Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

Những Lý Do Bạn Nên Ăn Nhiều Dứa

Bên cạnh các vitamin và khoáng chất mà hầu hết các loại trái cây đều có, khóm còn là nguồn cung cấp dồi dào một số vi chất dinh dưỡng ít được biết đến nhưng cần thiết cho cơ thể.

Do chứa hàm lượng calorie và đường thấp nên khóm cũng được xem là món ăn vặt rất tốt cho người muốn kiểm soát cân nặng. Ngoài ra, trái khóm còn mang lại rất nhiều lợi ích cho sức khỏe, chẳng hạn như

1. Chữa viêm và khó tiêu

Không chỉ giúp bổ sung vị ngọt cho món ăn, khóm còn hỗ trợ chức năng tiêu hóa, chống đầy hơi do có chứa enzyme tiêu hóa bromelain. Đó là lý do bạn nên ăn khóm sau một bữa ăn thịnh soạn. Lưu ý, bromelain chỉ có trong khóm tươi vì việc nấu chín có thể phân hủy hợp chất này.

Ngày nay, bromelain còn được tổng hợp dưới dạng thuốc bổ, giúp chống viêm sau phẫu thuật, giảm đau do viêm khớp hoặc nhiễm trùng xoang mũi.

2. Ngăn tích tụ mỡ

Nhiều người cho rằng khóm có thể đốt cháy mỡ thừa trong cơ thể. Tuy nhiên, các nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy, loại quả này chỉ có công dụng làm giảm mỡ chút ít, nhưng đổi lại, nó có khả năng ngăn chặn việc tích tụ mỡ trong cơ thể.

3. Phòng ngừa ung thư từ cấp độ tế bào

Các nghiên cứu mới nhất cho thấy khóm có chứa các chất chống ung thư (anti-carcinogen). Mặt khác, các nhà khoa học cho biết 1 chén khóm tươi có chứa 70 mg vitamin C và 95 mg vitamin A – tương đương với toàn bộ hàm lượng vitamin C và khoảng 25% lượng vitamin A mà cơ thể cần trong 1 ngày. Cả 3 hợp chất trên giúp bảo vệ các tế bào khỏe mạnh khỏi mối đe dọa từ các gốc tự do, đồng thời làm lành các tế bào bị hư tổn, từ đó bảo vệ cơ thể khỏi nguy cơ ung thư.

4. Củng cố sức khỏe mô và xương


Đó là lợi ích sức khỏe cơ thể nhận được khi bạn tiêu thụ 1 chén khóm tươi, ước tính chứa 1,55 mg mangan – khoáng chất cần thiết giúp xương và mô phát triển khỏe mạnh. Các bác sĩ khuyến cáo nam giới nên dung nạp 2,2 mg mangan/ngày còn ở phụ nữ là 1,9 mg/ngày. Riêng người cao tuổi được khuyên nên bổ sung khóm vào khẩu phần ăn để đảm bảo có đủ dưỡng chất này, nhằm tránh nguy cơ bị loãng xương hoặc gãy xương.

5. Bổ máu và giúp vết thương mau lành

Một chén khóm cung cấp cho cơ thể 151 mg đồng – nhiều hơn 1/5 lượng đồng cơ thể cần mỗi ngày. Loại khoáng chất này giúp cơ thể sản xuất huyết sắc tố (hemoglobin – prôtêin có khả năng thu nhập, lưu giữ và giải phóng ôxy trong máu), đồng thời đẩy nhanh quá trình chữa lành vết thương. Được biết, thiếu đồng cũng có thể dẫn đến thiếu máu, loãng xương, các vấn đề về tuyến giáp và số lượng bạch cầu thấp (khiến cơ thể dễ nhiễm bệnh).

6. Chắc răng, khỏe nướu

Đa số mọi người chỉ quan tâm đến răng mà quên đi tầm quan trọng của nướu – bộ phận giúp giữ chân răng vững chắc. Nếu nướu không khỏe, răng cũng không vững, thậm chí dễ gãy rụng. Do đó, ăn khóm được cho là cách vừa giúp răng trắng, sạch vừa củng cố sức khỏe của nướu.

7. Ngừa bệnh thoái hóa điểm vàng

Căn bệnh này là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới mù lòa ở người lớn tuổi, bắt nguồn từ tình trạng võng mạc bị hư tổn. Theo các nghiên cứu khoa học, bổ sung khóm vào chế độ ăn giúp người già giảm 35% nguy cơ mắc bệnh thoái hóa điểm vàng, do loại quả này chứa nhiều beta-carotene, một thành phần tự nhiên rất tốt cho thị lực.

Giới Thiệu Về Cây Dứa

Cây dứa - Hay còn gọi là thơm là một trong những loại cây cho quả được nhiều người ưa thích vì hương vị thơm ngon và giàu chất dinh dưỡng

Quả của cây dứa chứa 11-15% đường tổng số (trong đó saccaraza chiếm 1/3 còn lại là đường glucoza và fructoza), 0,6% axit (trong đó axit xitric chiếm 87%, còn lại là axit malic và một số axit khác). Quả dứa chứa nhiều loại vitamin: vitamin A có 130 IU; B1: 0,08mg; B2: 0,02mg; C: 4,2mg/100g; các chất khoáng có Canxi: 16mg; photpho: 11mg; sắt: 0,3mg; đồng: 0,07mg. Thành phần cấu tạo hữu cơ chủ yếu của dứa là: protein: 0,4g; lipit: 0,2g; gluxit: 13,7g; xenluloza: 0,4g; nước 85,3g.

Ngoài ra, trong quả của cây dứa còn có enzim bromelin là loại enzim giúp tiêu hóa rất tốt. Người ta đã chiết xuất và sản xuất ra chế phẩm bromelin dùng trong công nghiệp thực phẩm, thuộc da, vật liệu làm phim. Sản phẩm phụ của công nghiệp chế biến quả cây dứa được dùng làm nguyên liệu để lên men chế biến thành thức ăn gia súc.

Quả của cây dứaSau khi thu hoạch quả, lá cây dứa có thể dùng để lấy sợi (trong lá có 2-2,5% xenlulô). Sản phẩm dệt từ sợi dứa bền, đẹp, chất lượng tốt hơn sợi đay. Thân cây dứa chứa 12,5% tinh bột, là nguyên liệu dùng để lên men chuyển hóa thành môi trường nuôi cây nấm và vi khuẩn.

Các giống Dứa trồng ở nước ta

- Cây Dứa hoa Phú Thọ:

Còn gọi là giống dứa Queen cổ điển. Giống này có những đặc điểm điển hình của nhóm dứa Queen: quả nhỏ, mắt nhỏ, lồi, gai ở rìa là nhiều và cứng,v.v… Dứa hoa Phú Thọ được nhập nội vào Việt Nam khoảng đầu thế kỷ 20. Sau đó được trồng rải rác ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung. Ưu điểm nổi bậc của giống cây dứa này là thịt quả vàng, giòn, rất thơm và hấp dẫn, nên người ta thường trộn vào nước ép các loại quả khác để tạo ra mùi thơm đặc trưng. Giống này dễ tính, chịu được đất xấu, đất chua, dễ ra hoa trái vụ.

