả hồng bởi vì nó có chứa fructose, có thể có hại cho sức khỏe của bạn với số lượng quá mức.

Chọn quả hồng ngâm ngon, không hóa chất

Chọn quả hồng ngâm ngon, không hóa chất

Chọn hồng ngâm ngon, không hóa chất sẽ mang lại an toàn cho bạn. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết cách lựa chọn và phân biệt được những quả hồng thơm ngon, không bị ngâm hóa chất.


Lợi ích từ quả hồng ngâm


Hồng ngâm là loại quả ngon, chứa nhiều chất khoáng tốt cho cơ thể Hồng ngâm là loại quả ngon, chứa nhiều chất khoáng tốt cho cơ thể

Hồng ngâm ngoài cung cấp một giá trị năng lượng như nhiều trái cây khác thì trong loại trái cây này có khá nhiều khoáng chất tốt cho sức khỏe như mangan - chất khoáng vi lượng giúp điều hòa thần kinh, tăng cường sự phát triển của trẻ em.

Ngoài ra trái hồng ngâm còn có khá nhiều kali tốt cho những người bị cao huyết áp, làm việc trí óc và người hoạt động nhiều được hoạt động tốt hơn. Bên cạnh đó, quả hồng còn có kẽm, đồng và vitamin C, axit amin… rất tốt cho sức khỏe.

Cách chọn hồng ngâm ngon, không hóa chất

Có thể phân biệt hồng ngâm hóa chất bằng mắt thường có thể phân biệt hồng ngâm hóa chất bằng mắt thường

- Trên thị trường có 2 loại hồng ngâm. Loại hồng ngâm 1 là loại hồng ngâm vôi. Đây là loại mà khi bán vẫn còn 1 lớp vôi bám ở bên ngoài. Hồng này được ngâm bẵng nước vôi. Loại này ăn cũng không vấn đề gì nếu không phải là hồng Trung Quốc.

Loại hồng ngâm thứ hai nhìn như trái hồng xanh, ăn giòn và ngọt. Đây thường là loại hồng ngâm Đà Lạt vậy nên, bạn nên lựa những trái hồng già. Sau khi mua về, bỏ vào bao nylon cột kín lại, bỏ vào thùng nước ngâm khoảng 7,8 ngày vớt ra ăn. Hồng ăn lúc này sẽ ngọt và giòn mà không chất bảo quản.

- Ở nhiều chợ, bạn có thể thấy có loại hồng ngâm còn được lọc sạch cuống và được rửa kỹ càng rồi mới đem bán. Nhìn qua, bạn cảm giác loại hồng này an toàn. Song thực chất bạn không nên mua loại hồng này vì thực chất thuốc bảo quản đã được sử dụng cho hồng ngâm từ trước đó rồi.

- Để biết hồng có chứa hóa chất hay không, bạn có thể quan sát nũm quả hồng ngâm bằng mắt thường. Nếu như quả hồng đã bị phun thuốc bảo quản thì nũm quả hồng thường xuất hiện những vùng trắng.

- Khi mua hồng về nhà, nếu quả hồng ngâm không được phun thuốc sẽ xuống mã rất nhanh. Ngay cả khi để tủ lạnh sau 1 - 2 ngày, chúng vẫn có dấu hiệu bị thâm đen, nũm mềm, giảm vị ngọt. Ngược lại, nếu quả hồng bị phun thuốc thì thời gian bảo quản thường lâu hơn.

- Vì khó phân biệt bằng mắt thường nên khi bà nội trợ nên mua hồng ngâm ở những địa chỉ uy tín. Bạn nên mua hồng quả bé, tuy nhìn không ngon mắt nhưng ăn khá ngon. Khi để quả hồng tới hôm sau cũng thấy chín hoặc hỏng dần.

- Tuy hồng ngâm là một loại quả ngon và bản chất của nó khá bổ dưỡng, nhưng cũng nên ăn hạn chế trước khi chưa biết rõ thực hư. Đặc biệt, trước khi ăn, nên rửa sạch vỏ rồi gọt, gọt kỹ rồi tiếp tục ngâm nước muối để lọc bớt được chất độc hại ít nào hay ít đó.

Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2017

Công nghệ bảo quản và sấy hồng

Công nghệ bảo quản và sấy hồng

Công nghệ này được áp dụng bảo quản cho hai loại hồng dấm đỏ và hồng ngâm, quả hồng vẫn giữ được màu sắc, mùi vị, trạng thái tự nhiên gần như ban đầu, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm được đảm bảo.


Nâng cao chất lượng chế biến


Sau gần 3 năm nghiên cứu, chế tạo, cuối tháng 10 - 2003, Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch (Bộ NN&PTNT) đã đưa ra ứng dụng mô hình công nghệ máy bảo quản và sấy hồng phục vụ cho bà con nông dân 2 tỉnh Thừa Thiên- Huế và Hòa Bình. Đây là một công nghệ tương đối hiện đại có khả năng sấy hồng với sản lượng và quy mô lớn, đảm bảo được chất lượng tự nhiên của hồng.

Hai loại công nghệ trên đã được KS Hoàng Kim Phượng cùng các cộng sự thuộc Phòng Nghiên cứu chế biến nông sản của Viện tiến hành nghiên cứu từ năm 2001. Theo KS Phượng, trước đây, việc bảo quản và sấy hồng thường được các hộ nông dân làm theo phương pháp thủ công là chính, nên thời gian bảo quản cũng như chất lượng sấy còn rất thấp. Mô hình bảo quản và sấy hồng đầu tiên đã được Viện lắp đặt tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên- Huế. Hai công nghệ được trình bày dưới đây là những thiết bị lần đầu tiên được ứng dụng tại nước ta.

Công nghệ bảo quản hồng


Công nghệ này được áp dụng bảo quản cho hai loại hồng dấm đỏ và hồng ngâm. Các bước tiến hành bảo quản như sau: thu hoạch hồng xong, lựa chọn quả, tiến hành tẩy rửa, đưa hồng nhúng vào chất bảo quản, sau đó hong khô và đóng túi (khi đóng túi phải sử dụng chất hấp thụ Ethylen- R3), cuối cùng đem xếp lên giàn bảo quản. KS Phượng cho biết: nếu tiến hành sấy theo quy trình này, thời gian bảo quản sẽ được nâng lên 45- 60 ngày (tuỳ giống) so với 15- 20 ngày nếu sấy bằng phương pháp thủ công. Ưu điểm của thiết bị bảo quản này là ở nhiệt độ thường, quả hồng vẫn giữ được màu sắc, mùi vị, trạng thái tự nhiên gần như ban đầu, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm được đảm bảo, đặc biệt tổng tổn thất trong quá trình bảo quản giảm xuống còn dưới 15%.

