Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Bảy, 9 tháng 12, 2017

Kinh nghiệm trồng cam Canh

Kinh nghiệm trồng cam Canh

Khi cánh hoa bắt đầu rụng, quả non lộ ra, tiến hành khoanh vỏ hãm cây để giữ quả, nếu khoanh muộn cây phát lộc sẽ đẩy bộ quả ra khỏi cây, dẫn đến rụng quả hàng loạt.

Chọn cây giống


Cần biết rõ nguồn gốc giống. Cây có gốc ghép là gốc bưởi sẽ có sức sống khỏe, chống chịu sâu bệnh tốt. Để chủ động nguồn giống tốt, bà con nên tự ghép cây trồng cho vườn nhà.

Vườn ươm cây làm gốc ghép:
Hạt giống gieo làm gốc ghép là hạt được lấy từ quả trên cây bưởi mọc tự nhiên hoang dại, chọn các hạt có kích cỡ to đều gieo trên luống cao. Trước khi gieo, làm nhỏ đất, lót phân chuồng hoai, tro bếp. Tốt nhất là nên bổ quả lấy hạt gieo ngay, không nên phơi nắng, thời gian gieo từ 15/11 - 10/12.

Trồng ra ngôi cây làm gốc ghép: Sau gieo khoảng 60 ngày, tiến hành ra ngôi. Nếu cây để ghép giống với mục đích thương mại thì đưa cây trồng vào bầu. Nếu ghép cây trồng cho vườn nhà, không cần đưa vào bầu mà trồng trực tiếp lên luống, sau này trồng ra ruộng sản xuất, cây sẽ nhanh hồi phục. Bón lót: 1kg tro bếp + 0,3kg NPK Lâm Thao cho 1m2 cây gốc ghép, phủ đất kín phân, tưới giữ ẩm, chăm sóc, phòng trừ đảm bảo cho gốc ghép sạch bệnh. Đến cuối tháng 7 - đầu tháng 8, khi cây cao từ 25cm trở lên, tiến hành ghép giống.

Ghép cây: Yêu cầu mắt giống lấy từ cây cam Canh khỏe, không sâu bệnh, chọn cành mọc vượt thẳng trên mặt tán, cắt sâu lấy mắt có một phần gỗ mỏng (ghép mắt nhỏ có gỗ), lấy các mắt từ thứ 5 trở lên kể từ đầu cành. Vị trí ghép trên cây gốc ghép cách mặt đất (gốc) khoảng 15cm, bóc mở phần vỏ trên gốc ghép vừa đúng bằng mắt cam đã lấy để ghép, áp sát mắt ghép vào gốc ghép, dùng nylon chuyên dụng quấn để nước, vi khuẩn, nấm bệnh không xâm nhập vào vết ghép. Sau ghép 20 ngày, có thể tháo nylon và cắt ngọn ghép; 10 ngày sau, cây ghép đã bật mầm, phải vặt bỏ các mầm bưởi mọc ngoài mầm ghép để dinh dưỡng tập trung nuôi mầm ghép, đảm bảo cây giống thuần cam. Cần theo dõi, phòng trừ các loại sâu bệnh, nhất là sâu vẽ bùa, nhện đỏ. Từ cuối tháng 12, đầu tháng 1, khi cây giống đã được 2 đợt lộc (có nhánh cấp 2), có thể đưa ra ruộng trồng.

Trồng cây: Chọn ruộng chân cao, thoát nước nhanh, mực nước ngầm thấp (trên 1m), đất có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, cày nhỏ, phơi ải, san phẳng. Đặt bầu cây thẳng hàng, so le nanh sấu trên mặt ruộng. Khoảng cách: 2 x 3m, đảm bảo mật độ 60 cây/sào Bắc Bộ (360m2).

Bón lót bằng cách rải đều lên mặt luống vùng rễ cây, liều lượng cho 1 cây: tro bếp 1kg, NPK Lâm Thao 0,5kg, bột đậu tương 0,5kg, hoặc 0,7kg bột ngô đó, lấp đất kín phân, tưới nước đủ ẩm, chú ý không lót NPK trực tiếp vào rễ cây. Các năm sau, cứ cây tăng 1 tuổi, lượng phân bón cho mỗi gốc tăng 0,3kg NPK; 0,2kg bột đậu tương hoặc 0,3kg bột ngô đó; 0,2kg tro bếp, mỗi năm bón thúc 2 lần, vào tháng 2 và tháng 9 - 10.

Sau trồng 2 năm, cây bắt đầu ra hoa. Để lấy quả, ngay từ cuối tháng 1, đầu tháng 2, quan sát thấy lộc cây chuyển màu bánh tẻ tiến hành đảo cây (đảo, thay rễ), mục đích cắt bớt một số rễ tơ làm cây trẻ lại, đồng thời hãm cây phát lộc, kích thích cây ra hoa, đậu quả đạt tỷ lệ cao. Dùng dụng cụ chuyên dụng đào vát vào trong quanh gốc cây thành bầu có đường kính và độ sâu 30 - 40cm, nhấc cả bầu cây lên khỏi mặt luống, phơi đến ải trắng thì hạ bầu trở lại hốc, lấp kín đất và bón thúc. Việc đảo cây tiến hành hàng năm sau mỗi lần thu hoạch quả. Sau đảo rễ 2 tháng, cây bắt đầu phân hóa mầm hoa, chớm nụ, giai đoạn này chú ý phòng trừ các loại sâu bệnh như vẽ bùa, nhện đỏ, rệp các loại.

Khi cánh hoa bắt đầu rụng, quả non lộ ra, tiến hành khoanh vỏ hãm cây để giữ quả. Dùng dao sắc tiện khoanh tròn lớp vỏ của các cành cấp I sao cho, vừa đứt vỏ sát thân gỗ vừa mở ra lớp vỏ rộng 1mm, vị trí vết khoanh cách gốc cành 15 - 20cm, 10 ngày sau dùng băng nylon đen băng kín vết khoanh, tránh nấm bệnh xâm nhập. Quá trình khoanh vỏ thường làm 3 lần (vết khoanh nọ cách vết khoanh kia 15cm); lần 2 tiến hành khi quả bắt đầu rụng sinh lý (thường gọi là quá trình phân quả của cây); lần 3 khi cây chuẩn bị phát lộc. Đây là lần khoanh vỏ rất quan trọng, nếu khoanh muộn cây phát lộc sẽ đẩy bộ quả ra khỏi cây, dẫn đến rụng quả hàng loạt. Duy trì độ ẩm vừa phải sao cho đất mặt vườn chỉ hơi thâm, người đi vào rãnh không để lại nốt chân.

Phun định kỳ 45 ngày/lần phối hợp các loại thuốc: Selecron 500EC (trừ sâu vẽ bùa), Marshal 200SC (trừ rệp), Danitol (trừ nhện). Một vườn cam sai, quả nhỏ đều (9 - 11 quả/kg) thì năng suất, chất lượng thường cao. Vườn cam ít quả, quả to thì ăn thường khô. Đặc biệt, cam Canh có rất nhiều rệp ở rễ cây trong đất nếu không phòng trừ kịp thời bằng các loại thuốc BVTV nội hấp (Suprathion hoặc Supracid) sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng.

Để khắc phục hiện tượng ra quả cách năm, bên cạnh việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh đồng bộ, cần bón đủ phân, nhất là những năm lấy quả nhiều cần tăng lượng phân bón. Còn hiện tượng cam nứt quả thường xảy ra vào 15/11 đến 15/12, nguyên nhân có thể do độ ẩm đất quá cao hoặc cây thiếu vi lượng đồng (Cu). Khắc phục bằng cách tiêu rút nước kịp thời, bổ sung Cu qua phun dung dịch Boóc - đô...

Kinh nghiệm thâm canh và khắc phục cam rụng quả

Kinh nghiệm thâm canh và khắc phục cam rụng quả

Cam Canh, cam Đường, cam Đường Canh đó là các cách gọi dân dã khác nhau của cùng một loại quýt Canh. Cam Đường là loại cây có giá trị kinh tế cao nhưng đòi hỏi kỹ thuật thâm canh cao.


Để trồng cam đạt hiệu quả cao, khắc phục một số hiện tượng: ít quả, nứt quả, khô quả hàng loạt, ra quả cách năm cần áp dụng đồng bộ các biện pháp thâm canh sau:

1. Chọn cây giống:

Cần biết rõ nguồn gốc giống, nên chọn cây giống là cây có gốc là gốc bưởi, cây có sức sống khỏe hơn, chống chịu tốt hơn, nhược điểm tuổi thọ không cao nhưng trong thâm canh cam đường chỉ cần khai thác quả tập trung khoảng 7 năm, sau đó tiến hành cải tạo trồng mới, hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn so với tận thu khi sản lượng quả trên cây đã giảm đáng kể. Để chủ động nguồn giống tốt, chúng ta nên ghép cây trồng cho vườn nhà.

a) Vườn ươm cây làm gốc ghép:

Hạt giống gieo làm gốc ghép là hạt được lấy từ quả trên cây bưởi mọc tự nhiên hoang dại, chọn các hạt có kích cỡ to đều, gieo từng luống cao, trước gieo làm nhỏ đất, lót phân chuồng hoai, tro bếp như gieo hạt rau giống, khác là chúng ta cần gieo thứ hơn, tốt nhất bổ quả lấy hạt gieo ngay, không nên phơi nắng vì hạt bưởi có chất dầu, phơi nắng, gieo tỷ lệ mọc mầm thấp. Thời gian gieo từ 15/11 đến 10/12. Khi cây mọc khỏi mặt đất, chăm sóc, giữ ẩm phòng trừ kịp thời các đối tượng sâu bệnh như: sâu vẽ bùa, nhện đỏ…

b) Trồng ra ngôi cây làm gốc ghép:

Cây làm gốc ghép, sau gieo khoảng 60 ngày tiến hành ra ngôi, lúc này nếu cây để ghép giống với mục đích thương mại thì đưa cây trồng trong bầu ni lon đường kính 10 – 15 cm, cao 18 – 20 cm, có hỗn hợp đất ải, phân chuồng hoai và phân NPK tổng hợp, xếp bầu cây vào luống và chăm sóc cho đến khi ghép. Nếu ghép cây trồng cho vườn nhà, không cần đưa vào bầu mà trồng trực tiếp lên luống sau này trồng ra ruộng sản xuất cay sẽ nhanh hồi phục, khoảng cách trồng: cây x cây = 20 cm, bón lót 1 kg tro bếp + 0,3 kg NPK Lâm Thao cho 1 m2 cây gốc ghép, phủ đất kín phân, tưới giữ ẩm, chăm sóc phòng trừ đảm bảo cho gốc ghép sạch bệnh. Đến cuối tháng 7 đầu tháng 8, khi cây cao 25 cm trở lên chúng ta tiến hành ghép giống.

c) Ghép cây: Yêu cầu mắt giống lấy từ cây cam Canh khỏe, không sâu bệnh, chọn cành mọc vượt thẳng trên mặt tán, các lá trên cành đã thành thục, cắt sâu lấy mắt có một phần gỗ mỏng (ghép mắt nhỏ có gỗ), lấy các mắt từ thứ 5 trở lên kể từ đầu cành. Vị trí ghép trên cây gốc ghép cách mặt đất (gốc) khoảng 15 cm, bóc mở phần vỏ trên gốc ghép vừa đúng bằng mắt cam đã lấy để ghép, áp sát mắt ghép vào gốc ghép, dùng nilon chuyên dụng quấn chặt không để lọt nước, vi khuẩn và nấm bệnh xâm nhập vào vết ghép. Sau ghép 20 ngày ta có thể tháo nilon và cắt ngọn ghép, 10 ngày sau cây ghép đã bật mầm, phải thường xuyên vặt bỏ toàn bộ các mầm bưởi mọc ngoài mầm ghép, đảm bảo cây giống thuần cam. Giai đoạn này cần đặc biệt theo dõi phòng trừ kịp thời các loại sâu bệnh, nhất là sâu vẽ bùa, nhện đỏ, có thể phối hợp các loại thuốc trừ sâu bệnh với phân bón lá Atonic để phun thúc đẩy cây phát lộc nhanh. Từ cuối tháng 12 đến đầu tháng 1 khi cây giống đã được hai đợt lộc (có nhấnh cấp 2) ta có thể đưa cây trồng ra ruộng sản xuất.

2. Trồng cây ra ruộng sản xuất:


Chọn ruộng chân cao, thoát nước nhanh, mực nước ngầm thấp (trên 1 m), đất có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình. Cày làm nhỏ, phơi ải, san phẳng, đặt bầu cây thẳng hàng, so le nanh sấu trên mặt ruộng, khoảng cách: 2 x 3 m, đảm bảo mật độ 60 cây/sào (360 m2), vét đất tạo rãnh lấp kín bầu cây đồng thời tạo luống, bón lót bằng cách trải đều phân lên mặt luống vùng rễ cây, liều lượng cho 1 cây: tro bếp 1 kg, NPK Lâm Thao 0,5 kg, bột đậu tương 0,5 kg, hoặc 0,7 bột ngô đỏ, lấp đất kín phân, tưới nước đủ ẩm, chú ý không lót NPK trực tiếp vào rễ cây, như vậy đầu rễ cam dễ bị thối, ngoài ra không nên sử dụng bất cứ loại đạm đơn nào để bón lót cũng như bón thúc cho cam.