- Cây Dứa Na hoa:

Thuộc nhóm Queen: mắt nhỏ, lồi, khi chín vỏ quả và thịt đều có màu vàng. So với dứa hoa Phú Thọ lá ngắn và to hơn, quả cũng to hơn. Bình quân khối lượng quả là 0,9-1,2kg/quả. Khi chín nước trong thịt quả cũng nhiều hơn. Đây là giống dứa được trồng khá phổ biến ở các vùng trồng tập trung. Giống này có ưu điểm là dễ trồng, có thể duy trì được năng xuất đến vụ thứ 2, thứ 3 nếu được chăm sóc tốt vá áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp.Cây Dứa Na hoa có hệ số nhân giống cao nên có khả năng dễ dàng mở rộng diện tích ở những vùng đất trồng đồi trọc. Nhược điểm của giống này là có mắt sâu, quả hơi bầu dục, nên đồ hộp khó đạt được năng suất lao động cao. Tỷ lệ cái/nước cũng không cao, vì vậy hiệu quả kinh tế thấp.

- Cây Dứa Kiên Giang và dứa Bến Lức (thuộc nhóm dứa Queen):

Trong điều kiện khí hậu ở các tỉnh phía Nam, cây sinh trưởng mạnh, quả có kích thước lớn hơn so với khi trồng ở các tỉnh phía Bắc. Dứa này có những đặc điểm giống dứa Na hoa. Quả dứa Kiên Giang có dạng hình trụ, mắt quả to hơn và thịt quả có nhiều nước hơn so với dứa Bến Lức. Hai giống này được trồng phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

- Dứa Cayen Chân Mộng:


Lá phần lớn không có gai, trừ một ít gai ở đầu mút lá. Phiến lá, long máng sâu, có nhiều phấn ở mặt dưới, nhất là ở phía gốc lá. Giống này được nhập vào ViệtNamvào đầu những năm 40, được trồng ở một số địa phương miền Bắc, chủ yếu trong một số đồn điền của người Pháp. Chân Mộng thuộc tỉnh Phú Thọ, là một trong những nơi tiếp nhận giống này. Vì vậy, về sau người ta gọi giống này là dứa Cayen Chân Mộng. Đến nay giống này chưa được trồng nhiều diện tích, nhưng giống có ưu điểm là cho năng suất cao, quả to, dễ thao tác trong chế biến làm đồ hộp, có chất lượng cao cả về thành phần sinh hóa lẫn tỷ lệ cái/nước. Hiện nay giống này đang được chú ý mở rộng diện tích.

- Nhóm các giống dứa Spanish:

Ở nước ta có nhiều giống, màu sắc vỏ quả khi chín rất khác nhau: đỏ vàng, vàng xanh, xanh tím, xanh đen, xanh lá mạ… Khối lượng quả cũng rất khác nhau. Phẩm chất quả rất khác nhau.

Hiện Tượng Vàng Trắng Lá Dứa Ở Các Tỉnh Phía Bắc

Lá cây bị biến màu và có màu vàng trắng xen lẫn với những đốm màu xanh ở phần đầu chóp lá. Cây bị hại nặng toàn bộ lá có màu vàng trắng, cây không phát triển quả hoặc quả rất nhỏ.

Dứa là một trong 3 nhóm cây ăn quả chủ đạo của ngành rau quả Việt Nam. Trong những năm qua, có nhiều đối tượng sâu bệnh đã phát sinh và gây hại trên dứa, như bệnh thối nõn, bệnh thối rễ, héo đỏ lá dứa. Hiện tượng "vàng trắng" lá dứa cũng đã phát sinh, gây hại trên hàng chục héc ta dứa Cayen được trồng ở các tỉnh Nghệ An, Bắc Giang, Ninh Bình, Hòa Bình và một số tỉnh khác.

Đứng trước tình hình như vậy, Viện BVTV đã tiến hành điều tra xác định nguyên nhân gây hiện tượng "vàng trắng" lá dứa. Qua qúa trình điều tra, cũng như tiến hành các thử nghiệm, chúng tôi phát hiện thấy hiện tượng "vàng trắng" lá dứa bước đầu là do nhện đỏ có tên khoa học là Dolichotetranychus floridanus gây nên.

Để giúp cho bà con nông dân ở các vùng trồng dứa hạn chế được sự gây hại của loại nhện này, chúng tôi xin giới thiệu một số đặc điểm triệu chứng, qui luật phát sinh, cách điều tra phát hiện và biện pháp phòng trừ chúng.

- Triệu chứng:

Nhện đầu tiên chích hút và gây hại trên phần mô trắng tại gốc của lá, ở đó chúng gây hiện tượng mất nước và tạo thành những đốm màu nâu hoặc nâu đen. Cây dứa bị nhện hại sinh trưởng kém, còi cọc, phiến lá nhỏ hơn, ngắn hơn cây bình thường. Lá cây bị biến màu và có màu vàng trắng xen lẫn với những đốm màu xanh ở phần đầu chóp lá. Cây bị hại nặng toàn bộ lá có màu vàng trắng, cây không phát triển quả hoặc quả rất nhỏ.

- Đặc điểm và vòng đời của nhện:

Nhện cái trưởng thành có kích thước khoảng 0,25 mm chiều dài, hình ô van dài, có màu đỏ da cam sáng. Con đực nhỏ hơn, trứng cũng có màu da cam và nở ra ấu trùng. Nhện phát triển rất nhanh trong điều kiện thời tiết nóng và khô, trong điều kiện này vòng đời của nhện có thể được hoàn thành chỉ trong 10 ngày hoặc ít hơn.

- Điều tra phát hiện nhện:

Nhện có thể được phát hiện trên đồng ruộng hoặc trên vật liệu cây giống bằng cách nhổ cây lên, bóc những lá già ra khỏi gốc cây thấy các vết lõm màu nâu ở phần mô trắng của gốc lá.

- Phòng trừ nhện:

+ Kiểm tra hom giống trước khi trồng, nếu phát hiện thấy có nhện thì cần thiết phải xử lý hom giống hoặc phun thuốc trừ nhện trên cánh đồng trước khi thu hoạch hom giống.

+ Mức độ gây hại của nhện biến đổi phụ thuộc vào điều kiện thời tiết khi trồng. Nếu điều kiện khô hạn kéo dài sau trồng, phải tiến hành điều tra phát hiện, thấy có nhện trên đồng ruộng cần phun thuốc để trừ nhện.

- Các loại thuốc hóa học để phun trừ nhện là:


Ortus 5 SC: 1- 1,5 lít thuốc/1 ha
Pha nồng độ thuốc: 0.2 - 0.3% (20 - 30 ml thuốc cho 10 lít nước).

Comite 73 EC: Sử dụng 0.4 - 0.6 lít thuốc/ha.
Pha nồng độ thuốc: 0.05 - 0.06% (5-6 ml thuốc/10 lít nước).

Kelthane 18.5 EC: Sử dụng 1 - 1,5 lít/ha.
Pha nồng độ thuốc: 0.2 - 0.3% (20 - 30 ml thuốc/ 10 lít nước).

Sirbon 5 EC: Sử dụng 0.5 - 1 lít thuốc/ha.
Pha nồng độ thuốc: 0.1 - 0.2% (10-20ml thuốc/10 lít nước).

Nên phun thuốc 2 lần, lần 2 cách lần 1 là 7 ngày

Kỹ Thuật Trồng Dứa Phần 7

Để trồng dứa được tốt, chúng ta cẩn có hiện pháp đề phòng rệp sáp và bệnh héo ngay từ đầu.