Để bảo quản hồng được tốt, trong quá trình bảo quản cần chú ý nguyên liệu bảo quản phải tươi tốt, không sâu bệnh, quả đạt độ già khi thu hái (vỏ quả màu xanh chuyển sang xanh vàng). Sử dụng chất hấp thụ R3 và chất chống nấm Bendo đúng liều lượng (2,5 gam R3/kg quả, 1,5 gam Bendo/lít nước). Nếu bảo quản với liều lượng như trên sẽ đạt kết quả tốt, dư lượng chất kháng sinh trong thịt quả hạ xuống còn dưới 1ppm. Ngoài ra, phải luôn giữ cho kho bảo quản sạch sẽ, môi trường thoáng mát, tiệt trùng.

Sấy hồng bằng hệ thống máy sấy gián tiếp

Theo KS Hoàng Kim Phượng, hiện nay ở nước ta mới có vùng nguyên liệu hồng từ Đà Lạt đã cho ra sản phẩm hồng sấy từ quả hồng dấm đỏ, kỹ thuật sấy tại đây vẫn rất thủ công, do sấy trực tiếp trên lò than, nên chất lượng vệ sinh không được đảm bảo. Máy sấy hồng mà các nhà khoa học của Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đưa ra lần này là một hệ thống máy sấy gián tiếp với năng suất 200kg/mẻ. Đặc biệt hệ thống có thể sấy được một số giống hồng trước đây chưa thể thực hiện bằng lò thủ công như hồng Nhân Hậu ở Huế, hồng Thạch Thất ở các tỉnh phía Bắc. Quy trình sấy hồng được tiến hành theo các bước sau. Trước tiên là khâu chọn nguyên liệu, hồng sấy phải tươi, đem dấm chín, lựa chọn những quả đạt tiêu chuẩn, rửa sạch, sau đó gọt sạch vỏ, xếp đều lên khay và sấy. Hồng được sấy xong ép tạo thành hình rồi tiếp tục đem sấy lần 2, mang hồng ra để nguội và đóng gói. Trong quá trình sấy, cần lưu ý quả hồng phải cứng, vỏ quả đang ở màu vàng đỏ. Nhiệt độ sấy luôn luôn duy trì ở mức 650C, khi sấy phải thường xuyên nắn, ép hồng để tạo hình. Theo PGS- TS. Trần Đức Dũng- Trưởng phòng Nghiên cứu chế biến nông sản, Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, sau khi ứng dụng tại Huế cho thấy, sản phẩm hồng sấy đạt chất lượng rất cao, nếu có đủ điều kiện trong thời gian tới Viện sẽ tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh công nghệ và ứng dụng rộng rãi ở nhiều địa phương khác.

Trồng hồng giòn không hạt Lạng Sơn

Trồng hồng giòn không hạt Lạng Sơn

Cây hồng giòn không hạt Lạng Sơn là cây ưa khí hậu á nhiệt đới, có khả năng chịu hạn khá cao, có tính thích ứng rộng, có thể trồng được trên nhiều loại đất với điều kiện là tầng đất dày, thoát nước.


Cây hồng giòn không hạt Lạng Sơn là cây ưa khí hậu á nhiệt đới, có khả năng chịu hạn khá cao, có tính thích ứng rộng, có thể trồng được trên nhiều loại đất với điều kiện là tầng đất dày, thoát nước, độ pH = 5-5,5. Loại cây này rất ưa ánh sáng, ở vùng đồi núi người ta chọn hướng dốc có nhiều ánh sáng. Những vùng đủ ánh sáng cây phân cành thấp hơn, tán lá rộng, quả phân bố đều trên tán lá.

Thời vụ trồng: tốt nhất là trồng vào tháng 1-2 (trước và sau Tết Nguyên Đán), lúc này cây hồng có bộ lá đã già, vàng, đang rụng hoặc đã rụng hết lá, trong cây chứa nhiều chất dự trữ nhất nên dễ sống, khi gặp nhiệt độ cao dễ dàng mọc mầm mới.

Mật độ và khoảng cách trồng: ở vùng đất đồi trồng với mật độ 400-500 cây/ha với cự ly trồng là 5x5m, 5x4m ở vùng dốc thấp, đồng bằng trồng với mật độ là 277-330 cây/ha với cự ly trồng là 6x6m, 6x5m.

Đào hố, bón phân lót: bộ rễ hồng yêu cầu đất thoáng nên đất trồng phải được chuẩn bị trước. Với đất bằng phẳng đào hố 80x80x70cm hoặc 70x70x60cm, bón lót 15-20kg phân chuồng + 0,5kg lân, với đất đồi đào hố 100x100x90cm hoặc 90x90x80cm, bón lót 20-30kg phân chuồng + 0,7kg phân lân.

Cách trồng: hố trồng đã được bón lót và lấp hố trước khi trồng 15-20 ngày, cho cây vào hố, bóc vỏ bầu nilon cho đất nhỏ vào lèn chặt đến ngang miệng bầu, lấp đất cao hơn mặt bằng 5-10cm, xung quanh tạo gờ giữ nước, cắm 3 cọc xung quanh, dùng dây buộc chặt lại chống gió lay, dùng rơm rạ khô, cỏ khô ủ gốc cây. Thời kỳ đầu nên trồng xen các loại như lạc, đậu tương cách xa gốc 0,5-0,8cm, cần làm sạch cỏ trong tán và phủ gốc.

Tạo hình, tỉa cành, tỉa tán: tạo hình cây con tiến hành 2-3 năm đầu chỉ để một thân chính cao 0,8-1m, để 4-5 cành, cấp I, trên cành cấp I để 4-5 cành cấp II, tạo cho các cành phân đều ra các phía. Cắt tỉa các cành nhỏ yếu, cành mọc đứng, cành sâu bệnh. Những cành chọn để lại nên bấm ngọn để cho mọc thêm các cành ngang, để cây nhanh chóng hình thành tán cây to và thấp.

Bón phân:

(Nhấn vào đây để xem chi tiết)

Phòng trừ sâu bệnh:

Cần chú ý một số loài sâu bệnh sau: rệp, sáp, sâu đo, sâu đục thân. Cần phòng trừ bằng các loại thuốc Bi 58 0,1%, Deis 0,1%, Endrin pha loãng 1/400. Bệnh đốm đa giác, bệnh đốm tròn, phun phòng trừ bằng thuốc Boócđô 1% hoặc Dithan.

Khử chát và giấm hồng

Khử chát và giấm hồng

Quả hồng dù đã chín trên cây, vừa hái xuống cũng không ăn được ngay, trừ một vài giống hồng ngọt, có thể khử chát trên cây.


Mới đây, các cán bộ nghiên cứu Bộ môn Bảo quản và Chế biến thuộc Viện Nghiên cứu rau quả đã nghiên cứu thành công và cho phổ biến qui trình "Khử chát và giấm hồng bằng A xít 2-Chloroetyl phosphoric và đất đèn". NNVN giới thiệu để bà con nông dân tham khảo, áp dụng.