Từ các năm sau cứ cây tăng 1 tuổi, lượng phân bón cho mỗi gốc tăng 0,3 kg NPK, 0,2 kg bột đậu tương hoặc 0,3 kg bột ngô đỏ, 0,2 kg tro bếp, mỗi năm bón thúc 2 lần vào tháng 2 và tháng 9, 10. Sau trồng 2 năm cây bắt đầu ra hoa để lấy quả. Ngay từ cuối tháng 1, đầu tháng 2 quan sát thấy lộc cây chuyển màu bánh tẻ ta tiến hành đảo cây (đảo rễ, thay rễ), mục đích cắt bớt một số rễ tơ làm cây trẻ lại, đồng thời hãm cây phát lộc, kích thích cây ra hoa, đậu quả tỷ lệ cao. Dùng dụng cụ chuyên dụng đào vát vào xung quanh gốc cây thành bầu có đường kính và độ sâu 30 – 40 cm, nhấc cả bầu cây lên khỏi mặt luống, phơi ải trắng thì hạ bầu trở lại hốc, lấp kín đất và bón thúc lần 1, tưới ẩm, cách bón và liều lượng bón như trên. Việc đảo cây tiến hành hàng năm sau mỗi lần thu hoạch quả, những năm sau cây lớn hơn đánh bầu rộng hơn sao cho đường kính bầu bằng 1/3 đường kính tán cây theo hình chiếu. Sau đảo rễ 2 tháng, cây bắt đầu phân hóa mầm hoa, chớm nụ, giai đoạn này đặc biệt chú ý phòng trừ các loại sâu bênh cho cam: sâu vẽ bùa, nhện đỏ, rệp các loại…đẻ giữ mã quả sau này.
Khi cánh hóa bắt đầu rụng, quả non đã lộ ra, ta tiến hành khoanh vỏ hãm cây để giữ quả. Dùng dao sắc tiện khoanh tròn lớp vỏ của các cành cấp 1 sao cho vừa đứt vỏ sát thân gỗ vừa mở ra lớp vỏ rộng 1 mm, vị trí vết khoanh cách gốc cành 15 – 20 cm, 10 ngày sau dùng băng nilon đen băng kín vết khoanh lại tránh nấm bệnh xâm nhập, và để cây liền sẹo tiếp tục sinh trưởng, phát triển, nhưng không được băng sớm hơn vết khoanh liền sẹo sớm cây phát triển mạnh khó giữ quả, quá trình khoanh vỏ thường làm 3 lần (vết khoanh nọ cách vết khoanh lia 15 cm), lần 2 tiến hành khi quả bắt đầu rụng quả sinh lý (thường gọi là quá trình phân quả của cây), lần 3 khi cây chuẩn bị phát lộc, đây là lần khoanh vỏ quan trọng, nếu khoanh muộn, cây phtá lộc sẽ đẩy bộ quả ra khỏi cây, dẫn đến rụng quả hàng loạt.
Chú ý với vườn cam đang khai thác quả cần tăng lượng phân bón thúc lần 2 (cuối tháng 9) cho cây nuôi quả, có thể thay NPK Lâm Thao bằng phân bón Đầu trâu có tỷ lệ N:P:K cao hơn. Yêu cầu vườn cam duy trì độ ẩm vừa phải sao cho đất mặt vườn chỉ hơi thâm, người đi vào rãnh không để lại nốt chân, phòng trừ sâu bệnh nên phun định kỳ 45 ngày/lần, phối hợp các loại thuốc: Selecron 500EC (trừ sâu vẽ bùa), Marshal 200SC (trừ rệp), Danitol (trừ nhện) để phun như vậy vườn có thể tương đối sạch sâu bệnh.

Một vườn cam sai, quả nhỏ đều (9 – 11 quả/kg) thì năng suất, chất lượng thường cao, vườn cam ít quả, quả to thì ăn thường khô do ta để ruộng quá hạn hoặc quá ẩm, cây thiếu dinh dưỡng kẽm (Zn), có thể chăm bón quá mức hoặc khoanh vỏ không đúng thời điểm… đều dẫn đến cây phát triển ưu thế ngọn, quả bị đẩy ra, đặc biệt cam đường có rất nhiều rệp ở dễ cây trong đất nếu không phòng trừ kịp thời bằng các thuốc BVTV nội hấp (Suprathion hoặc Supracid), rệp trích hút dịch cây cũng làm gây hiện tương trút quả hàng loạt hoặc quả to ăn khô, đồng thời bổ xung Zn cho cây qua phun các loại phân bón giàu Zn.


Để khắc phục hiện tượng ra quả cách năm bên cạnh áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh đồng bộ cần bón đủ phân, nhất là những năm lấy quả nhiều cần tăng lượng bón. Còn hiện tượng cam nứt quả thường vào 15/11 đến 15/12, nguyên nhâ có thể do độ ẩm đất quá cao hoặc cây thiếu vi lượng đồng (Cu), nên tiêu rút nước kịp thời, bổ xung Cu qua phun dung dịch boocđô… Băbnfg những biện pháp kỹ thuật này gia đình anh Vũ Văn Tĩnh thôn Chấn Đông, xã Hoàn Long, huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên trồng trên 1 mẫu cam Canh khai thác quả 5 năm liền, luôn cho năng suất, chất lượng và sản lượng quả cao, ổn định; Riêng vụ cam năm 2007 anh thu trên 20 tấn quả, doanh thu 350 triệu đồng.

Bí quyết trồng cam đường Canh kiếm tiền Tết

Bí quyết trồng cam đường Canh kiếm tiền Tết

Nay đi chợ tết mới thấy, cam đường Canh đâu chỉ để lấy quả, người ta còn trồng cam đường Canh như một loại cây cảnh.


Cây chỉ cao độ 1m, vòm lá sum suê, trên các cành treo lủng lẳng những quả cam đỏ au, mọng nước, trông rất bắt mắt. Có cây rao bán tới 1 triệu đồng. Giá quả thì dao động từ 60.000-70.000 đồng/kg. Nếu ta có một vườn cam đường Canh thì vụ tết này thu khá lắm!

Cam đường Canh chính là một giống quýt. Nó có vỏ mỏng và bóc dễ nhưng vỏ lại dai nên có nơi còn gọi là cam giấy. Nó được trồng nhiều ở vùng Canh-Diễn (Từ Liêm, Hà Nội) nên có tên là cam đường Canh. Quả của nó hình cầu hơi dẹt, vỏ mỏng, nhẵn, khi chín có màu đỏ gấc rất tươi. Nó thường chín vào trước tết khoảng 1 tháng nên được giữ để bày mâm ngũ quả cúng tổ tiên. Cam đường Canh lại thích nghi rộng, trồng được ở mọi nơi. Nó lại cho năng suất cao, nếu chăm sóc tốt, 1ha có thể thu 40-50 tấn quả. Nhà nào lại kết hợp vừa trồng lấy quả, vừa làm cây giống và lại làm cả cây cảnh từ cam đường Canh nữa thì chắc sẽ mau giàu. Đây cũng là một thế mạnh!

Hiện nay, cam đường Canh đã được trồng ở khắp nơi. Nó có giống chín sớm, giống chín muộn. Nếu trồng, bà con nên chọn đất phù sa ven sông, đất bồi tụ, đất rừng mới khai phá, đất thung lũng, đất phù sa cổ có tầng dày từ 80-100cm, có hàm lượng mùn cao, thoát nước, mực nước ngầm dưới 1m... thì trồng nó mới tốt. Nơi trồng nên cao ráo, thoáng đãng, có pH từ 5,5-6. Nếu nơi đất thấp, ta nên lên luống cao và có rãnh thoát nước dễ dàng.

Cam đường Canh nên nhân giống vô tính bằng các phương pháp ghép, giâm cành, hoặc chiết cành. Mật độ có thể xê dịch tùy từng vùng: Có nơi trồng 300-500 cây/ha (4x5m hoặc 6x7m). Cũng có nơi trồng từ 800-1.200 cây/ha (4x2m hoặc 3x3m hay 3x4m).

Nó là cây lưu niên nên phải đào hố và bón lót tốt trước khi trồng. Hố nên rộng từ 40x40x40cm tới 60x60x60cm. Ở các vùng đồi gò, hố nên rộng hơn (70x70x70cm). Mỗi hố cho 30-40kg phân chuồng hoai mục, 0,2-0,5kg phân lân Văn Điển và 0,1-0,2kg sunphát kali. Ta trộn phân với đất mặt và lấp hố trước khi trồng 15-20 ngày.

Sau khi trồng cây, nên nén chặt và tưới nước ngay. Ta tưới mỗi ngày 1 lần và tưới hơi đẫm trong 10 ngày đầu. Sau đó, mỗi tuần tưới 1-2 lần cho cây. Khi cây đã bén rễ thì giảm dần số lần tưới nhưng giữ cho đất luôn có độ ẩm khoảng 70%.

Ta có thể trồng xen rau, đậu quanh gốc cam trong 2-3 năm đầu khi cây chưa khép tán.

Giống với các cây cùng họ, cam đường Canh cũng dễ bị một số sâu bệnh phá hoại như: Sâu vẽ bùa, sâu đục thân, đục cành, nhện đỏ, nhện trắng, ruồi đục quả, bệnh loét, bệnh chảy gôm, bệnh do virus... Bà con nên tuân thủ quy trình bảo vệ thực vật mà anh em khuyến nông đã hướng dẫn.

Làm tốt mọi khâu, ta sẽ có được những vườn cam đường Canh tuyệt vời.

Cây cam sành

Cây cam sành

Cam sành là một giống cây ăn quả thuộc chi Cam chanh có quả gần như quả cam, có nguồn gốc từ Việt Nam. Quả cam sành rất dễ nhận ra nhờ lớp vỏ dày, sần sùi giống bề mặt mảnh sành và thường có màu lục nhạt các múi thịt có màu cam.


Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
Ngành (divisio) Angiospermae
Lớp (class) Eudicots
Bộ (ordo) Sapindales
Họ (familia) Rutaceae
Chi (genus) Citrus
Loài (species) C. reticulata × maxima
Danh pháp hai phần
Citrus reticulata × maxima
Cam sành được gắn nhiều tên khoa học khác nhau như Citrus nobilis, Citrus reticulata, hay Citrus sinensis, trên thực tế nó là giống lai tự nhiên: C. reticulata x C. sinensis (tên tiếng Anh: king mandarin).


Phân bố

Cam sành Bố Hạ trồng ở Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Cam sành Bố Hạ hợp với đất phù sa cổ, khí hậu mát ẩm. Hiện nay vùng cam này đã bị xoá sổ do bệnh vàng lá greening.

Cam sành Hà Giang-Tuyên Quang-Yên Bái: là vùng cam chủ yếu của các tỉnh phía Bắc Việt Nam, năng suất cao; quả được thu hoạch vào vào dịp Tết.

Tại miền Nam Việt Nam, cam sành cũng được trồng ở Tam Bình, Trà Ôn (Vĩnh Long); Cái Bè, Châu Thành, Chợ Gạo (Tiền Giang); Mỹ Khánh, Ô Môn (Cần Thơ)...

Loài cây này được đưa vào Mỹ năm 1880, khi Đại sứ Hoa Kỳ tại Nhật Bản John A. Bingham chuyển sáu quả cam sành bằng đường tàu từ Sài Gòn tới Dr. H. S. Magee, một người phụ trách vườn ươm giống tại Riverside, California. Năm 1882, Magee gửi hai cây con trồng từ hạt và chồi tới J. C. Stovin ở Winter Park, Florida.

Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2017

Kỹ thuật chăm sóc cây cam sau thu hoạch

Kỹ thuật chăm sóc cây cam sau thu hoạch

Thường xuyên làm sạch cỏ quanh gốc theo hình chiếu của tán cây, để hạn chế việc cạnh tranh dinh dưỡng, trú ngụ, xâm nhập của sâu bệnh.


1. Đốn tỉa, tạo hình

Sau mỗi mùa thu hái quả, công việc đốn tỉa, tạo hình cho cây cam phải được tiến hành thường xuyên như: cắt bỏ những cành khô, cành bị sâu bệnh, cành tăm, cành vượt, cành xiên vào tán, cành mọc quá dày, cành quá yếu nhằm tạo cho cây thông thoáng, ít sâu bệnh.

2. Chăm sóc, bón phân

* Chăm sóc

- Làm cỏ: Thường xuyên làm sạch cỏ quanh gốc theo hình chiếu của tán cây, để hạn chế việc cạnh tranh dinh dưỡng, trú ngụ, xâm nhập của sâu bệnh.

- Tưới nước: Cây cam là loại cây ưa ẩm và ít chịu hạn, việc tưới nước cho cây là rất cần thiết ở các thời kỳ nẩy mầm, phân hoá mầm hoa, thời kỳ ra hoa, kết quả và quả phát triển. Đối với mùa khô hạn cần tưới nước từ tháng 11 đến tháng 2.

Lưu ý: Không để vườn cam bị úng nhất là giai đoạn khi cây mang quả.