33. Dứa thường bị những loại sâu bệnh gì phá hoại, cách phòng trừ như thế nào?

Phòng trừ sâu bệnh hại dứaDứa là một cây ít bị sâu bệnh phá hại so với nhiều loại cây trồng khác. Tuy vậy ở hầu khắp các vùng trống dứa trên thế giới. người ta đều thấy dứa thường bị hại bởi rệp sáp và bệnh héo. Đặt biệt rệp sáp và bệnh héo thường xuất hiện cùng nhau và có quan hệ mật thiết với nhau.

Đã có những nước như Hawai  nhiều người đã muốn bỏ nghề trồng dứa vì bệnh héo phá hại. Cho đến nay, bệnh này vẫn là một mối uy hiếp nghiêm trọng nhất đối với cây dứa. Carter dù quan sát và cho biết loại bệnh này phát triển qua 4 giai đoạn. Cây bệnh thường bị héo rất nhanh từ ngọn lá cho nên dễ phân biệt triệu chứng này với héo do ký sinh hay do thiếu nước. Những lá bị héo thường là sau khi các rễ cây đã ngừng sinh trưởng. Cây đang phân hóa mầm hoa (hay muộn hơn) là lúc bệnh dễ xuất hiện nhất, do đó làm quả nhỏ, chua, khô, mắt lộ rõ, không có giá trị thương phẩm.

- Nguyên nhân gây bệnh: nhiều ý kiến đã thống nhất về sự tương quan chặt chẽ giữa rệp sáp và sự mất hiện bệnh héo. Catrter W. đã thấy nếu trên mỗi cây dứa có 100 con rệp thì có 30% cây bị bệnh. Nhưng nếu mật độ rệp tới 500 con một cây thì 90% số cây đã bị bệnh. Ở Đôminic, Mêhicô. Macstinic…  thấy bệnh này có đặc điểm của bệnh do virút gây ra. Các loại rệp mà người ta đã biết đều đẻ trứng thai và có chu kỳ sinh vật rất giống nhau, tùy nơi mà dạng này nhiều hay dạng kia nhiểu.

Nó có thể  trên lá,trên cây, quả gần mặt đất, hoặc trong gốc lá dưới mặt đất. Điểu kiện thích hợp để rệp phát triển và sinh sản chủ yểu phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm. Khi nhiệt độ cao nhất ở 21oC và độ ẩm tương đối thấp nhất 63% thay rệp sinh trưởng mạnh nhất, mỗi con cái có thể đẻ được 300 -400 con. Người ta thường thấy nhiều loại kiến sống kết hợp chặt chẽ với rệp (kiến sống bằng chất mật do rệp tiết ra) chăm sóc làm tổ cho rệp ở và phân tán riệp đi khắp nơi. Trong các tổ này rệp được bảo vệ, chống được những hiện tượng thay đổi thời tiết bên ngoài vả tạo ra tiểu khí hậu thích hợp cho rệp sinh sản.

– Cách phòng trử: phải phòng ngừa ngay từ khi làm đất trống dứa, phát hết những tàn dư thực vật (ủ hoặc vun lại đốt đi) để tránh không cho rệp ẩn náu.

Diệt sạch kiến để tránh làm cho rệp di chuyển từ cây này sang cây khác, Người ta đã làm thí nghiệm ở Côtđivoa (Tây Phi) thấy nếu trồng 2 cây dứa cạnh nhau, một cây không có rệp, một cây mật độ rệp tới 10.000 con, nhưng ta tiêu diệt hoàn toàn kiến, không cho vận chuyển rệp thì sau một thời gian khá dài, rệp vẫn không chuyển từ cây này sang cây kia. Vì vậy một biện pháp đề ra để chống rệp là khoan vùng, tạo thành những vành đai, trên những vành đai đó ta xử lý thuốc diệt kiến hoặc không cho kiến di chuyển.

Lấy giống ở những nơi không có nguồn bệnh, không có rệp.

Dùng thuổc hóa học để xử lý con giống diệt rệp.

Dùng metyl bromua (3,2 kg thuốc cho 100 m3 phòng hun), mỗi một khối xếp 300 ~ 500 con giống, hun trong 2 giờ giữ nhiệt độ 25- 30°, rệp sẽ hoàn toàn.

Những con giống trong dung dịch este của axit fotforic nồng độ 002 - 0.03%, sau đó để cơn giống ít nhất trong 12 giờ để thuốc thấmc thin vào lá, hoặc ngâm ngập con giống trong dung dịch thuốc từ 3 đến 5 phút

Phun thuốc parathion hoặc mety parathion ở nồng độ 0,015 - 0,02%  hoặc malathion 0,06-0,08%, phải phun ở dạng thuốc nước để tiếp xúc với rệp. Biện pháp này chủ ý phun khi cây dứa còn nhỏ (mới trồng) thì hiệu quả mới cao.

Nên phun ít nhất 5 tuẩn một lần. Ở Ghinê phun 4- 6 lần trong một năm. Những nơi có mùa vụ rõ rệt (như ở ta) nên phun thuốc giữa và cuối mùa mưa, không nên phun vào giữa mùa khô, càng tạo điều kiện độ ẩm cho rệp phát triển. Nếu mưa rải rác quanh năm nên phun 10 lần một năm. Mùa nóng và ẩm nên phun nhiều đợt.

Để trồng dứa được tốt, chúng ta cẩn có hiện pháp đề phòng rệp sáp và bệnh héo ngay từ đầu. Ngoài ra còn một số loại bệnh khác nhưng tác hại đôi với dứa không đáng kể.

34. Nên thu hoạch dứa vào lúc nào, có thể dự đoán năng suất dứa được không

Dứa chín rất nhanh, nếu không thu hoạch kịp thời gian dễ bị thối nát hư hại. Nhưng nếu thu hoạch quá sớm hàm lượng đường thấp, ảnh hưởng không tốt đến phẩm chất

Để thu hoạch đúng lúc, chúng ta căn cứ vào cơ sở sau đây:

Dựa vào màu sắc, hình thái quả. Khi quả mới nở có màu đỏ rồi đến màu xanh, xanh đậm, xanh nhạc rồi quả có màu vàng hoe, đến khi chín hoàn toàn có màu vàng đỏ. Thời gian thu quả tốt nhất là khi quả có màu xanh nhạc và bắt đầu có một vài mắt ở đáy có màu vàng hoe. Về hình thái ta thấy quả lúc già, mắt quả bắt đầu căng ra, người ta gọi là thời kỳ “mở mắt”. Thường quá trình mở mắt tuần tự dưới lên trên. Khi mở mắt hết là lúc quả đã già, thu hoạch vào lúc này bảo đảm phẩm chất tốt. Bà con ta có kinh nghiệm gọi thời kỳ này là “mắt tiền trinh, mình bánh rán” tức là lúc đó mắt quả như rộng hẳn ra, quả nảy tròn đều đặn, đủ tiêu chuẩn cho ta thu hoạch

Một căn cứ khác dựa vào độ nhớt của quả. Khi quả con non, còn xanh độ nhớt rất cao, nhưng khi quả mở mắt hoàn toàn, nếu ta cắt quả dứa ra, thấy độ nhớt của thịt quả lúc này giảm dần.