Qui trình bao gồm các bước sau:

Thu hái: ở miền Bắc, tùy theo địa phương, giống hồng mà hồng thường chín từ cuối tháng 8, chín rộ vào tháng 10, 11, chậm nhất vào tháng 12, 1. Trên cùng một cây có quả chín trước, quả chín sau do đó khi thu hoạch phải biết phân biệt để hái, quả chín trước hái trước, quả chín sau thì hái sau. Nên hái vào buổi sáng khi đã khô sương, không thu hái vào những ngày mưa dễ bị lây nhiễm nấm bệnh. Dùng kéo cắt sát cuống quả những quả đã chín vàng đều cho vào sọt có lót rơm rạ hoặc túi vải để tránh dập xước.

Chọn lựa và đánh bóng: Lựa chọn những quả đồng đều về màu sắc, kích cỡ, cùng giống, cùng đợt thu hái, những quả không có vết sâu bệnh, xây xước, bầm dập để xử lý và giấm. Dùng giẻ, khăn sạch lau nhẹ hết các vết bẩn trên toàn bộ mặt vỏ quả, làm cho vỏ quả láng bóng lên tăng thêm mỹ quan và hấp dẫn.

Xử lý: Với phương pháp xử lý bằng Chloroetyl phosphoric: Đổ 5 lít nước sạch vào một chiếc chậu nhựa rộng miệng rồi dùng bơm tiêm hút 60cc Axít 2- Chloroetyl phosphoric pha vào và khuấy đều cho tan hết. Tùy theo số lượng hồng cần xử lý mà pha lượng dung dịch cho phù hợp, tránh lãng phí: Cứ 1 lít nước sạch cần pha 12-13cc Axít 2-Chloroetyl phosphoric. Theo kinh nghiệm của Bộ môn bảo quản và chế biến (Viện Nghiên cứu rau quả) thì cứ 5 lít dung dịch có thể xử lý được hàng trăm kilôgam hồng quả. Sau khi chuẩn bị được dung dịch xử lý, ta cho hồng đã được lau sạch, đánh bóng vào ngâm ngập trong vòng 7 phút rồi vớt ra xếp vào rổ để cho ráo nước. Xếp hồng lên các giàn thoáng, để nơi thoáng mát trong vòng 6-8 ngày hồng sẽ chín đều, hết chát.

- Với phương pháp xử lý bằng đất đèn (Axetylen ): Dụng cụ bao gồm: Thùng để xử lý hồng bằng nhựa, gỗ hay sành sứ to, có thể chứa được vài trăm quả hồng; hộp nhựa hoặc sắt tây đường kính 10cm để đựng đất đèn; ống nhựa mềm để dẫn nước dài khoảng 70-80cm; phên nan tre, giá gỗ để xếp hồng trong thùng; bơm kim tiêm để cấp nước; tấm nilon để bịt miệng thùng...

Cách làm: Dưới đáy thùng chứa đặt chính giữa hộp nhựa hoặc hộp sắt tây mở đáy trên có chứa đất đèn. Căn cứ theo lượng hồng cần xử lý để đặt lượng đất đèn cho phù hợp: Cứ 100 kg hồng quả cần 300g đất đèn. Trên mặt hộp sắt tây đặt giá gỗ nan thưa để xếp hồng theo từng lớp nhẹ nhàng cho tới gần miệng thùng. Đặt ống nhựa mềm từ ngoài miệng thùng vào trong hộp sắt tây đựng đất đèn. Dùng nilon và dây cao su buộc kín miệng thùng hồng đã được xếp đầy nhằm tránh khí Axetylen thoát ra ngoài. Chú ý để ống nhựa mềm xuyên qua lớp nilon ra ngoài. Dùng bơm tiêm hút nước sạch để cấp nước cho hộp đất đèn qua ống dẫn nhựa mềm. Ngày đầu tiên ta bơm 30 ml, sau đó ngày thứ 2, thứ 3 cấp tiếp mỗi ngày 30 ml nữa. Ngày thứ 4, dỡ túi nilon một lúc cho thoát hết khí Axetylen rồi xếp hồng lên giàn nơi thoáng mát. Chú ý xếp các cuống quả xuống dưới theo lớp xen kẽ để không gây vết thương cho quả. Để hồng chín trong khoảng 6-8 ngày là có thể đem tiêu thụ được.

Bón phân cho cây hồng giòn không hạt Lạng Sơn

Bón phân cho cây hồng giòn không hạt Lạng Sơn

Tuỳ theo tình hình sinh trưởng của cây mà phối hợp phân đạm với kali với tỷ lệ hợp lý. Cây sinh trưởng càng mạnh càng cần tăng lượng kali lên vì kali quyết định hạn chế rụng quả.

Bón lót:


- Đất bằng phẳng: đào hố 80x80x70cm hoặc 70x70x60cm, bón lót 15-20kg phân chuồng + 0,5kg lân

- Đất đồi: đào hố 100x100x90cm hoặc 90x90x80cm, bón lót 20-30kg phân chuồng + 0,7kg phân lân.

Hàng năm bón lót cho hồng vào tháng 1, trước khi cây nảy lộc, đối với những cây đã ra quả ổn định cần bón cho mỗi cây là 30-50kg phân chuồng hoai + 0,3-0,5kg đạm urê + 0,3kg lân + 0,5kg kali.

Cách bón: chiếu theo mép tán cây, đào ba hố đều nhau với kích thước hố sâu và rộng khoảng 50cm, sau khi bón phân lấp đất hơi cao hơn trước.

Trong thời gian cây nuôi quả (tháng 3-7) cần tưới thêm phân kali và đạm pha loãng 100 lần, mỗi tháng tưới 1-2 lần.

Tuỳ theo tình hình sinh trưởng của cây mà phối hợp phân đạm với kali với tỷ lệ hợp lý. Cây sinh trưởng càng mạnh càng cần tăng lượng kali lên vì kali quyết định hạn chế rụng quả.

Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2017

Đặc Tính Giống Hồng Giòn Không Hạt Fuyu MC1

Đặc Tính Giống Hồng Giòn Không Hạt Fuyu MC1

Giống hồng giòn không hạt MC1 có nguồn gốc từ hồng giòn Fuyu, nhập nội từ Nhật Bản còn được gọi là hồng Nhật hay hồng Nhật Bản, do PGS-TS Đỗ Năng Vịnh, Phó Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp và cộng sự nghiên cứu, chọn tạo, khảo nghiệm tại Mộc Châu (Sơn La).


Do được khảo nghiệm tập trung tại Mộc Châu nên nhóm đề tài đặt tên là giống hồng giòn MC1. Tại đây hồng giòn MC1 trồng mật độ 400 cây/ha, khoảng cách giữa các cây là 5m.