* Bón phân: Lượng bón

  Loại phân
Tuổi cây (năm) Phân hữu cơ Phân đạm ure Phân lân nung chảy Phân kali Vôi bột
4 - 5 năm(kg/cây) 35-40 0,35-0,45 0,9-1,2 0,45-0,5 0,7-0,8
6 - 7 năm(kg/cây) 45-50 0,5-0,55 1,4-1,5 0,55-0,65 0,8-1,0
Trên 7 năm bón theo NS trên 80 tạ/ha (kg/tấn quả) 2000-2500 24-26 70-75 25-30 150-250



- Cách bón: Dùng cuốc đào rãnh hoặc cuốc hố theo mép ngoài hình chiếu tán cây, sâu 25 - 30 cm, rộng 20 - 25 cm (tuỳ lượng phân bón) trộn đều các loại phân bón, bón vào rãnh rồi lấp đất ngay.
Thời gian bón: Tháng 2 bón 60% lượng phân đạm urê + 40% lượng phân kali (thúc cành xuân); tháng 6 - 7 bón 40% lượng phân đạm urê + 60% lượng phân kali (thúc cành thu, thúc quả); tháng 9 - 11 bón toàn bộ lượng phân chuồng hoai + phân lân và vôi bột.

3. Phòng trừ sâu bệnh

3.1. Sâu đục thân hay còn gọi là xén tóc

Xén tóc hại cam quýt có 3 loại: Xén tóc xanh lục, xén tóc nâu và xén tóc sao. Nhưng gây hại phổ biến là xén tóc xanh lục.

* Tác hại:

Hàng năm xén tóc xuất hiện vào đầu mùa hè tháng 5, tháng 6. Chúng đẻ trứng vào khe nứt của vỏ cây, sâu non mới nở đục ngay vào vỏ cây thành những đường khoanh tròn xung quanh thân cây, sâu càng lớn vết đục càng dài và sâu vào trong phần thịt gỗ, cứ cách từng quãng chúng lại đục ngang ra ngoài để thải phân, làm gãy cành, chết cây. Thời gian trong thân cây kéo dài từ 6 đến 8 tháng.

* Biện pháp phòng trừ:

- Vào tháng 3 đến tháng 4 bắt diệt xén tóc vào sáng sớm và chiều tối.

- Tỉa cành thường xuyên để cành thông thoáng; cắt cành mới héo do sâu tuổi nhỏ gây ra.

- Dùng hỗn hợp 5 phần phân trâu bò tươi + 10 phần đất sét + 15 phần nước + 0,2 phần thuốc Padan 95 SP, khuấy đều rồi quét lên thân và cành lớn trước khi xén tóc đẻ trứng.

- Sâu tuổi lớn đã đục vào thân cành, dùng dây thép hoặc gai mây chọc vào lỗ để diệt sâu, sau đó dùng Basuzin 10 H nhào với đất sét tỷ lệ 1/20 trát kín vào lỗ đục.

3.2. Sâu vẽ bùa

* Tác hại: Sâu non đục dưới biểu bì lá thành những đường ngoằn ngoèo, ăn lớp tế bào nhu mô làm cho lá co dúm quăn queo, các chồi non ngừng sinh trưởng. Ngoài ra các vết đục còn tạo điều kiện cho bệnh loét cam phát triển. Sâu gây hại các đợt lộc non, nặng nhất là lộc xuân, lộc thu. Hại nặng ở các giống cam lá mỏng, vườn cam ít tỉa cành, tạo tán.

* Biện pháp phòng trừ:

- Thường xuyên tỉa cành, tạo tán cho vườn cam thông thoáng. Chăm sóc đúng quy trình, bón phân trước các đợt lộc để lộc ra tập trung.

- Khi sâu phát sinh gây hại phun trừ bằng một trong các loại thuốc sau:

+ Padan 95 SP, pha 10 gr đến 15 gr thuốc với 10 lít nước.

+ Sherpa 25 EC, pha 10 cc đến 12 cc thuốc với 10 lít nước.

+ Fastac 5 EC, pha 8 cc đến 10 cc thuốc với 10 lít nước.

Chú ý: Khi phun thuốc phải phun ướt đều lá.

3.3. Nhện

Gây hại cam quýt có 2 loại nhện là: Nhện đỏ và nhện trắng, cả 2 loại này cơ thể rất nhỏ bé, mắt thường không thể nhìn rõ được.

* Tác hại:

Nhện trắng hại lá, quả, chúng chích hút tinh dầu làm quả chuyển màu xám bạc, làm quả nhỏ, chua. Nhện hại nặng khi quả định hình và có đường kính từ 3 đến 4 cm.

Nhện đỏ gây hại chủ yếu trên lá đã ổn định, làm lá mất màu xanh bóng, biến thành màu xám bạc. Nhện hại nặng làm lá khô rụng.

Nhện gây hại nặng theo các đợt lộc, nặng nhất là lộc xuân và quả đang lớn. Trong điều kiện mùa xuân ấm áp, khô hạn hoặc vườn cây rậm rạp, không xén tỉa thì nhện phát triển nhanh

và gây hại nặng vào các tháng 3, 4,5 và tháng 10, tháng 11.

* Biện pháp phòng trừ: Tăng cường chăm sóc bón phân, tưới nước không để cây khô hạn, cắt tỉa cành tăm trong tán. Phun trừ bằng một trong các loại thuốc sau:

+ Ortus 5 SC, pha 6 cc đến 8 cc thuốc với 10 lít nước.

+ Comite 73 EC, pha 6 cc đến 8 cc thuốc với 10 lít nước.

+ Dandy 15 EC, pha 8 cc đến 10 cc thuốc với 10 lít nước.

Chú ý: Khi phun thuốc phải phun ướt đều lá, quả.

3.4. Rệp

Gây hại cam quýt có nhiều loại như: Rệp vẩy ốc, rệp sáp, rệp nâu, rệp đen ... Có loại gây hại quanh năm, có loại gây hại theo các đợt lộc.

* Tác hại: Các loại rệp chích hút nhựa lấy dinh dưỡng làm cho lá không phát triển được, biến dạng nhỏ và cứng, cây suy kiệt, giảm năng suất. Có loại còn là môi giới truyền bệng vàng lá Greening, bệnh tàn lụi...

* Biện pháp phòng trừ:
Thường xuyên tỉa cành tạo tán kết hợp bón phân cho cây sinh trưởng tốt. Khi bị hại cần phun trừ bằng một trong các loại thuốc sau:

+ Admire 50 EC, pha 8 cc đến 10 cc thuốc với 10 lít nước.

+ Actara 25 WG, pha 1 gr thuốc với 10 lít nước.

+ Regent 800 WG, pha 1 gr thuốc với 10 lít nước.

Chú ý: Khi phun thuốc phải phun ướt đều lá.

3.5. Bệnh sẹo

* Tác hại:

Bệnh hại trên các bộ phận lá non của cây như: Lá, cành, quả, đài hoa. Vết bệnh ban đầu là những chấm nhỏ màu vàng sau chuyển thành các vết hình chóp khô rám, hoá bần làm cho lá quăn queo, cành và vỏ quả sần sùi thành từng đám như da cóc.

Bệnh hại nặng trên các giống cam sành, hại vào các đợt lộc nhất là lộc xuân. Hại nặng trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, vườn cây rậm rạp.

* Biện pháp phòng trừ: Sau mỗi vụ thu hoạch cần cắt tỉa cành lá, vệ sinh vườn cây để giảm nguồn bệnh lây lan của bệnh. Tăng cường chăm sóc cho lộc ra tập trung phun phòng bằng một trong các loại thuốc sau:

+Anvil 5 SC, pha 10 cc đến 15 cc thuốc với 10 lít nước.

+ Oxyclorure 30 BTN, pha 60 gr đến 70 gr thuốc với 10 lít nước.

+ Bavistin 50 FL pha 8 cc đến 10 cc thuốc với 10 lít nước.

Quy trình bón phân cho cam vinh

Quy trình bón phân cho cam vinh

Cam Vinh được trồng trên chất đất đỏ của vùng miền Tây Nghệ An và được thừa hưởng nhiều ưu đãi đặc biệt về khí hậu và thời tiết đặc trưng để cho ra những trái ngon, ngọt, đậm đà nổi tiếng. Nhưng cũng như nhiều cây cam ở các vùng miền khác đều cần được chăm bón đầy đủ và đúng kỹ thuật để trái cam đạt độ ngọt và chất lượng cao nhất.


Với việc sử dụng loại phân NPK, sau khi thu hoạch, cam Vinh cần được chăm bón theo quy trình kỹ thuật tập trung vào 04 đợt sau đây:

- Đợt 1(khoảng tháng 11 – 12): Làm cỏ, tỉa cành, bón phân. Trong đó, bón phân được coi là yếu tố quan trọng nhất với công thức bón gồm: 100% phân hữu cơ ủ hoai + 100% phân NPK 5.10.3 + 100% vôi. Cách bón phân để đạt hiệu quả tối đa gồm: đào rãnh xung quanh tán, trộn đều và bón theo rãnh đào rồi dùng đất lấp kín phân.
-  Đợt 2: Bón thúc đón hoa (tháng 1 – 2) bón 40% lượng NPK.
-  Đợt 3: Bón thúc quả (háng 4 – 5) bón 30% lượng NPK
-  Đợt 4: Bón thúc quả (tháng 7 – 8) bón 30% lượng NPK

Với cam V2 (thu vào tết) bón thêm đợt tháng 9 - 10 mỗi gốc bón 1kg NPK 16.6.16 (chống nứt quả).

Ngoài ra, chúng ta có thể tham khảo một số quy chuẩn bón phân dựa vào các tiêu chí khác nhau theo các bảng dưới đây.

 Bảng 1: Lượng phân bón theo tuổi cây

Năm tuổi (năm) N (g/cây) P2O5 (g/cây) K2O (g/cây)
1-3 50-150 500-100 60
4-6 200-250 150-200 120
7-9 300-400 250-300 180
Trên 10 400-800 350-400 240
Ghi chú: Tài liệu của GS. Trần Thế Tục.

Bảng 2: Bón phân theo sản lượng

Loại phân và lượng phân Năng suất trên 15 tấn/ha Năng suất trên 8 tấn/ha
N (kg/tấn quả) 7-8 11-12
P2O5 (kg/tấn quả) 7-8 11-12
K2O (kg/tấn quả) 8-10 10-12

Mô hình trồng cam sành xen ổi

Mô hình trồng cam sành xen ổi

Người ta phân tích trong lá ổi có chất terpenoids - hương ổi có thể tác dụng xua đuổi con rầy chổng cánh nên chúng ít xuất hiện trên vườn cam


Mô hình trồng cam sành xen ổi  là dự án Tăng cường hệ thống khuyến nông để áp dụng hệ thống canh tác và kỹ thuật trồng trọt hiệu quả hơn cho nông dân nghèo ở Đồng bằng sông Cửu Long ,hay còn gọi là Dự án Cây có múi JICA tỉnh Bến Tre, được triển khai giai đoạn từ năm 2010-2014.

Trước kia nơi đây trồng cam sành với mật độ 0,8-1,2 m, do quá dầy cành nhánh có tính hướng quang vượt thẳng lên cao 3-4 m nên khó kiểm soát sâu bệnh, tỉa cành, tạo tán, chăm sóc, hái trái. Thời gian hưởng thụ thu hoạch chỉ 2-3 vụ là tàn lụi, đốn bỏ vì rầy chổng cánh xâm nhập truyền virus gây bệnh vàng lá Greening.
Mô hình trồng cam sành xen ổi

Mô hình trồng cam sành xen ổi


Trước năm 2004 các nhà khoa học đã tình cờ phát hiện ở ĐBSCL có những vườn cam sành trồng xen ổi xá lị ít thấy rầy chổng cánh hơn là vườn cam không xen ổi. Đây là mấu chốt để nghiên cứu cây ổi. Người ta phân tích trong lá ổi có chất terpenoids (hương ổi) có thể tác dụng xua đuổi con rầy chổng cánh nên chúng ít xuất hiện trên vườn cam. Từ đó có nhiều đề tài nghiên cứu và mô hình thử nghiệm cho thấy trồng cây cam sành xen cây ổi đã làm giảm sự xâm nhiễm rầy chổng cánh gây bệnh vàng lá Greening. Đồng thời kỹ thuật dùng phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh để bồi bổ cho đất luôn tơi xớp, kỹ thuật chăm sóc đồng bộ, bộ rễ phát triển mạnh, làm cho cây cam sành  khoẻ, kháng bệnh tốt, đâm chồi, phát tán sum suê.

Muốn được điều đó, phải lưu ý những công tác sau:


1. Chọn giống

Chọn giống cam sành sạch bệnh, giống ổi ngon như ổi xá lị, ổi ruột trắng hoặc ruột đỏ không hạt bán được giá cao.

2. Cách trồng

Lên mô cao 0,3-0,5 m, đường kính mô rộng 1-1,5 m, khoảng cách trồng 4 x 4 m, khoảng giữa trồng xen cây ổi. Trồng ổi trước đó 6-8 tháng so khi trồng cam, sau đó cứ cắt tỉa cây ổi sao cho chiều cao cây ổi không cao, không thấp hơn cây cam 0,3-0,5 m để cây ổi có đủ lá và mùi xua đuổi rầy chổng cánh. Thời vụ xuống giống cam sành nên vào tháng 9-11 dương lịch, vì lúc nầy mật độ rầy chổng cánh rất ít.