Dựa vào thời gian từ khi cây ra hoa đến khi chín. Thông thường từ khi cây dứa ra hoa đến khi quả chín 120 đến 180 ngày, nhưng tùy vào giống thời gian này có thể thây đổi. Dứa trên dưới 120 ngày, dứa ta trên dưới 150 ngày, còn dứa Cayen phải trên dưới 180 ngày.

Thu hoạch kịp thời đúng lúc cũng là biện pháp nâng cao sản lượng dứa. Nhưng thu hoạch vào lúc nào còn tùy vào điều kiện của cơ sở sản xuất, tùy vào mục đích chế biến dứa sau thu hoạch. Chẳng hạn nếu cơ sở nhỏ, diện tích dứa ít, thu hoạch chủ yếu bán quả tươi xung quanh vùng đó thì ta có thể để quả chín vài mắt ở đáy quả, thấy quả vàng hoe đều hãy hái. Nếu thu hoạch để bán xa, hoặc xuất khẩu tươi thì yêu cầu phải thu hoạch sớm hơn, có thể thu hoạch ngay khi quả dứa chuyển màu xanh(hoa mơ), thậm chí có thể phải thu ngay tử khi quả dứa chưa mở mắt hoàn toàn, mà mới chỉ mở mất 4- 5 hạng ở đáy quả.

Đối với những cơ sở sản xuất lớn, diện tích dứa rộng, chúng ta phải có biện pháp dự tính năng suất trước để có kế hoạch chủ động trong khâu thu hoạch.

Căn cứ vào mối tương quan chặt chẽ giữa các hộ phận trong cây: chẳng hạn như trọng lượng lá với trọng lượng quả, đường kính, chiều cao trung bình của quả với trọng lượng quả hay tương quan giữa số lượng mắt với trọng lượng quả…  nghĩa từ có thể dự tính trước được sản lượng dứa. Vấn đề này nhiều nước trên thể giới đã ứng dụng để có kế hoạch thu hái và vận chuyển dứa. Ở Ộa, tương lai cây dứa sẽ được phát triển mạnh, diện tích trống đứa sẽ được mở rộng, chúng ta cũng cần phải có phương pháp dự tính nâng suất để đi vào kế hoạch hóa một cách chặt chẽ. Chúng ta có thể dự tính nâng suất sớm ngay tử khi cây ra hoa (hoặc trước khi xử lý cho cây dứa ra hoa) dựa vào môi tương quan: tổng số lá hoạt động trên cây với trọng lượng quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số tương quan r = 0,730 (tương đối chặt chẽ).

Phương trình hồi quy: y = 10,7x + 251.24

Trong đó  y: trọng lượng quả
x: tổng số lá của cây

Số lá tăng lên một lá trọng lượng quả tăng được 10,7g Để dự tính năng suất chính xác và thiết thực hơn, ta có thể căn cứ vào tương quan giữa số mắt trên quả và trọng lượng quả (hệ số tương quan r : 0,824 rất chặt).

Đơn giản hơn nữa ta đưa vào mối tương quan giữa số mắt trên một hàng dài (vì xung quanh trục hoa thường xếp cố định 8 hàng mắt -8 vòng)

Hệ số tương quan r = 0,733 (chặt)
Phương trình hồi quy y = 42,72x + l l l.30
Trong đó y: trọng lượng quả
x: mắt trên một hàng dài

Số mắt quả trên một hàng dài tăng lên l, trọng lượng quả tăng lên 42,72 g.

Dự tính năng suất được chính xác sẽ giúp chúng ta chủ động khi thu hoạch. tránh được những lãng phí do thối hỏng không kịp thu hái, vận chuyển. Mối tương quan này phải tính cho từng giống dứa.

35. Công tác vận chuyển bảo quản dứa cần chú ý những vấn đề gì?

Đối với dứa người ta không thể bảo quản lâu. Sau khi thu hoạch, phân cấp quả to, nhỏ, phải kịp thời vận chuyển đến nơi chế biến ngay.

Trong quá trình vận chuyển để giảm bớt tỉ lệ hư hại không chế biến được, ta cần chú ý một số điểm:

- Khi thu hái và vận chuyển phải nhẹ nhàng, tránh say sát và dập nát, nguyên tắc là nhanh gọn, nhưng phải thận trọng.

- Không để quả đắp đống, tránh để ngoài nắng, thu hái xong có điều kiện phải kịp thời vận chuyển ngay hoặc để tải mỏng trong chỗ dâm mát. Ở mỗi đồi dứa hay lô dứa nên làm những nhà trống, có mái che mưa nắng để tập trung dứa trước khi vận chuyển, đem bán.

Mùa dứa chín nên tập trung mọi phương tiện vận chuyển để có thể thu hoạch, vận chuyển càng nhanh càng tốt.

Nếu dứa xuất tươi, chúng ta cần phân cấp to, nhỏ rồi gói quả bằng giấy mỏng, đóng hòm để chuyển đi. Ở các nước như Ghinê, xuất dứa tươi phải dùng thùng gỗ, mỗi hòm xếp hai tầng, mỗi tầng 3-4 quả. Để thích hợp cho xuất khẩu tươi, dễ xếp vào hòm để giảm sự lãng phí thể tích của hòm gỗ, các nhà trồng dứa ở châu Úc đã tạo ra giống dứa có hình vuông. Trong quá trình vận chuyển, bảo quản, nếu dứa thối hỏng cần kịp thời cách ly để tránh mọi lay lan.

36. Tại sao ăn dứa lại say, chữa như thế nào?

Dứa rất bổ, rất thích hợp khẩu vị của chúng ta, nhưng cá biệt một số trường hợp người ăn vào bị say (hay nói chính xác hơn là ngộ độc) ăn xong thấy choáng váng, hoa mắt, nôn mửa vv…Trong trường hợp đó, có thể do một số nguyên nhân sâu đây

a. Do chất độc một số con trùng, rắn rết để lại. Một số loại côn trùng, rắn rết của rất thích mùi vị của dứa. Cho nên, khi dứa chín chúng cũng đến ăn và để lại một số loại chất độc trên quả (thường ở vỏ quả). Nếu vỏ không sạch (nhất là ở mắt quả) thì khi có ăn thì dễ bị ngộ độc.

Trường hợp người bị say dứa, chúng ta nên xử lý như sau:

- Cho uống nước đường
- Cho nằm nghỉ ngơi nơi thoáng mát. Đắp khăn ướt lên trán;
- Cho uống nước (lấy mắt quả dứa ăn say cho vào nước rồi uống, theo kinh nghiệm dân gian lấy độc trị độc).

Trường hợp nặng có thể làm cho người bị say nôn ra hoặc kịp thời đưa đến bệnh viện

Kỹ Thuật Trồng Dứa Phần 6

Kéo dài thời gian thu hoạch dứa giúp cho người trồng chủ động trong việc thu hoạch thông qua tác động làm thay đổi thời gian ra hoa và chín quả của cây dứa

26. Rải vụ thu hoạch dứa có ý nghĩa gì trong sản xuất dứa?

Một trong những khó khăn thường gặp ở những vùng trồng dứa tập trung trên một diện tích lớn là vấn để thu hoạch. Do thời gian chín tự nhiên của dứa rất tập trung và dồn dập trong một thời gian ngắn (chỉ trong hai tháng 6 và 7 có tới 80 -90% tổng sản lượng dứa được thu hoạch đối với dứa ta) cho nên đã gây ra những khó khăn lớn về các mặt:

- Rất căng thắng về nhân lực khi thu hoạch, vận chuyển, các phương tiện vận chuyển cũng khó giải quyết.