Hồng giòn MC1 có đặc điểm thân cây màu xám, cành bánh tẻ màu nâu, tán cây hình bán nguyệt, độ cao phân cành trên 1m, lá thuôn hình hình trứng dài, màu xanh đậm, mặt lá phía trên có màu xanh đậm, mặt dưới có màu hơi phớt trắng, cuống lá sát cành có màu xanh tím, mép lá xung quanh hơi gợn sóng, chiều dài lá 13 - 16cm, chiều rộng lá 9 - 10cm.

Thời điểm rụng lá từ 20/10 - 5/11, thời điểm nảy lộc xuân từ 1 -10/2. Thời điểm ra hoa và đậu quả từ 15/3, đặc biệt chỉ có hoa lưỡng tính không có hoa đực.

Quả hình hơi vuông, vỏ quả mỏng, khi chín có màu vàng tươi, bóng đẹp, tai quả màu xanh, thịt quả màu vàng nhạt, rất ít hạt hoặc không có hạt, ăn giòn ngọt, không chát. Trọng lượng trung bình quả 220 - 270g/quả, thường chín vào tháng 8; ăn ngay khi hái quả, thu hoạch sớm, vận chuyển không dập nát.

Thời gian ngừng sinh trưởng của giống hồng giòn MC1 kéo dài từ 20/10 - 15/11, sớm hơn giống hồng Thạch Thất 1 tháng. Chính vì sự ra hoa sớm hơn giống hồng Thạch Thất nên không có sự thụ phấn chéo giữa các giống hồng.

Đặc điểm của giống hồng giòn MC1 rụng lá sớm và nảy lộc xuân muộn nên tránh được các đợt sương muối muộn kéo dài ở vùng cao. Bởi giống hồng này chỉ ra được 1 đợt lộc tránh được sương muối nên cây sinh trưởng, phát triển tốt và thích nghi tốt với đặc điểm khí hậu Mộc Châu. MC1 là giống chỉ có hoa lưỡng tính, bầu nhuỵ to, nhị gần như thoái hoá, không quan sát thấy phấn hoa, đó là nguyên nhân chính tạo nên đặc tính giống hồng không hạt.

Nếu trồng cách ly giống hồng MC1 với các giống hồng Thạch Thất và Nhân Hậu thì giống hồng MC1 sẽ hoàn toàn không hạt

Sau 6 năm khảo nghiệm tại Mộc Châu cho thấy giống hồng giòn MC1 sinh trưởng phát triển tốt, cây cân đối, hoa lưỡng tính và vỏ quả nhẵn, màu vàng và không hạt, năng suất năm thứ 5 đạt 14 tấn/ha, năm thứ 6 đạt trên 19 tấn/ha. Đây là giống hồng cao sản, cho hiệu quả kinh tế cao, quả to, thịt quả ăn giòn; hợp thị hiếu của người tiêu dùng

Kỹ thuật trồng giống hồng giòn MC1 - Hồng giòn Fuyu

Kỹ thuật trồng giống hồng giòn MC1 - Hồng giòn Fuyu

Hồng MC1 có nguồn gốc từ hồng giòn Fuyu, nhập nội từ Nhật Bản, do PGS-TS Đỗ Năng Vịnh, Phó Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp và cộng sự nghiên cứu, chọn tạo, khảo nghiệm tại Mộc Châu (Sơn La). Quả hồng được dùng rộng rãi để ăn tươi cũng như phơi khô. Quả hồng còn dùng để làm thuốc.


Cây hồng (Diospyros kaki T.) là một trong những loại cây ăn quả quan trọng của nước Châu Á thuộc miền ôn đới như Hồng Kông, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam,… và là một trong những cây ăn quả Á nhiệt đới chịu rét nhất. Thích hợp trồng ở các vùng núi phía Bắc Việt Nam như: Sơn La, Lào Cai. Hồng MC1 có nguồn gốc từ hồng giòn Fuyu, nhập nội từ Nhật Bản, do PGS-TS Đỗ Năng Vịnh, Phó Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp và cộng sự nghiên cứu, chọn tạo, khảo nghiệm tại Mộc Châu (Sơn La).

Quả hồng chứa 12 – 16% đường, chủ yếu là đường glucose và fructoze, lượng axít thấp 0,1%. Trong 100g thịt quả có chứa 0,16mg caroten, 16mg vitamin C, ngoài ra còn có vitamin PP, B1, B2 và các hợp chất hữu cơ…Quả hồng được dùng rộng rãi để ăn tươi cũng như phơi khô. Trong khi phơi khô chúng được phủ 1 lớp đường và lượng đường có thể tăng đến 60 – 62%. Quả hồng còn dùng để làm thuốc. Theo GS. Vũ Văn Chuyên (1985), quả hồng ngâm rượu uống là một vị thuốc bổ để chống suy nhược. Tai quả phơi hoặc sấy khô gọi là “Thị đế” dùng chữa ho, nấc, đầy bụng. Khi làm mứt, đường tiết ra gọi là “Thị sương” có đường manit dùng chữa đau và khô cổ họng. Nước ép từ quả hồng chưa chín phơi hay sấy khô gọi là “Thị tất” dùng chữa huyết áp cao.

KỸ THUẬT TRỒNG

1. Chuẩn bị đất trồng – Phát quang: Dọn cỏ và cây bụi để cây có đủ ánh sáng sinh trưởng và phát triển.

– Thiết kế: Đất có độ dốc < 100 thiết kế như trên đất bằng (bố trí trồng cây theo hình chữ nhật, hình vuông hay hình tam giác). Đất có độ dốc > 100 thì phải thiết kế và trồng cây theo đường đồng mức (dùng thước chữ A).

– Mật độ: Tùy đất trồng mà khoảng cách giữa các cây có thể là: 4m x 4m; 5m x 5m hoặc 8m x 8m.

– Đào hố, bón lót: Đào hố kích thước 80cm x 80cm x 80cm, dùng 50 – 100k phân chuồng hoai mục cùng với 1kg lân super, 0,5kg kali clorua và 1kg vôi bột trộn đều với đất phù sa hoặc màu (tầng đất mặt), lấp đất cao hơn mặt hố một chút (chuẩn bị trước khi trồng 1 – 2 tháng).