3. Bón phân – phòng trừ sâu bệnh

- Trước khi đặt cây giống phải bón lót 10 kg/gốc phân hữu cơ vi sinh hoặc phân chuồng trộn trong đất, dùng ống chích bơm thuốc Nokaph 20 EC nguyên chất 8 ml/cây/mô được chia làm 4 lổ, mỗi lổ 2 ml, cách gốc 30 cm, sâu 10 cm để thuốc thấm dần vào rễ non của cây, cứ 2 tháng/lần phòng ngừa sâu bệnh, dùng các thuốc lưu dẫn như Bassa 50 EC pha theo liều lượng khuyến cáo trên nhãn chai phun đều trên mặt líp. Nếu không có các loại thuốc nêu trên có thể dùng các thuốc trừ nấm, trừ sâu lưu dẫn tương tự để phòng trị.

- Sau 10 ngày đặt cây giống tưới phân NPK 18-12-14 pha 50 g/gốc, đồng thời thuốc Ridomil Gold 68 WP pha 30 g trong 10 lít nước tưới cho một mô. Năm 1-2 cứ 6 tháng bón 10 kg phân hữu cơ vi sinh và vôi một lần, phân NPK 20-20-15 cứ 90 g/gốc/tháng, năm thứ 3-4 bón 150 g/gốc/tháng, về sau tăng dần 250 g/gốc, 350 g/gốc; mỗi năm bón 5-6 lần. Mùa nắng tưới nước 3-4 ngày/lần cho cam, ổi. Ngoài ra, hàng tháng thấy cần ngừa các bệnh nên phun dung dịch Bordaux trên lá và phun riêng các phân bón lá khác chứa nhiều vi lượng như Mg, Mn, Cu, Zn, Mo, Bo…Năm thứ 2 nếu cây ra hoa nên cắt bỏ.

- Khi cây cam sành lên cao hơn 0,5-0,6 m ta cắt đọt ngay vị trí đâm chồi sao cho cách gốc 0,5-0,6 m để tạo các chồi mọc cháng hai, cháng ba. Khi đâm chồi, cành nhiều, ta cắt bỏ bớt các chồi vô hiệu, cành đan chéo, cành mọc không đúng chỗ. Tỉa chồi, cắt cành nên tạo khoảng cách từ cháng hai xuống mặt đất khoảng 0,5-0,6 m để ít nhiễm bệnh từ mặt đất văng lên. Các chồi từ cháng hai trở lên khoảng cách thưa ra 0,10-0,15 m để thân cây cung cấp đủ dinh dưỡng các cành và cho trái đồng đều.

- Khi cây 1-2 năm tuổi quét vôi, quét thuốc trừ nấm trên thân gốc 6 tháng/lần, nhất là phòng ngừa nấm Phytophthora dễ tấn công. Mỗi khi cắt, cưa một cành nhánh thì vệ sinh dụng cụ bằng cồn hay nước eau de javel không cho nấm, vi sinh vật lây lan. Sau đó dùng keo dán gỗ hoặc vôi hay pha thuốc trừ nấm thoa lấp lên vết cắt, để nấm bệnh không xâm nhiễm vào vết cưa, vết cắt.

4. Chăm sóc cây


- Các cành dài ra ta dùng dây nhựa buộc kéo dần uốn xuống đất với góc 450 theo hướng tứ diện, tạo tán lá tròn, đều nhau; uốn từ từ để cành ngả ra theo sự mong muốn. Cây cam sành trồng theo phương pháp nầy được khống chế chiều cao khoảng 1,5-2 m nhưng tán cây rộng 2-3 m, dưới mặt đất để cỏ mọc lấp sấp giữ ẩm. Thật sự dễ chăm sóc, tỉa cành, hái trái.

- Trước khi trồng nên thiết kế đặt cây cam, cây ổi vào bảng vẽ, đánh số thứ tự từng gốc cam trong sơ đồ và sau khi trồng mang thẻ ghi số từng cây. Trong quá trình quan sát, theo dõi ghi nhật ký hàng ngày, hàng tuần, khi nhận xét lưu ý từng cây có mang số để chúng ta nhớ chăm sóc, phòng trị bệnh kịp thời.

- Ngoài việc theo dõi cây cam cũng không quên chăm sóc cây ổi như bón phân,,  bấm đọt để cây ổi ra hoa kết trái và bao trái nhằm tạo giá trị thu nhập cao từ cây ổi.

Việc trồng cam sành theo nguyên lý xen ổi vừa nêu trên cũng có thể áp dụng trồng cho các loại cây khác như bưởi, quýt, chanh./.

Giống Cam V2

Giống Cam V2

Đây là giống cam ngọt chín muộn, khả năng thích nghi rộng, kháng bệnh tốt, thu hoạch muộn hơn hoặc cùng lúc với cam sành ở các tỉnh phía Bắc, từ cuối tháng 12 đến tháng 3


TS Đỗ Năng Vịnh, Phó Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp (Viện KHNN VN) cho biết: Giống cam V2 được chọn tạo từ giống Valencia Olinda, làm sạch bệnh qua vi ghép, cây khoẻ và năng suất khá hơn so với giống gốc; đã được Bộ NN - PTNT công nhận là giống chính thức.

Đây là giống cam ngọt chín muộn, khả năng thích nghi rộng, kháng bệnh tốt, thu hoạch muộn hơn hoặc cùng lúc với cam sành ở các tỉnh phía Bắc, từ cuối tháng 12 đến tháng 3. Cây sinh trưởng phát triển tốt, phân cành đều, cây cân đối, khả năng ra hoa đậu quả cao. Quả gần như không hạt (từ 0 đến 6 hạt, trung bình 4,5 hạt/quả trong điều kiện trồng xen), trong khi giống cam Xã Đoài trung bình 19,6 hạt/quả. Quả dễ bảo quản và bảo quản được lâu trên cây, thành phần và chất lượng nước quả tuyệt hảo. Quả to trung bình (190,0 - 250,0 gr/quả), có thể lưu giữ trên cây lâu mà không bị giảm chất lượng, vỏ quả mỏng, vàng đẹp với độ dày trung bình 3,0 mm, lõi quả vàng ươm, số múi trung bình trên quả là 11, hàm lượng nước cao, tỷ lệ xơ thấp, chất lượng thơm, ngọt đậm, ít hạt, khả năng kháng bệnh (bệnh loét, chảy gôm, nấm đen gốc, khô cành) tốt hơn so với các giống hiện có trong nước.

Theo TS Vịnh, kết quả sản xuất thử và xây dựng mô hình trồng cam V2 ở Nghệ An, Hoà Bình, Yên Bái và nhiều tỉnh khác cho thấy giống V2 cho năng suất cao. Tại Nghệ An, có nơi giống V2 đạt 20 tấn/ha ngay ở giai đoạn đầu cho quả (năm thứ 4). Với giá 25.000 - 30.000 đ/kg, tính ra 1 ha có thể cho thu hoạch khoảng 500 triệu đồng. Hiện giống cam V2 đang được mở rộng sản xuất ở nhiều địa phương trong nước, đặc biệt ở các vùng cam truyền thống như Phủ Quỳ, Anh Sơn (Nghệ An), Cao Phong (Hoà Bình). Giống này có thể trồng rộng rãi trong cả nước, tuy nhiên Viện Di truyền NN khuyến cáo phát triển tại các địa phương từ Hà Tĩnh trở ra và ở Tây Nguyên.

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

Quy trình kỹ thuật trồng Cam V2

Quy trình kỹ thuật trồng Cam V2

Cam V2 là giống cam ngọt chín muộn, khả năng thích nghi rộng, kháng bệnh tốt. Cây sinh trưởng phát triển tốt, phân cành đều, cây cân đối, khả năng ra hoa đậu quả cao


1. Chuẩn bị đất và chuẩn bị đất trồng:

*  Chọn đất:  - Có tầng dầy từ 1 m trở lên, kết cấu xốp để giữ mầu, và thoát nước tốt, giàu mùn và các chất dinh dưỡng. Độ dốc của đất từ 3- 20o (tốt nhất là 3-8o ).  

- Chọn địa điểm trồng: + Xa các vườn cây ăn quả có múi đã bị nhiễm bệnh virus hoặc tương tự virus, bệnh vi khuẩn như bệnh loét.

+ Không trồng trên các vườn đã trồng cây ăn quả có múi cũ đã có triệu chứng tiền nhiễm tuyến trùng hoặc các bệnh nấm như Phytophthora.
+ Không nên trồng trên các vùng quá khô hạn, xa nguồn nước tưới hoặc nơi đất trũng, khó thoát nước.
+ Vệ sinh đồng ruộng: Chặt bỏ các cây có múi bị bệnh virus hoặc tương tự virus ở vùng xung quanh.
- Giải phóng đất sớm trước khi trồng. Nếu là đất chu kì 2 nên trồng 2-3 vụ cây họ đậu để cải tạo đất.
+ Tạo cách ly không gian với các vùng xung quanh để tránh các vectors lây nhiễm bệnh: Trồng hàng cây chắn gió, tốt nhất nên trồng bạch đàn, keo tai tượng, cao su... Hàng cây chắn gió có thể ngăn được một số loài sâu bệnh hại, vectors truyền bệnh và ngăn cản được những đợt gió mạnh và nóng đặc biệt là các tỉnh Bắc Trung bộ... làm giảm nhiệt độ và giảm thoát nước bề mặt khi gặp gió Tây Nam.
* Chuẩn bị đất trồng
Bao gồm: phát quang, san mặt bằng; thiết kế vườn trồng; đào hố; bón phân lót và lấp hố; các công việc khác như làm đường, mương rãnh tưới tiêu nước,...
- Phát quang và san ủi mặt bằng
+ Đối với những đồi rừng chuyển sang trồng cây ăn quả nói chung và trồng cam V2 đều phải phát quang, thậm chí phải đánh bỏ toàn bộ rễ cây rừng và san ủi tạo mặt phẳng tương đối để cho việc thiết kế vườn được dễ dàng. Trừ những nơi đất quá dốc ( từ khoảng 100 trở lên ) sẽ áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, nghĩa là chỉ phát quang, dãy cỏ, san lấp những chỗ quá gồ ghề sau đó thiết kế và đào hố trồng cây, còn ở những nơi đất không quá dốc hoặc bằng, sau khi phát quang, san ủi sơ bộ có thể dùng cày máy hoặc cày trâu cày bừa một lượt để vừa sạch cỏ vừa tạo cho bề mặt vườn tơi xốp ngăn được sự bốc hơi nước của vườn sau khi bị phát quang.
+ Đối với các loại đất chuyển đổi khác sang trồng cam V2 cũng cần phải dọn sạch  và tạo lại mặt bằng trước khi thiết kế .
- Thiết kế vườn trồng Thiết kế vườn trồng bao gồm các nội dung công việc như bố trí lô thửa, đường đi, mương, rãnh tưới tiêu nước, bố trí mật độ, khoảng cách vv…
+ Tuỳ theo quy mô diện tích và địa hình đất mà có thiết kế vườn trồng một cách phù hợp. Đối với đất bằng hoặc có độ dốc từ 3 – 50 nên bố trí cây theo kiểu hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tam giác ( kiểu nanh sấu ). Đất có độ dốc từ 5 – 100 phải trồng cây theo đường đồng mức, khoảng cách của hàng cây là khoảng cách của đường đồng mức. Ở độ dốc 8 –100  nên thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang đơn giản , dưới 80 có thể áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, trên 100 phải thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang kiên cố.
+ Đối với vườn diện tích nhỏ dưới 1ha không cần phải thiết kế đường giao thông, song với diện tích lớn hơn thậm chí tới 5 - 10 ha cần phải phân thành từng lô nhỏ có diện tích từ 0,5 đến 1ha/lô và có đường giao thông rộng để có thể vận chuyển vật tư phân bón và sản phẩm thu hoạch bằng xe cơ giới, đặc biệt đối với đất dốc cần phải bố trí đường
+ Thiết kế lô, thửa, xây dựng hệ thống chống xói mòn, hệ thống tưới và thoát nước.
+ Chọn cây ngắn ngày trồng xem thích hợp, nhất là cây họ đậu.

2. Thời vụ trồng: Ở các tỉnh phía Bắc thời vụ trồng cam quýt là mùa xuân (Tháng 2 - 4)  hoặc mùa thu. Nhưng tốt nhất là trồng vào mùa xuân hoặc đầu mùa mưa.

3. Mật độ: Mật độ trồng nên trồng 4 x 5 m.

4. Kỹ thuật trồng


- Đào hố : hố trồng cam có kích thước 0,8 x 0,8 x 0,8m hoặc 1 x 1 x 1m, khi đào hố cần lưu ý để lớp đất mặt về một phía, lớp đất phía dưới về một phía. Sau khi đào hố xong, hố được phơi khô ít nhất là 1 tháng, dùng 1kg vôi bột rắc xung quanh hố. Ở các vùng đất cứng, thoát nước kém hố đào sâu có thể trở thành vũng nước mưa, gây nghẹt rễ, cần có biện pháp thoát nước.

- Chuẩn bị phân bón lót: Mỗi hố bón từ 50- 80kg phân chuồng hoai mục + 1kg P2O5 + 5 - 10 kg xỉ than trộn với lớp đất phía dưới cho vào hố, lớp đất mặt + 100g urê + 100g K2O5. Trồng xong nên phủ gốc để chống thoát hơi nước và cỏ dại, phủ cách gốc 10cm.