- Thời gian cung cấp quả tươi cho thị trường và cung cấp nguyên liệu cho nhà máy rất ngẳn, ảnh hường tới hoạt động của nhà máy.

Mặt khác. khi dứa chín, thời gian bảo quản cất giữ rất ngắn, chỉ 3-4 ngày là thối hỏng. Nếu nắng gắt, mưa rào dứa chín càng nhanh (chín rộ) và càng mau thối, do đó không vận chuyển chế biển kịp thời sẽ gây lãng phí rất lớn. Những nơi năm được mùa có ngày phải thu mua từ 150 đến 200 tấn dứa, trong khi đó vận chuyển không kịp có ngày thối tới 30 tấn quả. Thực tế còn cho thấy, do thời gian thu hoạch dồn dập, căng thẳng, cho nên năm nào được mùa dứa, thường ảnh hưởng đến các cây trồng khác. Ở nhà máy hoa quả cũng có lúc phải bỏ đi hàng trăm tấn dứa vì không chế biến kịp, thế nhưng một thời gian dải lại không có dứa để nhà máy hoạt động.

Vì vậy rải vụ thu hoạch dứa trước hết là đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn sản xuất. Rải vụ thu hoạch, tức là con người chủ động làm cho dứa ra hoa và chín vào những thời gian khác nhau, để khắc phục được những khó khăn đã nêu trên đây.

27. Biện pháp để rải vụ thu hoạch dứa như thế nào?

Người ta có thể thực hiện rải vụ thu hoạch dứa bằng nhiều biện pháp khác nhau.

a. Rải vụ thu hoạch bằng cách trồng các giống dứa khác nhạu. Ở một cơ sở sản xuất, chúng ta có thể trồng nhiều giống khác nhau trên những lô riêng. Vì những giống này cỏ thời gian chín khác nhau cho nên có thể kéo dài thời kỳ thu hoạch.

Dứa hoa chín vào khoáng tháng 5 - 6;
Dứạ ta chín vào khoảng tháng 6 -7;
Dứa Cayen chín vào các tháng 7- 8.

Như vậy đương nhiên nếu trồng các giống khác nhau chúng ta đã có thể kéo dài thời gian thu hoạch dứa tử tháng 5 đến tháng 8.

b. Rải vụ thu hoạch dứa theo vĩ độ địa lý. Ở những nước phía bắc bán cầu, khi cây dứa đã qua một thời kỳ sinh trưởng nhất định thì hoa thường xuất hiện vào những ngày ngắn nhất trong năm. Tuy thế chu kỳ của cây dứa cũng ngắn nếu xích dẩn về phía xích đạo.

Ở nước ta, thời gian chín của dứa chậm dần. Càng lên những vùng có vĩ độ cao thời gian chín cũng muộn. Vì vậy để cung cấp dứa cho nhà máy vào các thời gian khác nhau, chúng ta có thể xây dựng các khu vực trồng đứa ở các vĩ độ khác nhau. Như thế thời  gian cung câp quả tươi cho thị trường và nguyên liệu cho nhà máy sẽ được kéo dài hơn.

c. Rải vụ bằng thời vụ trồng vũ trọng lượng chổi con khác nhau. Thông thường ở ta có một vụ dứa quan trọng nhất là hoa tự xuất hiện vào tháng 2- 3 để cho quả chín vào khoảng tháng 6- 8. Nhưng ở Ghinê, Mactinic lại có hai vụ hoa, do đó có hai vụ quả trong một năm. Nguyên nhân do các loại chồi khác nhau và thời vụ trồng khác nhau và thời vụ trồng khác nhau :vụ ra hoa tháng  2-3 do các chồi nách bé (100g) trồng tháng giêng hoặc cách chổi nách vừa 450g trống tháng 5 và chổi nách lớn (800g) trống vào tháng 9.

Vụ hoa ra tháng 4, tháng 6 cho thu hoạch quả tháng 11-12 do các chồi nách bỏ (100g) trống tháng 5 năm trước.

Chồi nách vừa (450g) trồng tháng 9-10.

Chồi nách lớn (800g) trồng tháng 2 năm đó.

Như vậy nếu trồng vào các vụ khác nhau, trọng lượng chổi khác nhau sẽ cho thu hoạch vào các thời gian khác nhau.

d. Rải vụ bằng cách kích thích cơ giới và kích thích hóa học để làm cho dứa ra hoa theo ý muốn hoặc dùng các chất CaC2, NAA  xử lý cho dứa ra hoa trái vụ.

28. "Đạp dứa ” là làm như thế nào?

Đây là một kinh nghiệm của bà con nông dân. Cách làm: khi đi tỉa chổi ngọn cho dứa chính vụ vào tháng 3, tháng 4, nếu gặp những cây dứa đã lớn mà chưa ra hoa thì người ta nhấc cây lên khỏi mặt đất cho dứt bớt một số rễ, rồi lựa theo hướng chổi mọc, dùng chân đạp cho cây ngã rạp xuống đất. Sau đó cây dần dần ngóc dậy và sau 2 tháng sau sẽ ra hoa, vụ hoa này ra vào tháng 5, tháng 6, cho thu hoạch vào tháng 9 - 10, cá biệt có thể kéo dài đến tháng 11, tháng 12. Dứa vụ này quả to, nhưng ăn chua và cứng. chỉ ngọt ở phía cuống quả. Người ta còn đạp dứa khi đi thu hoạch dứa mùa (thán 6 - tháng 8). Cách làm cũng như trên và kết quả sẽ cho ra hoa vào tháng 10, 11, thu quả vào tháng 4, 5; vụ dứa này cho quả nhỏ, ít nước, nhưng ăn ngọt và thơm hơn.

Như trên đã trình bảy, “đạp dứa” là một kình nghiệm của bà con được tích lũy trong quá trinh sản xuất. Nó là một biện pháp để rải vụ thu hoạch dứa nhưng cho đến nay kinh nghiệm này ít được áp dụng vì việc quản lý tập thể chưa được chặt chẻ, cho nên sống sản lượng trên một đơn vị diện tích nếu thu hoạch rải rác trong các vụ sẽ thấp hơn là thu hoạch tập trung trong một vụ.

Khi “đạp dứa” chú ý tránh giảm gãy chồi (không đạp ngược với hướng chổi mọc, mà nên đạp nghiêng).
29. Dùng thuốc hóa học để rải vụ thu hoạch có lợi những gì?

Từ lâu người ta đã nghĩ đến việc dùng các chất kích thích hóa học để làm cho dứa ra hoa theo ý muốn con người. Vào năm 1942 Cooper đã dùng NAA (a- napthylaxetic axit) nồng độ 5- 10 ppm, xử lý cho cây dứa thấy có tác dụng ra hoa sớm.
Năm 1946 Vanoverbecl đã dùng 2,4D và NAA nồng độ 5- 10 ppm phun cho cây dứa giống Caben zonna liên tục trong các tháng trong năm đều cho ra hoa 100% (thí nghiệm với cây 14 tháng tuổi). Để tự nhiên cây ra hoa rải rác trong vòng từ 2 đến 5 năm.