2. Kỹ thuật trồng

a. Tiêu chuẩn cây giống Cây giống là cây ghép được trồng trong bầu PE hoặc ở dạng rễ trần. Tiêu chuẩn cây giống cho trồng mới TT Chỉ tiêu Loại I Loại II 1 Chiều cao cây tính từ mặt bầu hoặc mặt bầu đất (cm) > 60 50 – 60 2 Đường kính gốc ghép đo cách mặt bầu hoặc mặt bầu đất 10cm (cm) 1 – 1,2 0,8 – 1,0 3 Đường kính cành ghép đo cách vết ghép 2cm (cm) 0,8 – 1 0,6 – 0,8 4 Chiều dài cành ghép tính từ vết ghép (cm) > 45 30 – 45

b. Thời vụ trồng Tốt nhất là trồng vào tháng 1 -2 dương lịch (trước và sau tết nguyên đán). Khi cây rụng lá, ngừng sinh trưởng, trong cây chứa nhiều chất dự trữ nhất nên dễ sống, khi trời bớt lạnh mầm mới bật ngay. Cách trồng: Dùng cuốc bới tâm hố đã chuẩn bị trước 1 – 2 tháng, xé bỏ túi bầu PE, đặt cây vào giữa hố, lấp đất bằng mặt bầu cây giống, nhấn chặt đều, dùng cọc đóng chéo buộc cố định, tưới đẫm nước. Sau đó thường xuyên giữ đủ ẩm cho cây.

3. Kỹ thuật chăm sóc

a. Chăm sóc thời kỳ cây chưa mang quả

– Tưới nước, giữ ẩm, làm cỏ: Thời kỳ mới trồng phải thường xuyên tưới đủ ẩm cho cây, làm sạch cỏ gốc đồng thời tủ cỏ khô xung quanh gốc để giữ ẩm.

- Bón phân: Trong 3 năm đầu lượng phân bón cho 1 cây là: 100g Urê, 100g supe lân, 100g kali sunphát (hoặc kali clorua) chia 3 lần bón:

+ Tháng 1 – 2: Bón 100% lân + 50% kali + 30% đạm. + Tháng 4 – 5: Bón 20% kali + 30% đạm.

+ Tháng 8: Bón nốt sô phân còn lại.

Cách bón: Đào sâu 15 – 20cm quanh tán, cách gốc 30 – 40cm, rải đều phân, lấp đất kỹ, tưới đủ ẩm và tủ gốc bằng cỏ khô.

– Đốn tỉa tạo hình: Cây hồng vừa đem trồng đã phải đốn tạo hình ngay, chỉ giữ một thân chính, cắt cụt hết các cành để cây bật ra các cành mới khỏe. Chọn trên thân chính 3 cành khỏe mọc ra 3 hướng khác nhau để làm cành khung. Cuối năm thứ nhất chủ yếu là cắt ngắn các cành khung cấp 1 chỉ để 2 – 3 cành khung cấp 2 vào các vị trí thích hợp sao cho các cành đều hướng ra ngoài. Cuối năm thứ 2 chủ yếu là cắt ngắn các cành khung cấp 3. Hết năm thứ 3 coi như tán cây hồng đã ổn định, cây hồng bắt đầu bói quả và bước sang thời kỳ đốn tạo quả.

– Đốn tạo quả: Đốn tạo quả phải căn cứ vào đặc tính ra hoa của cây hồng: cành quả chỉ sinh ra trên cành mẹ đã mọc từ năm trước. Cành mẹ chỉ sinh ra cành quả ở búp thứ nhất đến búp thứ 3 tính từ ngọn xuống.

Nguyên tắc cơ bản của đốn tạo quả là không đốn hớt ngọn vì sẽ cắt bỏ những búp sinh ra cành quả. Bởi vậy, nghĩa là cắt từ chân loại bỏ hẳn những cành mẹ quá yếu. Cành đã ra quả rồi mà yếu cũng phải cắt tận chân, mặt khác nếu cành khỏe cũng cắt phía trên nơi đã có quả, để lại 1 – 2 mầm, những mầm này năm sau sẽ phát triển thành cành mẹ và sẽ chọn ở gốc cành 1 – 2 cành mẹ khỏe nhất. Như vậy, những cành mẹ năm nay phải được chuẩn bị từ năm trước bằng kỹ thuật đốn thích hợp, không đốn thì số cành mẹ sẽ khá nhiều, yếu ớt, quả sẽ bé. Những cành mẹ năm nay nếu được hướng dẫn, chọn lựa và đốn tỉa đúng kỹ thuật thì năm sau sẽ sinh ra những cành quả khỏe với số lượng quả vừa phải ở những vị trí cần thiết.

b. Chăm sóc thời kỳ cây mang quả:

– Tưới nước, giữ ẩm, làm cỏ: Tưới đủ ẩm cho cây 2 lần/tháng, nếu có mưa thì thôi, tủ cỏ khô quanh gốc giữ ẩm. Hàng tháng làm sạch cỏ gốc và cứ 3 tháng/lần làm sạch coe băng. – Bón phân: Lượng phân bón từ năm thứ 4 trở đi (kg/cây) Tuổi cây Đạm urê Supe lân Kali clorua 4 – 5 6 – 7 8 – 10 11 – 14 15 – 20 > 20 0,2 0,3 0,4 0,6 0,8 1,2 0,3 0,4 0,6 0,8 1,2 1,7 0,2 0,2 0,3 0,4 0,6 0,8

– Phân chuồng: 2 năm bón 1 lần với lượng từ 30 – 50 kg/cây. Cách bón: Đào rãnh sâu 20cm, rộng 20cm theo hình chiếu mép tán, luân phiên theo lần bón, chia 3 lần: + Tháng 5 – 6: Bón 20% lân + 25% kali + 20% đạm. + Tháng 9 – 10: Bón số phân còn lại.

4. Một số sâu, bệnh chính và biện pháp phòng trừ


a. Sâu hại:

– Sâu đục quả (Kakivoria flovofasciata Nasano): là sâu non của một loại bướm đêm xuất hiện vào tháng 5 – 7. Trứng đẻ ở cuống hoặc tai quả, sâu non vừa nở ra đã đục vào tâm và làm quả rụng. Diệt trừ bằng cách nhặt quả non bị sâu đục đem hủy, phun Trebon 0,1% khi sâu mới xuất hiện

– Rệp sáp: Thường tập trung gây hại ở búp lá non, tai quả non vào khoảng tháng 2 – 3. Trừ rệp bằng cách phun Supracide 0,1% hay Trebon 0,1%.

– Sâu đo (Perenia graffate Guenee): phát sinh vào tháng 5, tháng 9, thường ăn trụi lá hồng. Diệt trừ bằng cách phun Decis 0,1%, Polytrin 0,1%.

b. Bệnh hại:

– Bệnh giác ban hại hồng (Cercospora kaki): Hại lá và tai quả hồng bằng những vết không đều: phía giữa màu nâu sáng, phía ngoài sẫm hơn. Bệnh thường phát sinh vào tháng 7, 8, 9 làm rụng lá, quả héo rụng. Phòng trừ bằng cách nhặt và đốt lá bệnh, phun Bordeaux 1%.