- Chăm sóc

+ Làm cỏ: Cỏ xung quanh gốc cần được nhổ sạch. Phần đường lô nên chỉ cắt cỏ để giữ ẩm, chống xói mòn đất và là nơi cư trú của côn trùng có ích trong vườn cam.
+ Bón phân: Bón phân nhằm cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cây bao gồm nguyên tố đa lượng (N, P, K, Ca), các nguyên tố vi lượng (Bo, Cu, Zn, Mn, Mg…) để cây sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng cao, tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh hại. Hàng năm cần bón bổ sung 30- 40kg phân chuồng hoặc phân hữu cơ/cây kết hợp với bón phân hoá học. Cách bón: Đào rãnh sâu 25-30cm theo tán cây, bón rồi lấp đất lại và tưới nước.
+ Tỉa cành tạo tán: Sau khi trồng cây đã ổn định tiến hành cắt cành ngọn để tạo tán cho cây phát triển thành 3-4 cành cấp I theo 4 hướng, từ mỗi cành cấp I lại để 3-4 cành cấp II…
Các cành vượt cũng thường xuyên cắt tỉa (chú ý cắt sát thân cành để tạo mô sẹo).
Cành mang quả nhiều cũng cần tỉa quả để quả phát triển đồng đều.

+ Tưới nước: Sau khi trồng nên tưới nước 2-3 lần nếu trời không mưa để tạo điều kiện cho rễ phát triển. Những nơi có hệ thống tưới cần chú ý tưới cho cây ở thời kỳ phát lộc hoặc sau các đợt bón phân.

- Chống tái nhiễm bệnh: Thường xuyên thăm vườn, cắt cành hoặc chặt bỏ cành, cây có triệu chứng bệnh greening và các bệnh virus khác.
Phun thuốc trừ sâu nội hấp khi phát hiện rầy chổng cánh (Diaphorina citri) môi giới truyền bệnh greening và rệp aphid môi giới truyền bệnh Tristeza (chú ý các đợt lộc).

5. Phòng trừ tổng hợp các loại sâu bệnh: Trong vườn cây có múi nhiều loại sâu bệnh khác như: sâu đục thân, sâu vẽ bùa, nhện, bệnh loét, bệnh chảy gôm… Các loại sâu bệnh này chỉ có thể phòng trừ có hiệu quả bằng việc áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp.

5.1. Sâu hại

Sâu vẽ bùa (Phyllosnis Citrella):  Phá hoại chủ yếu ở thời kỳ vườn ươm và cây nhỏ 3-4 năm đầu mới trồng. Trên cây lớn thường phá hoại vào thời kỳ lộc non, nhất là đợt lộc xuân. Dù ở thời kỳ nào của cây cam, sâu chỉ đẻ trứng và phá trên các búp non. Sâu non nở ra ăn lớp biểu bì trên lá, tạo thành những vết ngoằn ngèo,có phủ sáp trắng,lá xoăn lại , cuối đường cong vẽ trên mặt lá có sâu non bằng đầu kim. Sâu phá hoại mạnh ở tất cả các tháng trong năm (mạnh nhất là từ tháng 2 tới tháng 10).

Phun thuốc phòng 1-2 lần trong mỗi đợt cây có lộc non là hiệu quả nhất (lúc lá non dài1-2 cm)

Dùng thuốc Trebon hoặc Sherpa pha với nồng độ 1/1000 - 1,5/1000. Khi xuất hiện sâu trừ diệt bằng một trong hai loại thuốc trên nhưng cần pha thêm dầu Cantect để phun trừ thì diệt sâu mới có hiệu quả. Phun ướt hết mặt lá.

Sâu đục thân (Chelidonium argentatum), đục cành (Nadezhdiella cantori) xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9.

- Đặc điểm gây hại:

Sâu trưởng thành đẻ trứng vào các kẽ nứt trên thân, cành chính. Sâu non nở ra đục vào phần gỗ tạo ra các lỗ đục, trên vết đục xuất hiện lớp phân mùn cưa đùn ra.

- Phòng trừ:

+ Bắt diệt sâu trưởng thành (Xén tóc)
+ Phát hiện sớm vết đục, dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non
+ Sau thu hoạch (tháng 11 - 12)  quét vôi vào gốc cây để diệt trứng
+ Bơm các loại thuốc xông hơi như  Ofatox 400 EC 0,1%; Supracide 40ND 0,2% vào các vết đục, sau sau đó dùng đất dẻo bít miệng lỗ lại để diệt sâu.

Chú ý:
sâu đục thân đục cành thường đẻ trứng ở các kẽ nứt của vở ở phần thân cây và gốc cây, vì vậy vào tháng 11- 12 thường dùng vôi quét vào gốc cây sẽ có tác dụng làm nấp những kẽ nứt ở vỏ cây không cho sâu có chỗ đẻ trứng và tiêu diệt (làm bị ung những trứng sâu đã đẻ trong kẽ nứt)

Nhện đỏ (Paratetranychus Citri)
: Phát sinh quanh năm hại lá chính, chủ yếu vào vụ đông xuân.

Nhện đỏ rất nhỏ, thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo đi. Trên lá nơi nhện tụ tập thường nhìn thấy những vùng tròn bị bạc hơn so với chỗ lá không có nhện, hơi phồng lên nhăn nheo. Những cây cam quýt hoặc vườn cam quýt gần nương chè thường  hay có nhện đỏ phá hoại.

Nhện trắng (Phyllocoptes oleivorus) phát sinh chủ yếu trong thời kỳ khô hạn kéo dài và ít ánh sáng (trời âm u hoặc cây bị che bởi các cây khác). Nhện trắng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rám quả, các vết màu vàng sáng ở dưới mặt lá.

Để chống nhện trắng và nhện đỏ, dùng thuốc Monocrophos 56% để phun với nồng độ 1- 2% (tức 10- 20 ml thuốc/10 lít nước),  hoặc dùng thuốc Methamidophos 600 dạng nước pha nồng độ 1- 2% để phun. Nếu không có 2 loại thuốc trên thì dùng Kentan (thuốc vẫn dùng cho chè) pha nồng độ 1- 2/1000. Cần phun ướt cả mặt dưới lá và phun lúc cây đang ra lộc non để phòng. Nếu đã bị phá hại phải phun liên tục mỗi lần cách nhau 5- 7 ngày.

Rệp cam: chủ yếu hại các lá non cành non. Lá bị xoán rộp lên, rệp tiết nước nhờn khiến lá bị muội đen.

Rệp sáp: trên mình phủ 1 lớp bông hoặc sáp màu trắng hình gậy, hình vảy ốc, có thể màu hồng hoặc màu xám nâu. Cam ở gần ruộng mía thường hay bị rệp từ mía lan sang.

Dùng Trebon, Sherpa pha với nồng đọ 1- 2/1000 phun 1- 2 lần vào thời kỳ lá non. Khi xuất hiện rệp, muốn điều trị có hiệu quả cần pha thêm một ít xà phòng để có tác dụng phá lớp sáp phủ trên người rệp làm cho thuôc dễ thấm.

Ruồi vàng hại quả

Ruồi trưởng thành đẻ trứng vào vỏ quả, sâu non nở thành dòi đục vào trong quả làm thối quả. Khi trứng chưa nở ngoài vỏ quả cam chỉ thấy một vết châm rất nhỏ, nhưng khi trứng nở thành dòi vết châm bị thâm nâu và lan rộng, ấn tay vào thấy nước cam phòi ra, bên trong quả đã rất nhiêu dòi. Dùng bả gồm Methyl Eugenol 90 – 95% + 5 –10% Nalet. 2ml cho một bả, mỗi bả dùng cho 50 cây, đánh liên tục 10 – 12 lần trong mùa quả chín. Phun Sherpa, Trebon 1 – 2/1000 cho vườn cây 3 – 4 lần, cách nhau 5 –7 ngày.

5.2. Bệnh hại

5.2.1. Các bệnh do nấm

* Bệnh loét cam quýt
(Xanthomonas Citri) và bệnh sẹo (Ensinoe Faucetti Jenk) gây hại chủ yếu ở thời kỳ vườn ươm và cây mới trồng 1-3 năm. Trên lá thấy xuất hiện các bệnh màu nâu, có thể lốm đốm hoặc dầy đặc trên mặt lá, hình tròn, bề mặt vết bệnh sần sùi gồ ghề. Nếu bệnh xuất hiện trên cành sẽ nhìn thấy các đám sần sùi giống như ghẻ nở có màu vàng hoặc màu nâu. Cành bị nhiều vết bệnh sẽ khô và chết.

Trị bệnh loét sẹo bằng cách phun boocđô 1-2% hoặc thuốc Kasuran 1/1000.

Cách pha thuốc boocđô cho bình 10 lít:

- Dùng 0,1 kg sunfat đồng + 0,2 kg vôi tôi (nồng độ 1%)
- Lấy 7 lít nước pha với đồng sunfat đánh cho tan đều  pha với 3 lít nước đã pha với vôi, lọc bỏ cặn bã (làm như vậy để tránh kết tủa khi phun không bị tắc vòi phun)

* Bệnh chảy gôm (Phytophthora Citropthora): bệnh thường phát sinh ở phần gốc cây cam quýt cách mặt đất từ 20 - 30 cm trở xuống cổ rễ.

Giai đoạn đầu bệnh mới phát sinh thường vỏ cây bị những vết nứt và chảy nhựa (gôm). Bóc lớp vỏ ra ở phần gỗ bị hại có màu xám và có thể nhìn thấy sợi nâu hoặc đen chạy dọc theo thớ gỗ. Bệnh nặng lớp vỏ bị hại sẽ thối rữa và tuột khỏi thân cây, phần gỗ bên trong lớp vỏ hoá đen xám. Nếu tất cả xung quanh phần cổ rễ bị hại cây sẽ bị chết ngay, còn bị hại một phần thì lá bị vàng cây sinh trưởng kém. Bới sâu xuống đất có thể thấy nhiều rễ cũng bị thối. Những địa hình thoát nước kém cây dễ bị bệnh chảy gôm.

Cách phòng trị: dùng thuốc boocđô 1-2%  để phun trên cây và đổ trực tiếp vào vết bệnh. Nếu cả rễ bị bệnh có thể đào lên loại bỏ rễ thối và xử lý thuốc. Ngoài ra có thể dùng thuốc Aliette hoặc thuốc benlat pha với nồng độ 2/1000 để xử lý các vết bệnh và phun trên lá.

6.2.2. Các bệnh do virus.

* Bệnh greening (Bệnh gân xanh lá vàng)

Tác nhân gây bệnh là một vi khuẩn sống trong tế bào, gram âm, phá hại chủ yếu các mạch libe ở các bộ phận còn non, rất phổ biến ở Đông Nam á.

Triệu chứng:

+ Trên cây nhỏ, cây lùn nhỏ, tán lá không đều, lá nhỏ đi. Lá biến vàng lốm đốm hoặc vàng lá gân xanh.

+ Trên cây lớn: Cũng giống như cây nhỏ  nhưng chỉ xuất hiện trên một vài lá, một vài cành, bị nặng thì mới xuất hiện trên toàn cây.
Bệnh lây truyền qua chiết ghép và môi giới truyền bệnh phòng trừ bệnh greening cũng như nhiều bệnh vi rút khác cần tiến hành theo 2 hướng: giảm số lượng côn trùng môi giới trong tự nhiên và dùng cây giống sạch bệnh.
Để hạn chế bệnh Greening:  Trồng xen ổi với mật độ 2 hàng cam Valencia, 1 hàng ổi có tác dụng rõ trong việc hạn chế sự xuất hiện của rày chổng cánh - đối tượng truyền bệnh nguy hiểm.

* Bệnh Tristeza

Triệu chứng giống như bệnh Greening, nhưng phần bị bệnh phá hại là gốc cây, cho nên khi cây bị bệnh thì toàn bộ lá trên cây đều bị vàng, giống như bệnh chảy gôm. Chỉ khác bệnh chảy gôm là lá cây bị bệnh tristeza chuyển màu vàng gần trong và bị biến dạng, sinh cành, còn cây bị bệnh chảy gôm thì lá chỉ bị vàng và không bị biến dạng.

Gốc cây bị bệnh, có thể bị những vết lõm, vỏ chỗ vết lõm bị nứt. Nếu bóc lớp vỏ ra thấy phần gỗ bên trong bị hoá bẩn (nhìn thấy một đám trắng xôm xốp). Nhìn kỹ thấy những mụn gỗ nhỏ li ti nổi lên đám gỗ hoá bần. Cây bị bệnh Tristeza chết rất nhanh, từ khi phát hiện thấy vàng lá chỉ trong vòng vài tuần hoặc một tháng cây có thể chết.
Lịch phát sinh sâu bệnh hại thường thay đổi tuỳ thuộc vào điệu kiện cụ thể của từng năm. Cần theo dõi thường xuyện diễn biến sâu bệnh hại để có biện pháp phòng trừ kịp thời.

6. Thu hoạch và bảo quản


- Cần thu hoạch kịp thời để không ảnh hưởng tới phẩm chất quả. Khi quả có 1/3 – 1/2 vỏ quả chuyển màu là thu hoạch được.
- Khi thu hái nên dung kéo cắt cuống quả, không làm xây xát vỏ quả, gãy cành. Phân loại trước khi cất giữ hoặc vận chuyển bán ngoài thị trường.