Ở Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến (Trung Quốc) đã dùng 50 ml 2,4D, NAA cho một cây dứa có thể làm cho dứa ra sớm hơn bình thường 8 - 9 tháng (Nồng độ NAA: 15 - 20 ppm, nồng độ 2,4D: 5 - 10 ppm).

Năm 1956, MuZik và Cruzado đã dùng MH với nồng, độ 3000 (10 -- 20 m1 cho một cây) xử lý với giống Red~Spanish vào thởi kỳ nước khi cây ra hoa, đã làm cho nó ra hoa chậm đi 6 tuẩn mà không ảnh hưởng gì đến trọng lượng, hình dạng và phẩm chất quả

Qua những kết quả đã nêu trên đây, ta thấy rõ vai trò của các chẩt kích thích sinh trưởng trong việc rải vụ thu hoạch đối với dứa. Những ích lợi ấy biểu hiện ở các mặt sau đây:

- Khống chế được thời kỳ ra hoa kết quả của vườn dứa, có thể làm dứa ra hoa sớm lên hay chậm di tùy theo yêu cẩu của thì trường và yêu cẩu nguyên liệu của nhà máy.

- Làm cho hoa ra tập trung, dể chăm sóc, dễ thu hoạch.

- Rút ngắn được thời gian sinh trưởng, làm cho cây sớm ra hoa, kết quả, tỷ 1ệ cây ra hoa cao, hạ được giá thành,

- Chủ động điểu tiết mùa vụ ra hoa của dứa, tránh dứa chín vào những thời gian không thích hợp ảnh hướng xấu đến phẩm chẩt.
Cũng có ý kiến cho rằng xử lý chất kích thích có làm tăng trọng lượng quả và ảnh hưởng tốt đến phẩm chất quả trái vụ (bằng cách làm chậm thời gian ra hoa của nó.

Hiện nay ở nhiều nước còn dùng biện pháp phun các chất hóa học lên quả dứa trước khi thu hoạch để kéo dài hời gian cất giữ, báo quản sau khi thu hái, hoặc kéo dài thời gian chín của quả trên đồng ruộng, như vậy biện pháp này có tác dụng rải vụ thu hoạch. Quả sau khi thu hái nếu ta phun a–NAA nồng độ 100 — 500 ppm hoặc có thể cất giữ trong môi trường giàu CO2 để kìm hãm hô hấp, hay các chất ái oxy (pirogalon) để giảm lượng oxy trong môi trường cất giữ dứa đều có thể kéo dài thời gian bảo quản từ l tháng đến l tháng rưỡi.

30. Cách sử dụng đất đèn (CaC2) để xử lý cho cây đứa ra hoa trái vụ như thế nào?

Dất đèn có tác dụng làm cho dứa ra hoa trái vụ chính bởi vai trò của axetylen:

CaC2+ H2O ó C2H2 + CaO

Chúng ta có thể dùng CaC2; ở dạng bột: đất đèn để cho tơi mịn, ta đỗ vào nõn mỗi cây dứa một thìa cả phê (bột này phải được bảo quản trong bình kín). Phương pháp này dễ làm, nhưng tổn công và đôi khi hiệu quả không cao. Ngày nay thông thường người ta dùng đất đèn hòa thành dung dịch uxetylen.

Ở Ghinê người ta dùng những bình có dung tích 50 lỉt, cho vào bình 2/3 nước rồi bỏ vào trong đó 110-120 g đất dèn. Sau đó đậy kín lại lắc kỹ 5- l0 phút, đến khi thấy không sủi bọt nữa là được. Vì phản ứng có tỏa nhiệt và axetylen lại là một khí  dễ nổ, cháy cho nên phải chú ý đề phòng tai nạn. Để an toàn hơn có thể dùng áp suất cao bơm axetylen vào bình nước (9 nước, l khí), người ta dùng máy kiểm tra áp suất trong bình, khi nào đạt 0,5 -0.6 kg là nước đã bão hòa axctylen thì ta có thể đem dùng.

Ở Ghinê, Hawai thường xử lý ba lẫn liên tiếp cách nhau một tuần, tốn 20 - 25 kg CaC2 và 6000 lít nước cho một ha.

Ở ta thường dùng 4g CaC2 pha trong một lít nước xử lý cho 20 cây (mỗi cây được 50 ml dung dịch), xử lý 2 lần cách nhau một ngảy, xứ lý vào 4 giờ chiều đến 8 giờ sáng hôm sau (làm qua đêm). Một công có thể xử lý được 2000 - 2500 gốc (khoảng 15 công cho một ha). Đợt xử lý này đã cho thu quả vào 10 -l5 tháng 11 năng suất đạt khoảng 20 tấn/ ha (với mật độ khoắng 30.000 cây/ha). Trọng lượng và phẩm chất quả không thua kém dứa chính vụ.
So sánh dứa chính vụ và dứa xử lý trái vụ
DứaTrọng lượng quả (kg)Hàm lượng đường %Axit %
Bình quânTo nhấtNhỏ nhấtCaoThấpCaoThấp
Chính  vụ0,701,50,316,214,00,630,44
Xử lý trái vụ0,722,10,3515,012,50,50,4

Những điểm chú ý khi xứ lý ra hoa cho dứa bằng đất dèn:

- Khi pha vào bình hoặc thùng. chú ý tỷ lệ thể tích bình, lượng nước và đất đèn đổ tránh hiện tượng nổ cháy.
- Nồng độ pha chế 0,4 -0,6%, điểu chế xong xử lý ngay.
-Xử lý vào lúc mát trời để tránh ảnh hưởng xấu đốn dứa.
- Nên xử lý 2-3 lẩn hiệu quá sẽ cao hơn.

31. Cách sử dụng a-NAA để xử lý ra hoa trái vụ cho dứa cẩn chú ý điểm gì?

a-NAA là một chất kích thích sinh trưởng có hoạt lực tương đối mạnh đối với dứa, uống dô xứ lý cho dứa thấp, vì vậy cần phải hết sức thận trọng và pha chế chính xác về nồng độ. Bất kỳ một lượng lớn hay nhỏ của thuốc mà quá với liều lượng quy định đều gây tác hại cho cây dứa.

Cách pha chế NAA để xử lý: nếu ta có a-NAA nguyên chất 100% sẽ pha như sau: cân 1 g a–NAA +10 ml cổn 900 + l-3 giọt NH3 (để tránh kết tủa khi phu nước vào), sau đó cho nước đến một lít. Lít dung dịch này gọi là “dung dịch mẹ", có nồng độ 1000 ppm (1ml tương đương với 1mg o-NAA).

Rút 4- 5 ml dung dịch mẹ + 996 -995 ml nước ta được 1 lít dung dịch có nồng độ 4- 5 ppm. Đổ vào ngọn cây dứa 50ml. Mùa mưa có thể xử lý một lần, nên xử lý 2- 3 lần, một lấn xử lý hết 4,8 g/ha, 3 lần tốn l4.4 g cho một ha.

Cần chú ý:

Khi xử lý a-NAA, cuống quả thường dài ra (dài hơn 17% so với đối chứng) vì thế bón phân để cây có cuống quả cân bằng, tránh đổ quả.