– Bệnh đốm tròn (Mycosphaerella nacwae): Phá hại lá từ tháng 7, 8; tháng 9 càng nặng. Vết bệnh tròn, ở giữa màu nâu nhạt, xung quanh màu nhạt hơn, nhưng ở lưng lá thì xung quanh màu xám. Vết bệnh càng già càng sẫm hơn, lá chuyển sang màu đỏ rồi rụng. Phòng trừ bằng cách nhặt và đốt hết lá bệnh, phun Bordeaux 1% hoặc Kasuran 0,1%.

Ngoài ra còn có bệnh thán thư (Gleosporium kaki) và bệnh phấn trắng (Phyllactinia kakicola) gây hại trên lá, thân và quả hồng.

5. Thu hoạch và bảo quản


a. Thu hoạch ở miền Bắc, hồng ngâm chín từ cuối tháng 8, 9, 10; hồng giấm chín vào tháng 10, 11, 12. Trên cùng 1 cây có quả chín trước, quả chín sau, khi thu hoạch phải biết phân biệt để hái, quả chín trước hái trước. Quả chín thì màu quả chuyển từ xanh sang vàng hoặc vàng đỏ rồi đỏ dần. Hái đúng độ chín thì chất lượng quả tốt hơn, nên hái vào buổi sáng hoặc chiều mát.

b. Bảo quản Sau khi thu hái, quả hồng đang ở trạng thái cứng, có thể vận chuyển đi xa và bảo quản trong thời gian dài với những phương pháp thích hợp sau khi đã cắt sát cuống quả và loại bỏ hết những quả dập nát, sứt vỏ, mất tai, chín mềm, quả bị sâu bệnh,… Có thể bảo quản bằng cách rải thành lớp mỏng nơi thoáng mát và khô. Quả hồng hái xuống dù đã chín ăn vẫn chát (trừ một vài giống) vì trong dịch quả có chất tanin dưới dạng hòa tan, sau khi khử chát, tanin vẫn ở trong quả nhưng chuyển sang dạng không hòa tan nên không cảm thấy chát nữa. Có nhiều cách khử chát như:

– Ngâm hồng: thường dùng đối với hồng Hạc Trì, Vĩnh Lạc, Lạng Sơn,..Dùng chum hoặc vại sành xếp quả hồng vào rồi đổ nước sạch ngập sâu 20cm, ngâm trong 2 – 3 ngày, mỗi ngày thay nước một lần. Sau khi ngâm, vớt hồng ra rửa lại bằng nước sạch cho hết nhớt xung quanh quả, để ráo nước một ngày là ăn được.

Chú ý: Không ngâm bằng nước mưa và có một vài loại hồng phải ngâm trong nước tro lọc hoặc nước vôi trong.

– Giấm hồng: Rửa sạch quả, để khô, xếp vào chum vại kín, ở giữa để một ống thoát hơi đan bằng tre nứa.

+ Xử lý bằng hương đen: Đốt 2 – 3 que hương đen trong ống thoát hơi, bịt kín miệng chum vại 24 giờ, sau đó xếp quả hồng ra nơi mát, 3 – 4 ngày sau quả mềm là ăn được.

+ Xử lý bằng đất đèn: Cứ 15 dm3 dung tích chum vại dùng 5g đất đèn, bên dưới ống thoát hơi đặt một bát nước con, bỏ đất đèn vào bát, bịt kín miệng chum vại, 24 giờ sau lấy ra để ở nơi mát 3 – 4 ngày là ăn được.

+ Giấm lá xoan: Lá xoan xếp dưới cùng rồi xếp hồng, cứ một lớp lá một lớp hồng, sau đậy kín, khoảng 2 – 4 ngày bỏ ra là ăn được.

+ Xử lý bằng dung dịch Ethrel: Nhúng quả hồng trong dung dịch ethrel thương phẩm nồng độ 0,6% trong 7 phút, sau đó bảo quản trong điều kiện thoáng tự nhiên, sau 3 – 5 ngày là chín hết.

Để tạo điều kiện cho cây hồng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao, chất lượng tốt. Chúng ta cần phải thực hiện đầy đủ các biện pháp kỹ thuật riêng biệt từ khâu chọn đất đến thời vụ đối với từng giống hồng, các biện pháp chăm sóc đốn tỉa tạo hình,… và thu hoạch bảo quản quả hồng. Có thực hiện được như vậy thì sản phẩm hồng mới đảm bảo được chất lượng tốt, đạt hiệu quả kinh tế cao./.

Bí quyết trồng hồng giòn không hạt

Bí quyết trồng hồng giòn không hạt

Hồng giòn không hạt được trồng nhiều ở Đà Lạt. Nơi đây ngoài khung cảnh nên thơ thì khí hậu ở đây là điều kiện thuận lợi cho cây hồng phát triển tốt, ra nhiều trái và ngọt không kém ở miền tây.


Trái hồng có màu vàng cam khi chín cỡ nhỏ có đường kính dưới 1 cm cho tới 9cm. Dáng quả hình cầu, hình con cù, hay dạng quả cà chua bẹp. Đài hoathường dính với quả khi chín. Hồng giòn là món quà đặc biệt mà tự nhiên ban tặng cho mảnh đất này, bởi không tốn công chăm sóc, không ngại mưa gió, không kén đất trồng, chỉ cần gieo xuống là hồng đâm chồi nảy lộc, cho ra những trái ngọt khi đến mùa. Mùa thu cũng là mùa hồng bắt đầu đơm bông và chín rộ, những sắc vàng của hồng phủ đầy trên cây trông rất quyến rũ. Sắc xanh của lá hòa trộn với sắc vàng bóng của hồng làm cho khu vườn thêm lung linh, trĩu quả với nhiều gam màu rực rỡ.

Giá trị dinh dưỡng của hồng giòn: Thành phần và giá trị dinhdưỡng của thịt quả hồng rất cao, rất nhiều beta caroten và sinh tố A, sinh tố B và C. Ngoài ra,còn nhiều khoáng tố vi lượng như Ca, P, Fe, protein, nhiều chất xơ, đường. Hồng được sử dụng nhưphương thuốc cổ truyền chữa nhiễm trùng phổi, trĩ và chữa bệnh suyễn. Thườngdùng dạng hồng khô, ăn mỗi ngày khoảng một trái là tốt. Tính chất se chátcủa hồng còn giúp ngừng tiêu chảy, cầm mồ hôi và cầm máu. Hồng còn giúp ngừa ung thư vì có hàm lượng beta caroten cao, các hợp chất như sibutol và axit betulinicđược nghiên cứu có tác dụng kháng ung thư.

Kỹ thuật trồng cây hồng giòn:

Đất trồng:
trồng hồng giòn không hạt ở những vùng có độ cao trên 500m. Đất có tầng canh tác dày 70cm, có mực nước ngầm thấp. Độ pH: 4.5- 6. Nếu đất có độ pH thấp quá, cần dùng vôi để nâng độ pH lên.