Tác dụng chữa bệnh của quả cam

Tác dụng chữa bệnh của quả cam

Theo y học cổ truyền, cam có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chống co giật, lợi tiểu, nhuận phế, trừ ho, sinh tân dịch, thông đại tiện, làm da mịn màng, tươi tắn. Nó được dùng để chữa một số bệnh như bí tiểu, khó sinh, ho


Sau đây là một số bài thuốc từ quả cam:

- Chữa táo bón: Vỏ cam 250 g, cho 2 bát nước vào nấu nhừ, ăn dần trong ngày.
- Chữa ho có đờm, giã rượu: Vỏ cam 250 g (thái nhỏ, sao vàng), muối nửa thìa cà phê, cho vào 3 bát nước, sắc còn 1 chén, uống 2 lần trong ngày.

- Chữa chứng phù thũng ở sản phụ: Vỏ cam phơi khô, tán bột, mỗi lần uống một thìa cà phê bột này với 30 ml rượu nếp, uống mỗi ngày 3 lần trong 3-5 ngày.

- Chữa bí tiểu hoặc khó sinh: Trái cam non phơi khô, đốt cháy sơ, tán bột. Mỗi lần uống 1 thìa cà phê bột nói trên với 30 ml rượu nếp, ngày 2 lần, liên tục trong 3 ngày.

- Chữa đầy hơi, khó tiêu: Vỏ cam 250 g thái nhỏ, lách lợn 1 cái để nguyên, cho vào 3 bát nước, đun nhỏ lửa cho đến khi còn một bát, dùng cả nước lẫn cái.

- Hỗ trợ trong việc chữa sốt xuất huyết: Nước ép quả cam, uống mỗi ngày 3 lần mỗi lần 1 quả 250 g.

- Chữa chứng ăn không ngon miệng: Vỏ cam 250 g, gừng già 50 g, tất cả phơi khô, tán bột, trộn đều và uống ngày 2 lần trước bữa ăn, mỗi lần 1 thìa cà phê, liên tục trong 3-5 ngày.

Chú ý khi dùng cam

- Người có cơ thể hàn (sợ nước sợ lạnh, rêu lưỡi trắng), thận khí yếu, yếu sinh lý không nên ăn cam nhiều.

- Không dùng cam chua lâu ngày vì không thích hợp cho dạ dày và ruột.

- Vì cam có tỷ lệ đường thấp nên bệnh nhân tiểu đường thỉnh thoảng vẫn có thể dùng được.

- Nên dùng cam vào buổi sáng và vào lúc bụng đói.


- Nên dùng cam sành vì nó bổ dưỡng nhất trong các loại cam.

Thông tin khoa học về quả cam

Thông tin khoa học về quả cam

Cây gỗ nhỏ có dáng khoẻ, đều; thân không gai hay có ít gai. Lá mọc so le, phiến lá dài, màu xanh đậm, hình trái xoan, dài 5-10cm, rộng 2,5-5cm, mép có răng thưa


Cam hay Cam chanh - Citrus sinensis (L.) Osheck (C. aurantium L. var. dulcis L.), thuộc họ Cam - Rutaceae.

Mô tả: Cây gỗ nhỏ có dáng khoẻ, đều; thân không gai hay có ít gai. Lá mọc so le, phiến lá dài, màu xanh đậm, hình trái xoan, dài 5-10cm, rộng 2,5-5cm, mép có răng thưa; cuống hơi có cánh, rộng 4-10mm. Chùm hoa ngắn ở nách lá, đơn độc hay nhóm 2-6 hoa thành chùm; đài hoa hình chén, không lông; cánh hoa trắng dài 1,5-2cm; nhị 20-30 cái dính nhau thành 4-5 bó. Quả gần hình cầu, đường kính 5--8cm, màu vàng da cam tới đỏ da cam; vỏ quả dày 3-5mm, khó bóc; cơm quả quanh hạt vàng, vị ngọt; hạt có màu trắng.

Cây ra hoa quanh năm, thường có hoa vào tháng 1-2, có quả vào tháng 10-12.

Bộ phận dùng: Quả, kể cả dịch quả và vỏ quả; hoa - Fructus et Flos Citri Sinensis. Lá và vỏ cây cũng được dùng. Ở Trung Quốc, người ta dùng quả chưa chín của Cam chanh cũng như quả xanh của cây Toan chanh - Citrus aurantium L., làm thuốc gọi là Chỉ thực - Fructus Aurantii Immaturus.

Nơi sống và thu hái: Cây của Á châu nhiệt đới được trồng rộng rãi khắp nước ta để lấy quả ăn. Người ta đã tạo được những giống lai giữa cam và quýt, cam và bưởi. Các tác giả Bách khoa Nông nghiệp cho biết ở nước ta có những giống cam nổi tiếng.

- Cam Xã Đoài: Cây tương đối cao, ít cành lá (cành quả). Quả ngon, thơm, trồng ở Xã Đoài, xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An rồi lan ra cả vùng đất nhẹ huyện Nghi Lộc.

- Cam ở miền Nam: Vỏ nhiều khi vẫn xanh, cây rải vụ (vụ thu hoạch kéo dài).

- Cam Động đình: Cây to, lá xanh nhạt, tai lá to; quả to, màu đỏ tía, nhiều nước, hơi chua, dễ trồng, có sức chống chịu, là giống lai giữa Cam và Bưởi. Hiện trồng ở tỉnh Hải Hưng.

- Cam đường: Gần với Quýt hơn Cam. Cây cao 2-3m, tán rộng, nhiều cành lá, lá không có tai. Quả trung bình 100g, vỏ mỏng, màu vàng đỏ hay đỏ sẫm, dễ bóc, múi dễ chia. Có ba loại hình chính là Cam giấy với các giống Cam Canh (Hà Nội), Cam Đồng dụ (Hải Phòng), Cam Ngọc cục và Cam Hành Thiện (Nam Hà); Cam Bù, Cam Chua, dễ trồng sai quả, vị hơi chua, phổ biến ở Hương Sơn (Hà Tĩnh), Tuyên Hoá (Quảng Bình); Cam voi, quả to 300-350g lai giữa Cam bù và Bưởi, trồng ở Tuyên hoá (Quảng Bình).

- Cam sành: Cây cao 2-3m, phân cành thấp, lá có tai nhỏ, quả sần sùi, vỏ dày, khi chín màu vàng hay đỏ sẫm, vỏ dễ bóc, ruột đỏ, vị ngọt, hơi chua. Giống phổ biến là Cam Bố Hạ, trồng ở vùng bãi phù sa Hà Bắc trên đất thoát nước; quả dẹt, nặng trung bình 200-250g, màu vàng đỏ đẹp, chín vào tháng 11-12-1 năm sau, dịp Tết Nguyên đán, Cam sành có tên là Citrus nobilis Lour. với quả có vỏ sần sùi mịn, khi chín màu vàng đỏ, tuy dày nhưng dễ bóc, hột có màu nâu lục. Quýt trước đây vẫn được xem là một thứ trong Cam sành.

Còn những loại Cam gần với Chanh có vỏ mỏng hơn nhưng khó bóc, khi chín màu vàng. Ở nước ta có Cam gần như quanh năm nên có thể dùng quả tươi. Người ta cũng thường thu hái quả non rụng ở gốc cây làm chỉ thực.

Thành phần hóa học:

Trong Cam tươi có nước 87,5%, protid 0,9%, glucid 8,4%, acid hữu cơ 1,3%, cellulose 1,6%, calcium 34mg%, sắt 23mg%, caroten 0,4mg%, vitamin C 40mg%. Quả là nguồn vitamin C, có thể tới 150mg trong 100g dịch, hoặc 200-300 mg trong 100g vỏ khô.

Trong lá và vỏ quả xanh có l-stachydrin, hesperdin, aurantin, acid aurantinic, tinh dầu Cam rụng (petitgrain). Hoa chứa tinh dầu Cam (neroli) có limonen, linalol, geraniol. Vỏ quả chứa tinh dầu mà thành phần chính là d-limonen (90%), decyclicaldehyd tạo nên mùi thơm, các alcol như linalool, dl-terpineol, alcol nonylic, còn có acid butyric, authranilat metyl và este caprylic.

Tính vị, tác dụng: Quả Cam có vị ngọt chua, tính mát; có tác dụng giải khát, sinh tâm dịch, mát phổi, tiêu đờm, thanh nhiệt và lợi tiểu. Vỏ quả Cam có vị cay, mùi thơm, tính ẩm, có tác dụng tiêu đờm, thông khí trệ, giúp tiêu hoá. Vỏ cây Cam vị ngọt, hơi the, tính mát; có tác dụng hạ khí đầy, điều hoà tỳ vị. Ở Ấn Độ, quả được xem như có tác dụng khử lọc, và vỏ có tác dụng trung tiện và bổ.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Quả Cam đường dùng để ăn có nhiều tác dụng; lại được dùng làm thuốc giải nhiệt trị sốt, điều trị chứng xuất tiết và giúp ăn ngon miệng. Ở Ấn Độ, dịch quả cũng được dùng trong bệnh đau về mật và ỉa chảy ra máu. Vỏ quả Cam có thể dùng thay vỏ quýt nhưng tác dụng kém hơn, làm thuốc kích thích tiêu hoá, chữa đau bụng, đầy bụng, ợ chua, đi ngoài. Ta còn dùng vỏ Cam chữa bệnh sau khi đẻ bị phù. Vỏ tươi dùng xát vào mặt làm thuốc điều trị mụn trứng cá. Lá Cam dùng chữa tai chảy nước vàng hay máu mủ. Hoa Cam thường dùng cất tinh dầu và nước cất hoa Cam dùng pha chế thuốc. Chỉ ăn toàn Cam trong ba ngày liền có tác dụng như uống một liều thuốc tẩy độc rất tốt. Uống nước vỏ Cam nấu chín có tác dụng kích thích nội tiết nước mật, làm tăng nhu động ruột, chống bệnh táo bón.

Đơn thuốc:

1. Sau khi đẻ bị phù: Dùng 20g vỏ cây Cam sắc uống hoặc phối hợp với vỏ Bưởi và vỏ Chân chim, mỗi vị 12g, cùng sắc.


2. Tai chảy mủ: Dùng 7 lá Cam non giã với ít nước, vắt lấy nước cốt nhỏ vào tai, để một chốc rồi quấn bông chùi sạch, làm mỗi ngày vài lần sẽ khỏi.

Tác dụng tốt của trái cam và vỏ cam

Tác dụng tốt của trái cam và vỏ cam

Quả cam là thực phẩm được sử dụng phổ biến tại các bữa ăn của chúng ta. Nhưng tác dụng nó thì chưa ai được biết về nó.


Vỏ cam còn rất tốt cho làn da. Chất xơ trong cam rất tốt cho hệ tiêu hóa; giúp giảm táo bón; giảm cholesterol; giúp kiểm soát lượng đường trong máu. Cam cũng rất giàu can xi, qua đó giúp củng cố xương và răng. Vitamin C trong cam giúp kích thích việc sản sinh của các tế bào trong cơ thể, do đó cải thiện hệ miễn dịch.

Ăn cam thường xuyên sẽ giúp bảo vệ bạn khỏi mắc các bệnh truyền nhiễm do virus; giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh sỏi thận.

Nếu bạn muốn tránh lượng calo dư thừa, hãy thêm cam vào chế độ dinh dưỡng hằng ngày của mình, theo ý kiến của các chuyên gia dinh dưỡng được dẫn lại trên báo The Times of India. Giàu chất betacarotene, cam có thể bảo vệ tế bào.

Không chỉ bổ dưỡng, cam còn có nhiều công dụng kỳ diệu khác nếu biết sử dụng nó đúng cách và đúng mục đích

1. Tăng cường thể lực: Nước cam pha muối

Uống nước cam bỏ thêm chút muối sau khi luyện tập ra nhiều mồ hôi là cách để lấy lại thể lực nhanh chóng. Bởi lượng đường fructoza và 85% lượng nước có trong cam sẽ nhanh chóng được cơ thể hấp thụ, có tác dụng giải khát và bồi bổ thể lực.

Lưu ý: Ngay sau khi ép lấy nước hoặc đã gọt vỏ nên uống hoặc ăn ngay, tránh lượng vitamin C sẽ bị bay mất khi phản ứng với oxy ngoài môi trường. Thời gian sau chế biến không nên quá 30 phút.

2. Tẩy trang, làm sạch da: Nước cam ép

Cách làm: Dùng khăn sạch thấm và thoa trực tiếp nước ép cam lên mặt khoảng 5-10 phút, sau đó rửa lại bằng nước sạch.

Công dụng: Cách làm này vừa có tác dụng tẩy trang hiệu quả, vừa “đánh bật” lượng dầu, vi khuẩn, vết bẩn trên da, làm sạch da từ bên ngoài và bên trong. Ngay cả đối với da mẫn cảm, dùng cam làm mặt nạ để tẩy trang và làm sạch mặt vẫn có thể an tâm.

Lưu ý: Ngay sau khi thoa nước ép lên mặt, không nên đi ra nắng, tránh phản ứng với các tia tử ngoại làm mất tác dụng.

3. Làm săn chắc da mặt: Mặt nạ từ hạt (hột) cam

Cách làm: Hạt cam phơi khô rồi xay thành bột mịn. Hòa tan hỗn hợp gồm bột đã xay nhuyễn và nước cất (hoặc nước tinh khiết), sau đó đắp hỗn hợp này lên mặt khoảng 5-10 phút. Rửa lại mặt bằng nước sạch. Mỗi tuần đắp mặt nạ 1-2 lần.