- Khi xử lý a-NAA cây sẽ ít chổi nách hơn.
- Khi xứ lý a-NAA nên xử lý trước ra hoa tự nhiên ít nhất là 2 tháng

32. Điển kiện như thể nào thì có thể xử lý ra hoa trái vụ với cây dứa?

Để hiện pháp xử lý ra hoa trái vụ bằng chấn kích thích sinh trưởng đạt hiệu quả kinh tế cao chúng ta cẩn chú ý một số điều kiện cần thiết khi xử lý như sau:

1. Điều kiện sinh lý của cây dứa

Cây dứa được xử lý phải có một quá trình tích lũy nhất định, thường thấy cây dứa phải trồng ít nhất là sau một năm mới tiến hành xử lý có trái vụ. Vì nếu cây dứa còn quá nhiều xử lý có thể không ra hoa được, hoặc có ra hoa quả cũng rất nhỏ, không có giá trị kinh tế gây lãng phí.

Cần bón phân (nhất là đạm), để thay đối hoạt động sinh lý của cây dứa trước khi xử lý từ 3 đến 5 tuần lễ. Chúng ta biết rằng xử lý ra hoa trái vụ chỉ là một biện pháp nhằm rải vụ thu hoạch, cho nên muốn nâng cao sản lượng chúng ta phải bón phân trước khi xử lý. Người ta thường bón đạm và bón thêm kali để quả to và cuống quả phát triển bình thưởng, tránh đổ gãy khi quả chín.

2. Điều kiện khí hậu thời tiết

Trước khi xử lý thuốc, nên để nương dứa khô ráo, nhưng nếu mùa đông quá hạn lại cần phải tưới ẩm. Sau khi xử lý tránh mưu. Nếu gặp mưa thường phải xử  lý lại. Đối với xứ lý bằng đất đèn, nếu sau một ngày mới gặp mưa thì không cần xử lý lại. Trường hợp xử lý bằng a-NAA thì chỉ cần sau một giờ không bị mưa là thuốc đã có hiệu quả không cần phải xử lý lại.

Kỹ Thuật Trồng Dứa Phần 5

Quả dứa được đánh bỏ chồi ngọn phát triển cân đối,quả to, nặng cân, hình dáng quả đẹp, lõi bé. phẩm chất ngon.

21. Lượng phần bón cho dứa bao nhiêu là vừa?

Lượng phân bón nhiều hay ít phụ thuộc và đất tốt hay xấu, mật độ trồng dãy hay thưa và cũng còn phụ thuộc vào giống dứa có chịu được phân bón hay không

Ở Đài Loan với giống dứa Sarawak, mặt độ trồng 20.000 cây/ ha đã bón cho dứa một lượng phân tiêu chuẩn cho một ha như sau:

Lượng bón cho dứa ở Đài Loan
Loại phânTổng lượng phân bónBón lótBón thúc (kg)
Tháng 2Tháng 3Tháng 8Tháng 9
Phân đóng75007500    
Khô dầu375375112,5 112,5 
Kali sunfat37515072,572,572,572,5
Đạm sunfat362,572,5    
Supe lân337,5187,5150   

Tổng cộng phần bón trên có thể tính ra lượng phân nguyên chất sau đây: N = 142,25 kg; P2O5 = 78 kg; K2O = 193,1 kg.

Ở Hawai một vụ thu hoạch khá, họ bón cho một ha như sau:

N              209 kg
P2O5       55 kg
K2O         667 kg
CaO         105 kg

Mactin và Prêvet có tính ớ Ghinê trên một ha trồng 38.500 cây muốn thu hoạch 55 tẩn để có quả nhỡ xuất tươi cần bón (hay trả lại cho đất) như sau:

N =205 kg
P =58 kg
K = 393 kg
CaO = ]21 kg
Mg =42 kg

Thông thường gần đây để thu hoạch sản lượng cao và trọng lượng quả lớn để đại yêu cầu đóng hộp người ta bón cho một cây đứa trong một năm bón phân nguyên chất:8-14g N; 0,5g P; 10-20g K. Ở ta từ trước đến nay chưa có nhiều kinh nghiệm vể bón phân cho dứa. Chúng ta có thể tham khảo những tài liệu của các vùng sản xuất dứa tiên tiến trên thế giới

Phân hữu cơ : 8 – 10 tấn/ ha
Đạm sunfat : 300 -500 kg
Supe lân : l50 – 200 kg
Kali sunfat:200-300 kg

22. Nên bón lót và bón thúc cho dứa như thế nào ?


Cây dứa trong thời gian 6 tháng đầu sau trồng sinh trưởng rất chậm. Cần chú ý bón phân lót và bón loại phân có hiệu lực nhanh. Bón lót quyếr định thời gian sinh trưởng của cây nhanh hay chậm vì rễ cây mọc khỏc, sởm ra hoa kết quả.

Đối với dứa để lưu niên, trong năm có thể bón lót cho cây vào thời kỳ sau khi thu hoạch xong khoảng tháng 8, 9, 10, 11 càng bón sớm càng tốt. Bón lúc này nhằm tăng cường cung cấp dinh dưỡng để thúc đẩy chổi nách mọc nhanh và nhiều, chổi nách lớn cũng cường việc tống hợp chất hữu cơ, chuẩn bị cho vụ quả năm sau. Bón cho cây dứa càng sớm sẻ thúc đẩy quá trình phân hóa mầm hoa (thường vào tháng 11, 12, 1), tăng tỷ lệ cây ra hoa.

Ảnh hưởng của bón lót đến sinh trưởng và phát dục của dứa Sarawak (cm)
Chỉ tiêuTán câyQuảTỷ lệ kết quả sau trong một năm
Công thứcDàiRộngDàiRộng
Bón lót125,162,46,912,118,655%
Không lót107,757,65,110,815,414%
     
Có thể bón thúc cho dứa hai lần trong một năm vàohai thời kỳ sau:

1. Bón thúc cho quá trình phân hóa hoa để chuẩn bị ra hoa, bón vào tháng l2, l. 2 trước khi cây ra hoa. Bón lúc này còn làm cho chùm hoa có nhiều mắt, đặt cơ sở cho quá to.

2. Bón thúc cho quả phát triển. Bón sau khi hoa nở xong và kết hợp tỉa chổi ngọn. bón vào khoảng tháng 4,tháng 5. Nên bón lót 50% tổng lượng phân bón, còn mỗi đợt bón thúc 25% lượng phân. Nếu có điểu kiện nhân lực thì nên bón thúc một đợt nữa để quả lớn nhanh và nhiều chồi; thời gian bón vào tháng 5 -6với những giống chín muộn như giống Cayen thì đợt bón này cũng khá quan trọng.

23. Cách bón phân cho dứa thế nào tốt nhất?


Vì bộ rễ của cây dứa phát triển yếu, nông vả hẹp, cho nên rễ cây có thể tận dụng được phân bón, chúng ta nên bón nông, bón trực tiếp xung quanh gốc và nên bón nhiều lẩn. Thông thường có thể bón phân cho dứa theo cac cách sau đây:

- Bón rãnh: cày rãnh hai bên hàng dứa, bón phân xong lấp đất lại, kết hợp vun hàng cho dứa

Bón hốc: cuốc những hốc sâu trên dưới l0 cm, giữa hai hàng dứa bón phân rồi lấp đẩt.