Hướng trồng: Trồng theo hướng Bắc Nam. Mục đích là để tạo khoảng cách giữa các cây thông thoáng, không bị lấp bóng lẫn nhau, giúp cây quang hợp và cành ngang phát triển tốt.

Khoảng cách: từ 3 tới 5m.

Hố trồng hồng giòn không hạt: đào hố sâu 50 – 60cm và rộng 60 – 70cm. Với đất đồi, đào hố sâu 60 -80 và rộng 80 -100cm.

Bón phân: Bón lần thứ nhất: 2/3 lượng phân trong năm vào cuối tháng 12 đến tháng 1 năm sau. Bón lần thứ 2: 1/3 lượng phân còn lại vào tháng 7 – 8. Cách bón: Bón sâu 5 – 10 cm xung quanh vùng tán cây, bón phân xong lấp lại. Phân chuồng: 25 – 30 kg/ cây, bón bổ sung 2 – 3 năm một lần vào cuối mùa đông.

Tỉa cành: Tỉa loại bỏ những cành yếu mọc tập trung, cành đã bị khô chết, cành vượt, duy trì kiểu tán như thời kỳ kiến thiết cơ bản (hình phễu hoặc rẻ quạt). Đốn một phần những cành mọc ngang quá dài, đối với kiểu tán hình phễu để lại dưới 60 cm, hình rẻ quạt dưới 40cm.Trong quá trình trồng hồng giòn không hạt phải  đốn tỉa quả hàng năm lưu ý, đối với hồng, cành cho quả chỉ xuất hiện trên cành mẹ đã mọc từ năm trước, ở vị trí búp thứ nhất đến búp thứ ba tính từ ngọn xuống.

Phòng và trị bệnh: chăm sóc cây phát triển tốt, thường xuyên kiểm tra vườn quả loại bỏ toàn bộ cành bị bệnh thu gom về một khu vực để xử lý.

Chúc bà con thành công!

Quy trình trồng cây hồng

Quy trình trồng cây hồng

Hồng là cây ăn quả á nhiệt đới được trồng lâu đời ở Việt Nam, phía Bắc từ Hà Tĩnh trở ra, phía Nam ở vùng Đà Lạt trên độ cao 1000-1500m so với mặt biển. Hồng sinh trưởng phát triển tốt trên nhiều loại đất đồi, vẫn cho năng suất cao và ổn định hàng năm.


Hồng là cây ăn quả á nhiệt đới được trồng lâu đời ở Việt Nam, phía Bắc từ Hà Tĩnh trở ra, phía Nam ở vùng Đà Lạt trên độ cao 1000-1500m so với mặt biển. Hồng sinh trưởng phát triển tốt trên nhiều loại đất đồi, nơi mà nhiều cây ăn quả kém chịu hạn không trồng được thì hồng vẫn cho năng suất cao và ổn định hàng năm. Quả hồng chủ yếu để ăn tươi, chế biến hàng khô là mặt hàng xuất khẩu đặc sản của một số nước trên thế giới. Quả hồng chín chứa nhiều đường (15-20%), nhiều vitamin A (1mg trong 100g), ngoài ra còn có vitamin B1, B2, PP, C và các chất khoáng. Quả hồng không chua nên đông y cho là loại quả lành cho trẻ em, người ốm, người già, người đau dạ dày… Tai quả hồng phơi hoặc sấy khô dùng chữa ho, nấc, đầy bụng. nước ép từ quả hồng chưa chín dùng chữa bệnh cao huyết áp.

1. Các giống hồng

Các tỉnh ở miền Bắc có nhiều giống hồng chia thành 2 nhóm:

a) Hồng ngâm: Loại này khi chín ăn chát, sau khi thu hoạch, phải ngâm khử chát mới ăn được.
b) Hồng dấm: Khi quả chín có thể ăn ngay được hoặc đem dấm vài hôm rồi đem càng tốt.

Ngoài hai giống trên còn có thể kể thêm một số giống khác:
- Hồng Lạng (ở một số xã vùng biên giới tỉnh Lạng Sơn)
- Hồng Hạc (ở Hạc Trì – thành phố Việt Trì – Phú Thọ)
- Hồng Yên Thôn (ở Thạch Xá – Thạch Thất – Hà Tây)
- Hồng Nhân hậu (huyện Lý Nhân – Hà Nam)
- Hồng Tiến ( huyện Nghi Xuân – Hà Tĩnh)
- Hồng vuông (Thạch Hà – Hà Tĩnh)
- Hồng dẻo và Hồng sáp (Đà Lạt – Lâm Đồng).

Trong số đó, các loại: hồng Lạng, hồng Hạc, hồng Lục Yên, hồng vuông Thạch Hà là giống hồng không hạt.

2. Yêu cầu ngoại cảnh

Nhiệt độ: Hồng thích khí hậu ôn đới và á nhiệt đới, không chịu các nhiệt độ quá thấp cũng không chịu được nhiệt độ quá cao. Cây hồng là cây rụng lá về mùa đông vì vậy cần có một thời gian nghỉ song song với một số thời gian nhiệt độ thấp nhất định thì mới ra hoa kết quả được tốt. Nhiệt độ cần để nảy mầm từ 13-14°C đến 16-17°C, nở hoa 20-22°C, để quả phát triển là 26-27°C, ở giai đoạn chín nhiệt độ hạ thấp dưới 20°C; biên độ nhiệt lớn sẽ làm cho quả ngọt, phẩm chất quả khá, mã quả đẹp.

Nước: Hồng là cây có khả năng chịu hạn khá. Lượng mưa hàng năm tốt nhất la 1200-2100 mm.

Ánh sáng: Hống nói chung rất ưa sáng. Ở vùng miền núi người ta thường chọn hướng dốc có nhiều ánh sáng. Những vùng đủ ánh sáng cây phân cành thấp hơn, tán lá rộng, quả phân bố đều trên tán. Trồng chỗ thiếu ánh sáng cây mọc vống, tán bé, phân bố quả không đều, năng suất kém rõ rệt. Mùa hồng chín nếu đủ ánh sáng, khí hậu hơi khô phẩm chất quả sẽ tốt.

Đất: Hồng thích ứng với nhiều loại đất, với điều kiện tầng đất dày, thoát nước vì bộ rễ hồng có thể ăn sâu. Độ pH 5,0-5,5.

Chống gió bão: Nói chung hồng chống gió bão yếu, nhất là trồng ở vùng đồng bằng, mực nước ngầm cao, rễ ăn nông, hi có tán lá rậm rạp, trên cây mang nhiều quả.