Công dụng: Nâng cao sức đề kháng cho các mao mạch trên da, giúp da thêm săn chắc, khỏe mạnh.
Lưu ý: Đối với làn da nhạy cảm, nên thử bôi hỗn hợp trên vùng tai trước khi bôi lên mặt để quan sát phản ứng. Nếu thấy bị dị ứng hoặc ngứa ngáy, không nên sử dụng.

4. Trị bệnh phong thấp: Bột hạt cam

Cách làm: Cho hạt cam vào nồi rang khô. Tránh rang ở nhiệt độ quá cao gây cháy đen hạt rồi xay nhuyễn thành bột. Hòa vào nước lọc, mỗi lần từ 3-5g, uống sau bữa ăn. Kiên trì sử dụng lâu dài có tác dụng trị phong thấp hiệu quả.

5. Tăng cường hệ miễn dịch: Sa-lát cam

Khi làm sa-lát, cho thêm một vài múi cam sẽ có tác dụng bổ sung chất dinh dưỡng, tăng cường hệ miễn dịch, giúp người bệnh nhanh phục hồi sức khỏe, nhanh lành vết thương. Đặc biệt là bổ sung chất xơ, có lợi cho tiêu hóa.

Lưu ý: Những người hút thuốc nên ăn nhiều cam, những bệnh nhân mắc viêm ruột, viêm túi mật nên thận trọng khi ăn cam.

6. Tẩy da chết,  tăng độ láng mịn cho da: Mát-xa bằng vỏ cam

Cách làm: Cắt vỏ cam thành những miếng mỏng, nhỏ. Sau đó cho vào tấm vải mỏng, lăn đều trên tay, đầu gối, những vùng da sần sùi, thiếu độ láng mịn.

Công dụng: Tinh dầu trong vỏ cam làm da thêm mềm mại. Những vùng da sần sùi “vỏ quýt” sẽ nhanh chóng được cải thiện, lấy lại độ căng bóng do da hấp thụ được lượng tinh dầu trong vỏ cam.
Vỏ cam chứa nhiều flavonoid và vitamin C, những chất này sẽ kích thích quá trình trao đổi chất trên da, nâng cao sức đề kháng cho các nang lông, có tác dụng tẩy da chết hiệu quả.

7. Giúp ngủ ngon giấc, đuổi muỗi: Hương thơm vỏ cam tươi

Cách làm: Vỏ cam phơi khô, sau đó cho vào túi thơm, treo trong phòng ngủ, nhà bếp hoặc tủ quần áo.

Công dụng: Cách làm này không những kích thích ngủ ngon giấc, mà còn có tác dụng đuổi muỗi, làm sạch không khí.


Cam là một trong những loại trái cây được sử đụng nhiều nhất trên thế giới, đặc biệt dưới dạng nước uống. Bạn có biết công dụng tuyệt vời mà cam mang đến cho sức khỏe con người

Thứ Hai, 4 tháng 12, 2017

Những điều chưa biết về trái cam

Những điều chưa biết về trái cam

Cam là loại quả rất giàu chất chống oxy hóa và chất phytochemical. Quả cam là loại quả được yêu thích và có lợi cho cả người khoẻ mạnh cũng như bệnh nhân


Giá trị dinh dưỡng của cam

Cam là loại quả giàu chất chống oxy hóa và chất phytochemical. Theo các nhà khoa học Anh: “Bình quân trong một trái cam có chứa khoảng 170 mg phytochemicals bao gồm các chất dưỡng da và chống lão hóa”. Chuyên gia dinh dưỡng Monique dos Santos cho biết cam được yêu thích và có lợi cho người khỏe mạnh cũng như các bệnh nhân. Cam giúp giải nhiệt, thỏa mãn cơn khát cho người có cường độ vân động cao, tăng cường hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch của cơ thể.

Giá trị dinh dưỡng trong quả cam bao gồm: Mỗi 100 gr quả cam có chứa 87,6 g nước, 1.104 microgram Carotene – một loại vitamin chống oxy hóa, 30 mg vitamin C, 10,9 g chất tinh bột, 93 mg kali, 26 mg canxi, 9 mg magnesium, 0,3 g chất xơ, 4,5 mg natri, 7 mg Chromium, 20 mg phốt pho, 0, 32 mg sắt và giá trị năng lượng là 48 kcal.

Không chứa chất béo hay cholesterol, cam nổi tiếng vì chứa nhiều vitamin C và được chứng minh là loại quả có tác dụng chống viêm, chống khối u, ức chế đông máu và chống oxy hóa mạnh. Trên thực tế, hàm lượng vitamin C chỉ chiếm 15 – 20% tổng số các chất kháng oxy hóa trong trái cây này, trong khi những hợp chất khác có khả năng chống oxy hóa cao gấp 6 lần vitamin C: hesperidin từ flavanoid có nhiều trong lớp vỏ xơ trắng, màng bao múi cam và một ít trong tép, hạt cam, có khả năng giảm cholesterol xấu (LDL) và tăng cholesterol tốt (HDL).

Ngành công nghiệp cam (loại trái cây có múi) bắt đầu từ Nam Phi hơn 300 năm trước. Hiện nay có hơn 100.000 người lao động làm việc trong lĩnh vực này vào 70% các sản phẩm có liên quan hay nguồn gốc xuất xứ từ cam.

Thiếu vitamin C trong chế độ ăn uống dễ gây ra căn bệnh Scorbut (tên gọi khác là Scurvy). Theo một báo cáo xa xưa từ Hy Lạp cổ đại và Ai Cập, thế kỉ 16 và 17, bệnh này thường gặp phải ở các thủy thủ khi thực hiện các chuyến đi trên biển đường dài. Bởi vì cơ thể con người không thể tự tổng hợp vitamin C và việc nạp chúng trong chế độ ăn uống hàng ngày là vô cùng cần thiết.

Ngoài ra, các triệu chứng như chảy máu nướu răng, răng lung lay, đau khớp, haemorrhaging (chảy máu) và những vết thương khó lành nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ gây biến chứng nguy hiểm với cơ thể. Những thủy thủ ở trên đã phát hiện được họ hoàn toàn có thể ngăn ngừa các triệu chứng trên bằng cách tăng cường vitamin C cho cơ thể qua cam, chanh, họ nhà cam… và nhiều thực phẩm chứa vitamin C khác như ổi, kiwi, đu đủ, cà chua, dâu tây, ớt ngọt, bông cải xanh, cà rốt… Trong xã hội hiện đại, các triệu chứng hay các bệnh do thiếu vitamin C gây ra rất hiếm gặp, trường hợp mắc bệnh xảy ra với nhóm người nghiện rượu, người già, người bị rối loạn ăn uống hoặc mắc các chứng bệnh liên quan.

Lý do bạn nên tích cực ăn cam:

Cam giúp cân bằng huyết áp Cam chứa kali và thành phần flavonoid giúp giảm huyết áp và điều hòa huyết áp là một phần quan trọng trong giữ gìn sức khỏe tim mạch.

Điều hòa mức cholesterol
Các synephrine alkaloid dưới vỏ cam có tác dụng giảm tần suất sản xuất cholesterol ở gan. Nguồn chất xơ dồi dào hòa tan giảm lượng cholesterol trong máu đồng thời nguy cơ bệnh tim giảm đáng kể.
Đồng công dụng của chất xơ là giúp bạn giữ cảm giác no lâu hơn, làm chậm phân hủy các carbohydrate và ngăn ngừa sự tăng lên của lượng đường trong máu. Như vậy, không phải xa lạ, cam là thực phẩm tốt trong việc kiểm soát lượng đường trong máu của bệnh nhân tiểu đường.

Giúp hỗ trợ hệ thống miễn dịch: Trong cam chứa rutin (vitamin P), thành phần giúp mạch máu khỏe mạnh, vitamin nhóm B, dưỡng chất không thể thiếu cho hệ thần kinh, các khoáng chất và chất xơ (hòa tan và không hòa tan). Là “đồng minh” trong việc ngăn ngừa các bệnh tim mạch, viêm nhiễm và ung thư, cam còn giúp củng cố hệ miễn dịch, chống cảm cúm, chống viêm, ức chế các tế bào ung thư, xoa dịu cơn đau ruột, dạ dày, gan.

Cam giúp chữa lành các vết thương nhanh hơn: Vitamin C đảm nhiệm vai trò quan trọng trong cơ thể để sản xuất collagen – protein chịu trách nhiệm tạo ra các mô liên kết, giúp vết thương, vết cắt hay xước da mau lành. Thiếu hụt collagen khiến các tế bào trong mạch máu thiếu sự gắn kết, cho phép máu rò rỉ trong các mô, cơ quan dễ dẫn đến chảy máu nướu răng và xuất hiện đốm màu đỏ đặc trưng của bệnh Scorbut.

Bổ sung cam trong thực đơn hàng ngày: Bạn có thể ăn cam trong bữa ăn nhẹ, vắt cam uống nước, chế biến thành các loại sinh tố, thêm thành phần cho món salad trái cây, sữa chua ít béo, dâu tây, chuối…

Các thành phần từ cam cũng được sử dụng rất phong phú từ lá, hoa, vỏ cây và trái đều có thể hãm thành nước uống có vị đắng nhẹ và hương cam đặc trưng. Nước hãm lá cam có thể giúp hạ hỏa, đặc biệt khi mất ngủ, xoa dịu rối loạn chức năng lưu thông máu.
Cam là loại quả chứa nhiều vitamin C và có nhiều công dụng chữa bệnh khá hữu hiệu như trị viêm khớp, trị lão hóa, tốt cho bệnh tim mạch, trị táo bón... Hãy cùng  khám phá công dụng hữu hiệu từ quả cam.

Cam là loại quả rất giàu chất chống oxy hóa và chất phytochemical. Theo các nhà khoa học Anh: “Bình quân trong một trái cam có chứa khoảng 170mg phytochemicals bao gồm các chất dưỡng da và chống lão hóa”.

Quả cam là loại quả được yêu thích và có lợi cho cả người khoẻ mạnh cũng như bệnh nhân. Cam giúp giải nhiệt, thoả cơn khát cho người có cường độ vận động cao, tăng cường hệ tiêu hoá và hệ miễn dịch của cơ thể. Những người ăn nhiều cam, quýt có tỉ lệ nhiễm các bệnh ung thư như: ung thư phổi và dạ dày… rất thấp.

Giá trị dinh dưỡng trong quả cam: Mỗi 100gr quả cam có chứa 87.6g nước, 1,104 microgram Carotene – một loại vitamin chống oxy hóa, 30mg vitamin C, 10.9g chất tinh bột, 93mg kali, 26mg canxi, 9mg Magnesium, 0.3g chất xơ, 4.5mg natri, 7mg Chromium, 20mg phốt pho, 0.32mg sắt và giá trị năng lượng là 48Kcal.

Lợi ích trị bệnh từ cam

1. Trị cảm lạnh
Khi bạn đang bị cảm lạnh, hãy uống một cốc nước cam nóng sẽ giúp cơ thể giảm mệt mỏi, ngăn ngừa tình trạng sổ mũi.
2. Trị sốt, cúm
Nước ép của quả cam tốt cho bất kỳ bệnh sốt nào như cúm, thương hàn vàng da…
3. Trị viêm phế quản và hen suyễn
Mật ong, muối và nước nóng pha với nước cam rất có lợi đối với bệnh nhân viêm phế quản và hen suyễn.
4. Trị chứng táo bón
Ăn hoặc uống nước cam vào bữa sáng liên tục trong vài ngày sẽ giúp bạn khắc phục chứng táo bón rất hiệu quả. Một cốc nước cam sau mỗi bữa sáng cũng sẽ mang lại cho bạn tinh thần phấn chấn để bắt đầu một ngày mới.>Buổi sáng cũng là thời điểm cơ thể hấp thu tốt nhất các canxi và các vitamin trong quả cam. Không nên uống nước cam vào buổi tối vì sẽ gây ra chứng khó ngủ.
5. Tốt cho người mắc tim mạch và huyết áp cao
Nếu bạn không phải là bệnh nhân tiểu đường, bạn có thể uống nước cam với mật ong, số lượng kali cao trong nước cam có tác dụng làm giảm huyết áp cao.
6. Trị viêm khớp
Chất Carotene – tiền sinh tố của vitamin A có tác dụng làm giảm cơn đau của viêm khớp và bệnh Gout.
7. Trị lão hoá da

Nước ép trái cam có thể sử dụng như một loại nước tẩy trang, làm sạch da. Vỏ quả cam được dùng tẩy da chết, tinh dầu trong vỏ cam sẽ làm da thêm mềm mại, lấy lại độ căng bóng do da hấp thụ được lượng tinh dầu trong vỏ cam, từ đó nâng cao sức đề kháng cho làn da.

Trồng thử nghiệm thành công giống Cam mới

Trồng thử nghiệm thành công giống Cam mới

sinh trưởng, phát triển khỏe, khả năng chống chịu sâu bệnh tương đối tốt, chịu hạn khá, thích ứng rộng, năng suất cao và ổn định, chất lượng tốt, đặc biệt là giống không hạt hoặc ít hạt, chín muộn từ tháng 12 tới tháng 3 năm sau, hiệu quả kinh tế cao.


Sau quá trình nhập nội, tuyển chọn, trồng thử nghiệm thành công ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, năm 2006 giống cam Valencia chín muộn V2 của Viện Di truyền Nông nghiệp đã được Bộ NN-PTNT công nhận là giống Quốc gia, được xác định là giống có tiềm năng lớn để mở rộng diện tích, tăng sản lượng trên phạm vi cả nước đáp ứng nhu cầu ăn tươi và chế biến.
trong cam

Với những ưu điểm nổi trội như: sinh trưởng, phát triển khỏe, khả năng chống chịu sâu bệnh tương đối tốt, chịu hạn khá, thích ứng rộng, năng suất cao và ổn định, chất lượng tốt, đặc biệt là giống không hạt hoặc ít hạt, chín muộn (từ tháng 12 tới tháng 3 năm sau), hiệu quả kinh tế cao.

Vì là giống chín muộn, thời gian dài (15 tháng kể từ khi ra hoa cho tới lúc thu hoạch cây vừa mang nuôi quả vụ trước, vừa ra hoa cho vụ sau), để có thể đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả cao nhất khi trồng giống cam muộn Valencia V2 ngoài việc tuân thủ các khâu kỹ thuật trồng cam thông thường ra, bà con cần chú ý thêm một số biện pháp kỹ thuật sau đây:

- Giống trồng: Cây giống có thể được nhân bằng phương pháp ghép cây hoặc chiết cành nhưng phải đảm bảo tiêu chuẩn cây giống theo qui định: đúng giống, đúng chất lượng, có nguồn gốc rõ ràng và nhất thiết phải là giống sạch bệnh được các cơ sở sản xuất giống có uy tín cung ứng.

- Thiết kế lô vườn trồng: Nên qui hoạch thành vùng riêng trồng thuần giống, có các đai rừng chắn gió cách ly vừa để ngăn ngừa sâu bệnh lây lan, vừa tránh giao phấn hỗn tạp sẽ cho năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo giống cam không hạt.

- Khoảng cách, mật độ: Tùy theo loại đất tốt xấu, đất trên đồi hay trong vườn ngoài bãi mà bố trí khoảng cách và mật độ cho thích hợp. Đất tốt trồng thưa, đất xấu trồng dày. Thông thường nên trồng với khoảng cách 4x5m (500 cây/ha) hoặc 5x5m (400 cây/ha). Nếu muốn thu hồi vốn nhanh có thể trồng dày kết hợp đốn tỉa và trồng xen các loại cây ngắn ngày như đậu, lạc, cây phân xanh… vừa lấy ngắn nuôi dài tăng thêm thu nhập, vừa có chất giữ ẩm, bảo vệ và cải tạo đất rất tốt.

- Bón phân: Thay vì 3 lần bón phân như các giống cam quýt khác, với Valencia V2 trước khi thu hoạch 1 tháng cần bón thêm 1 lần nữa (chủ yếu là kali) vừa để tăng cường chất lượng quả, vừa để tăng cường dinh dưỡng giúp cây ra hoa, đậu quả tốt.

- Xử lý ra hoa: Tạo sự khô hạn để xử lý ra hoa tập trung: thu hoạch xong tiến hành vệ sinh vườn bằng cách cắt tỉa cành già, cành sâu bệnh, làm cỏ, quét vôi gốc, phun thuốc phòng ngừa sâu bệnh hại. Sau đó bón phân lần 1, chú ý lượng nước tưới vừa phải (nếu quá thừa nước cây sẽ ra nhiều lộc non ảnh hưởng đến việc xử lý ra hoa sau này, hoa sẽ ra rải rác và muộn hơn.

Bón phân lần 2, đến 15/2 dương lịch ngừng tưới nước trong khoảng 20 ngày rồi bắt đầu tưới trở lại, mỗi ngày 2-3 lần và tưới liên tục trong 3 ngày. Đến ngày thứ 4, tưới mỗi ngày 1 lần, 7-15 ngày sau khi tưới đợt đầu tiên cây sẽ ra nụ, thời gian này cách 1 ngày tưới 1 ngày, 10-15 ngày sau khi hoa nở, rụng hết cánh hoa là lúc cây bắt đầu đậu quả.

Phòng trị rệp bông hại cành Cam

Phòng trị rệp bông hại cành Cam

Rệp bông - Planococcus lilacinus là một loài côn trùng đa thực, chúng gây hại hàng chục loại cây trồng khác nhau, trong đó có cây cam sành.


Cả con trưởng thành và con ấu trùng đều bu bám và chích hút nhựa của những chồi non, lá non, nụ hoa, hoa, trái non… của cây cam sành. Nếu mật số cao có thể làm cho chồi non, lá non bị xoắn vặn không phát triển được, nụ hoa, hoa và trái non có thể bị rụng.

Để phòng trừ rệp bông có kết quả, xin giới thiệu kinh nghiệm những nhà vườn ở Cái Bè (Tiền Giang):

- Không nên trồng cam quá dày, thường xuyên tỉa bỏ những cành bị sâu bệnh, cành nằm khuất trong tán lá không có khả năng cho trái... để vườn thông thoáng.

- Kiến lửa, kiến cao cẳng, kiến hôi… thường sống cộng sinh với rệp, chúng ăn chất đường mật do rệp tiết ra và tha rệp đến những nơi có nhiều thức ăn mới. Để hạn chế rệp lây thì phải diệt kiến bằng cách thường xuyên dọn sạch cỏ rác, lá cây mục tủ ở xung quanh gốc để phá vỡ nơi trú ngụ của kiến. Khi xịt thuốc trừ rệp nên xịt cả những nơi có nhiều kiến tập trung trên cây. Nếu dưới gốc cây có nhiều kiến thì dùng thuốc Padan, Basudin hoặc Regent hột rải xung quanh gốc để diệt kiến.

- Kiến vàng (Oecophylla smaragdina) là thiên địch tiêu diệt côn trùng gây hại cho cây cam quýt. Nên nuôi kiến vàng trong vườn cam để chúng diệt sâu hại, rầy rệp. Nếu vườn đã nuôi kiến vàng thì phải hạn chế phun thuốc hóa học, vì loài kiến này rất dễ chết bởi thuốc.

- Do rệp bông có khả năng gây hại nhiều loại cây, vì thế mỗi khi xịt thuốc diệt trừ rệp trên cây cam sành cũng phải phun xịt diệt trừ rệp trên cả những cây trồng khác đang có rệp trong vườn để chúng không lây lan trở lại cây cam sành.

- Kiểm tra vườn cam thường xuyên (nhất là giai đoạn cây đang có đọt non, lá non, bông, trái non…) để phát hiện sớm và phun thuốc diệt trừ rệp ngay từ khi mật độ còn thấp, không cho chúng tích lũy số lượng gây hại mạnh. Có thể sử dụng một trong các loại thuốc như: Dầu khoáng DC-Tron Plus 98,8EC, Applaud 10WP; Supracid 40EC/ND; Suprathion 40EC; Bitox 40EC/50EC; Butyl 10WP... phun trực tiếp vào chỗ có rệp đeo bám. Trước khi phun thuốc nhiều người đã phun bằng nước có pha xà bông để rửa trôi bớt lớp phấn sáp bên ngoài con rệp, khi xịt thuốc, thấy hiệu quả của thuốc cao hơn.

- Có bà con còn dùng máy bơm nước có áp suất cao (khi tưới vườn) xịt mạnh tia nước vào chỗ có nhiều rệp, rệp cũng bị rửa trôi rất nhiều.

Bón phân cho họ Cam Quýt

Bón phân cho họ Cam Quýt

Cân đối đạm-kali, ngoài tác dụng làn tăng năng suất cam còn làm tăng chất lượng quả cam, như tăng hàm lượng đường và giảm lượng axit.


Kali là yếu tố cam lấy từ đất nhiều nhất. Vì vậy, bón kali có thể làm tăng năng suất cam 10-46%, hệ số lãi do bón phân cân đối cho cam có thể đạt đến 4,5-5,0. Cân đối giữa phân hữu cơ và phân vô cơ làm cho năng suất cam tăng 30-50%.

Cân đối đạm-kali, ngoài tác dụng làn tăng năng suất cam còn làm tăng chất lượng quả cam, như tăng hàm lượng đường và giảm lượng axit.

Cam quýt là cây ăn quả lâu năm, cho nên hàng năm cần được bón phân và lượng phân thay đổi theo tuổi cây.

Lượng phân bón được khuyến cáo cho cam như ở bảng 7.

Bảng 7: Lượng phân bón cho cam theo tuổi cây
 
Năm tuổi N (g/cây) P2O5 (g/cây) K2O (g/cây)
1-3 50-150 500-100 60
4-6 200-250 150-200 120
7-9 300-400 250-300 180
Trên 10 400-800 350-400 240
Ghi chú: Tài liệu của GS. Trần Thế Tục.

Cách bón như sau:

-  Thời kỳ cây con: bón lân và kali một lần vào cuối mùa mưa, phân đạm chia thành 3-4 lần để bôi hoặc hoà nước tưới gốc cây.

- Cây trên 3 tuổi và bắt đầu thu hoạch quả: Phân chia là 3 lần để bón: trước ra hoa, sau khi đậu quả và sau thu hoạch. Chia đều mỗi lần bón 1/3 lượng phân.

Phân K chia làm 2 lần để bón: bón ½ lượng K sau khi đậu quả và ½ lượng còn lại bón trước khi thu hoạch 1-2 tháng.

Phân P: bón toàn bộ sau khi thu hoạch quả cùng với phân hữu cơ.

Dựa vào đặc điểm sinh lý và ra quả của cam quýt người ta có thể chia thời gian sinh trưởng của cây thành 2 thời kỳ để bón phân.

Thời kỳ cam quýt được 7 tuổi: Thời kỳ này cây phát triển thân, cành là chính. Vào những năm cuối thời kỳ cây đã cho quả  nhưng chỉ là những mùa quả đầu tiên, năng suất quả của cây tăng dần qua các năm. Ở thời kỳ này người ta đề nghị bón phân cho cam quýt với lượng như bảng 8.

Bảng 8: Bón phân cho cam quýt thời kỳ cây dưới 7 tuổi
Loại phân 1-2 năm tuổi 4-5 năm tuổi 6-7 năm tuổi
Phân chuồng (kg/cây) 25-30 35-40 45-50
Vôi bột (kg/cây) 0,5 0,7-0,8 1,0
N (g/cây) 80-150 200-250 300-400
P2O5 (g/cây) 100-150 150-200 250-300
K2O (g/cây) 100-150 150-250 300-400

Thời kỳ cam cho quả ổn định (sau năm thứ 7). Ở thời kỳ này năng suất của cam đi dần vào ổn định. Những thay đổi vể năng suất chịu tác động chủ yếu của các yếu tố bên ngoài (khí hậu, sâu bệnh, kỹ thuật chăm bón, v.v…).

Ở thời kỳ này, lượng phân bón được thay đổi tuỳ thuộc vào năng suất của cam quýt.

Lượng phân bón được khuyến nghị như ở bảng 9.
 Bảng 9: Bón phân theo sản lượng cam quýt
Loại phân và lượng phân Năng suất trên 15 tấn/ha Năng suất trên 8 tấn/ha
N (kg/tấn quả) 7-8 11-12
P2O5 (kg/tấn quả) 7-8 11-12
K2O (kg/tấn quả) 8-10 10-12

Nguồn: Nguyễn Văn Kế - ĐHNN TP Hồ Chí Minh

- Bón sau thu hoạch, bón phục sức cho cây, giúp cây phân hóa mầm hoa: bón vôi + toàn bộ phân chuồng + toàn bộ phân lân + 1/3 phân đạm + 1/3 phân kali.

- Bón trước trổ hoa 6 tuần: 1/3 lượng đạm + 1/3 lượng kali

- Bón lúc quả lớn bằng ngón tay cái: 1/3 lượng đạm + 1/3 lượng kali

Tuỳ theo đặc điểm đất đai ở từng vùng có thể tăng giảm lượng phân bón cho thích hợp. Thí dụ ở vùng đất đồng bằng Cửu Long có thể giảm bớt lượng kali.

Cần chia phân ra bón thành nhiều lần để chống rửa trôi mất phân. Khi bón nhớ đào hố hoặc cuốc rãnh nông luân phiên chung quanh tán cây.

Hàng năm nên bón bổ sung phân vi lượng cho cam quýt như Zn, Mg, Mn trong trường hợp bón ít phân chuồng.

Nhằm giảm hiện tượng rụng quả, cần dành 2/3 lượng phân để bón trước khi cây ra hoa. Thực hiện việc bón đón hoa kết hợp với phun phân bón là góp phần tích cực hạn chế rụng quả sau này.

Có  thể thực hiện phân tích là để chuẩn đoán tình hình thiếu dinh dưỡng, kịp thời bón phân cho cam quýt. Người ta phân tích lá 4-7 tháng tuổi của cành nhỏ tận cùng không mang quả. Nếu kết quả phân tích cho thấy N<2,2%; P<0,09%; K<0,7%; Mg<0,2%; Fe<25ppm; Mn<18ppm; Zn<18ppm; Cu<3,6ppm thì đó là tình trạng cây thiếu dinh dưỡng. Các trung tâm khuyến nông các chủ vườn có thể lấy lá đem phân tích ở các phòng thí nghiệm để kịp thời bón phân cho cây.

Cam quýt là các loài cây ăn quả được trồng phổ biến ở nước ta. Với năng suất  20 tấn quả cam lấy đi từ đất 34kgN; 10kg P2O5; 64kg K2O. Tính trung bình 1 tấn quả cam cây lấy từ đất 1,7kg N; 0,5kg P2O5; 3,2kg K2O.