3. Kỹ thuật trồng và chăm sóc                    

Nhân giống: Chủ yếu dùng phương pháp ghép. Vào tháng 9-10 mùa hồng chín chọn giống hồng dấm địa phương hoặc lấy quả hồng cây rửa sạch hạt, sử ký lạnh 0-5°C trong 2 tuần rồi đem gieo. Để tránh rét và bệnh thối gốc ở thời kỳ cây con nên gieo vào giữa tháng 12 đầu tháng 1. Cây mọc trong tháng 2 và tháng 3 ra ngôi. Chăm sóc cây con tốt trong vườn ươm để ghép vào tháng 7 và tháng 8. Sau khi cây con ra ngôi trong tháng 4-5 định kỳ phun thuốc Falizan 0,2% hoặc Zineb 0,6% (khoảng 500 lít thuốc đã pha cho 1ha) để chống bệnh thối gốc cho cây con.

Phương pháp ghép: Ghép mắt có gỗ và ghép cành chẻ bên. Mắt ghép lấy ở cành 1 tuổi sinh ra ở đầu mùa xuân. Chọn những cành khỏe, mọc xiên ở ngoài tán. Trên cành chọn những mắt ở đoạn giữa (đoạn bánh tẻ) để ghép. Khi ghép thao tác phải rất nhanh vì hồng có nhiều tanin khi tiếp xúc với không khí và dao ghép kim loại rất dễ tạo thành một hợp chất phức tạp phủ ngoài vết cắt ngăn cản khả năng tiếp hợp giữa gốc ghép và mầm ghép.

Ngoài nhân giống bằng ghép, người ta còn dùng hom rễ cắm vào vườn giâm như cách giâm cành cam chanh để có cây con, song hệ số nhân thấp, không thể nhân nhanh được các giống hồng quý.

Thời vụ trồng: Tháng 11 sau khi rụng lá, hoặc tháng 1 rtước khi nảy lộc.
- Đào hố trồng và bón phân lót.
Loại đất Kích thước hố (cm) Bón lót (kg/hố)
Sâu Rộng Phân chuồng Vôi bột Phân lân
Đất vườn 60-70 70-80 15-20   0,5
Đất đồi 80-100 90-100 20-30 1 0,7

- Khoảng cách và mật độ trồng: Với giống sinh trưởng khỏe; 6x4m hoặc 6x5m, giống sinh trưởng yếu: 5x4m hoặc 5x5m. Đất đồi trồng dày hơn đất đồng bằng.

Chăm sóc vườn sản xuất:

- Trồng xen: Ở đồng bằng xen chuối, đu đủ, các loại rau… Đối với đất đồi thì xen lạc, đỗ tương, các loại muồng… Tùy theo sự phát triển của của tán cây hồng mà thu hẹp dần phạm vi trồng xen. Trồng sen cách gốc hồng 0,5-0,8m.
- Tạo hình, cắt tỉa: Tạo hình cây con tiến hành trong 2-3 năm đầu. Chỉ để 1 thân chính cao 0,8-1m, để 4-5 cành cấp I (cành chính) các cành này cách nhau 0,5-0,6m. Trên cành cấp I để 4-5 cành cấp II, tạo cho các cành phân bố đều ra các phía. Cắt tỉa những cành nhỏ yếu, mọc đứng, cành sâu bệnh. Những cành chọn để lại thì bấm ngọn cho mọc thêm nhiều cành ngang để cây chóng có tán to và thấp.
- Bón phân: Lượng phân cần thiết cho 1hs hồng dưới 5 tuổi: 35kg N, 20kg P2O5 và 30kg K2O, từ 6-10 tuổi: 200kg N, 120kg P2O5 và 160kg K2O phân nguyên chất - sản lượng 6-10 tấn hồng/1ha. Đến khi cây 20 tuổi: 265kg N, 160kg P2O5 và 210kg K2O – sản lượng đạt tối đa 30 tấn/ha. (Cách tính đổi từ lượng phân nguyên chất sang lượng phân cần dùng. Ví dụ: Sulfat đạm có hàm lượng N nguyên chất là 21%, còn urê là 46% vậy muốn có 10kg N nguyên chất thì phải có 48kg sulfat N hay 22kg ure; với supe lân hàm lượng P2O5 là 18-21%, clorua kali 50-55% K2O, sulfat kali 46-52% K2O). Lượng phân bón cho hồng phải tập trung bón vào thời gian nghỉ (khi cây rụng lá vào  tháng 12-1) còn lại khoảng 1/3 bón vào giữa mùa mưa để chống rụng quả trước lúc thu hoạch.

Phòng trừ sâu bệnh:

- Bệnh giac ban hại hồng (Cercospora kali): Bệnh hại lá trên tai quả hồng bằng những vết không đều, phía giữa màu nâu sáng, ở phía ngoài sẫm. Bệnh phát triển chủ yếu vào mùa mưa (tháng 7,8,9). Cách phòng trị: đốt lá bệnh, phun Dithan hoặc Boocdo.
- Bệnh đốm tròn: Bệnh hại lá bắt đầu vào các tháng 7,8, nặng vào tháng 9. Vết bệnh tròn, ở giữa màu nâu nhạt, xung quanh màu nhạt hơn nhưng ở lưng lá thì xung quanh màu xám. Vết bệnh càng già màu càng sẫm hơn, lá chuyển đỏ rồi rụng. Sau đó quả nhũn và rụng. Cách phòng trị như đối với bệnh giác ban.
- Sâu đục quả: bướm đẻ trứng ở cuống hoặc tai quả. Sâu non nở ra đục vào tâm làm quả rụng. Cách phòng trừ: vặt quả non bị sâu hại đem đốt. phun Sevin hoặc Endrin khi sâu xuất hiện.
- Rệp sáp: Có nhiều loại. Phun BI 58 0,2% hay Paration 0,1%.

4. Thu hoạch và bảo quản

Ở miền Bắc hồng chín từ cuối tháng 8, chín rộ vào tháng 10-11, chậm vào tháng 12,1. khi thu hoạch quả phải biết phân biệt quả chín. Khi quả chín, vỏ quả chuyển  màu vàng rồi đỏ. Phải hái đúng độ chín, hái non phẩm chất quả sẽ kém.

Quả hồng vừa hái xuống dù đã chín nhưng ăn vẫn còn chát vì trong dịch quả có chất tanin dưới dạng hòa tan và sau khi khử chát, tanin tuy vẫn còn nguyên trong tế bào quả nhưng đã chuyển sang dạng không hòa tan nên khi ăn không thấy chát nữa.

Có nhiều cách khử chát:

- Ngâm trong nước vôi hay nước tro, hoặc ngâm rtong nước lạnh 3-4 ngày. Trong quá trình ngâm phải rthay nước sách là có thể khử chát.
- Ngâm quả vào trong nước ấm 40-50°C trong 1,5-2 ngày.
- Ủ với lá cây ở trong chum hoặc vại đậy kín. Ở Trung Quốc dùng lá lê, sơn trà, đào, tùng, bách; ở Việt Nam dùng lá xoan. Lá xếp xuống dưới, trên xếp hồng, cứ một lớp lá một lớp quả. Khoảng 3-4 ngày thì ăn được.