Đối với phân hóa học dễ tan, người ta có thể hòa nước rồi tưới đều vào cây dứa

- Bón bằng thìa: Ở một số nơi có nghề trồng dứa phát triển như Poctorico, Ghinê, Hawai  đã phố biển dùng phương pháp bón bằng thìa, để bón phân hóa học trực tiếp vào gốc dứa. Người ta đã trộn một hỗn hợp các loại phân theo tỷ lệ khác nhau tùy theo tuổi cây rồi cho công nhân dùng thìa đổ vào gốc các lá sát mặt đất. Sau khi bón dùng ô tô có vòi phun hoặc cần tưới để tưới nước. Trong điểu kiện nhân công ít, không có phương tiện tưới, nên lợi dụng bón sau khi trời mới mưa xong. ớ các gốc lá này còn đọng nước sẽ không cần phải tưới.

Bằng phương pháp này vừa tiết kiệm được công mà hiệu lực phân bón lại rất cao. Một công nhân có thể bón 6.000-7.000 gốc một ngày, như thế một ha trồng mật độ 40.000 cây chỉ cần 6-8 công. Bón bằng thìa còn đáp ứng được nhu cầu phân bón của cây một cách thích đáng nhất, vì người ta chủ động trộn tỷ lệ N: P: K theo tuổi cây và kích thước các loại thìa to nhỏ phù hợp với tuổi cây.

Ở những nước có trình độ cơ giới hóa cao, người ta bón phân bằng máy và có thể phun phân lên lá để nâng cao hiệu quả của phân.

24. Có cần đánh tỉa chồi ngọn và chồi cuống cho dứa không?

Chổì ngọn và chổi cuống lấy đi một phần dinh dưỡng mà cây cung cấp cho quả. Do đó nếu để chồi ngọn và nhiều chồi cuống quả sẽ bé và phẩm chất không tốt. Vì vậy cần phải kịp thời tỉa bỏ chồi ngọn và chổi cuống cho quả để tập trung dinh dưỡng cho quả và nuôi các chối nách.

Hằng năm vào khoảng tháng 3 - 4 dương lịch, khi hoa đứa đã tàn l0-15 ngảy. chồi ngọn đã cao 4- 6 cm, là lúc bắt đầu tỉa chổi, chổi dứa đem về lại là một món rau ăn rất tốt, có thể xào, luộc, muối dưa đều rất ngon và hợp khẩu vị.

Quả dứa được đánh bỏ chồi ngọn phát triển cân đối,quả to, nặng cân, hình dáng quả đẹp, lõi bé. phẩm chất ngon.

Khi đánh chồi ngọn để lại hai vành dỏ trên đỉnh quả, qua thí nghiệm thấy nếu để lại 1-3 vành lá thì quả mau lành sẹo và tỷ lệ thối giảm đi.

Chú ý tỉa chổi vào những ngày nắng ráo để vết thương mau lành, tránh các loại nấm và vi khuẩn xâm nhập làm thối quả. Ở một số nước dùng MH (axit hydrazitmaleic) với nồng độ cao (2.000 – 3.000 ppm) dội vào đỉnh quả làm cho chổi sinh trưởng chậm hẳn lại, quả vẫn có một cái chổi ngọn vừa đẹp để xuất khẩu tươi nhưng không phát triển quá mạnh ảnh hưởng đến trọng lượng quả. Đánh tỉa chổi hoặc ức chế chồi phát triển, cả hai phương pháp này đều làm cho quả to hơn, phẩm chất tốt hơn.

Ảnh hưởng của việc đánh tỉa chồi đến năng suất
Chỉ TiêuChiều dài quảĐường kính quảTrọng lượng bình quân quảNăng suất
Công thức    
Đánh chồi ngọn14,3610,510,76513,77
Đánh chồi ngọn và chồi cuống14,8911,000,79514,31
Để chồi13,599,870,70512,69

25. Trừ cỏ cho dứa như thể nảo?

Dứa rất sợ cỏ lấn át (nhất là cỏ tranh) vì vậy cần đặc biệt chú ý để trừ cỏ cho dứa ngay tử khi làm đất. Nếu không trừ  sạch cỏ trước khi trồng thì khi dứa đang sinh trưởng việc trừ cỏ sẽ rất khó khăn, tôn công và ảnh hưởng đến sinh trưởng của dứa. Nhiều khi công đầu tư cho trừ cỏ chiếm 20 - 30% giá thành.

Ở Ghinê, Hawai để tránh tác hại của cỏ dại đối với dứa người ta thường dùng một loại giấy để phủ cỏ giữ ẩm, loại giấy như giấy ni lông, thường thấy loại giấy có màu xám tro tốt hơn. Giẩy này một cuộn có chiều rộng 0,9- l,4 m, dài tới 180m, rải một lần có thể dũng được 3-4 năm, đến khi trồng lại sẽ thay giấy khác. Dùng giấy phủ gốc hạn chế hoàn toàn cỏ dại, lại giữ ẩm và điểu hòa nhiệt độ đất làm cho cây sinh trưởng tốt, năng suất có thể tăng tới 20-25%

Trong điều kiện ở ta muốn phòng trừ tác hại' của cỏ dại đối với dứa chúng ta tiến hành bằng các biện pháp sau:

a. Biện pháp canh tác

- Cảy bửa đất kỹ, nhặt sạch cỏ dại trước khi trồng dứa.

Tăng mật độ dứa lên cũng hạn chế được cỏ dại. Cho thấy mật độ 5 vạn cây/ ha hạn chế được cỏ mọc so với mật độ 3.2 vạn cây/ ha,  2,5 vạn,  l vạn cây/ ha.

-Dùng rơm rạ, cỏ khô, cỏ tế… phủ vào gốc dứa một lớp dày 10 – l5 cm có thể hạn chế cỏ mọc trong thời gian tử 6 tháng trở lên.

b. Các biện pháp dùng thuốc hóa học

Hiệu quả cao nhất khi dung thuốc là xử lý vào đất trước khi trồng dứa. Nếu trồng vụ xuân, ta có thể cày bửa nhử cho cỏ mọc mẩm rồi xử lý thuốc, làm như vậy 2-3 lần rồi hãy trồng dứa thì hiệu quả tốt. Các loại thuốc trừ cỏ cho dứa trước khi trồng có thể dùng: dulapon 5 –l0 kg/ha; có thể kết hợp 2,4D: 2-3 kg/ ha, Simazin 3-4 kg/ ha, PCP natri 8-10 kg/ ha đểu có thể hạn chế có mọc trong vài ba tháng đầu. Sau khi xử lý đất một vài ngày có thể trồng dứa được ngay, không ảnh hướng gì đến sinh trưởng của cây. Còn việc dùng thuốc để phun trừ cỏ cho dứa đang sinh trưởng hiệu quả kém và có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, chú ý phun thuốc tránh tiếp xúc với cây dứa.

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2014

Kỹ Thuật Trồng Dứa Phần 4

Thời vụ trồng dứa không yêu cầu chặt chẽ như một số cây trồng khác. Có thể trồng dứa vào bất kỳ thời gian nào trong năm cũng được và đến có thể dễ dàng đạt được tỷ lệ sống khá cao

16. Thời vụ trồng dứa tốt nhất vào lúc nào?

Thời vụ trồng dứa không yêu cầu chặt chẽ như một số cây trồng khác. Có thể trồng dứa vào bất kỳ thời gian nào trong năm cũng được và đến có thể dễ dàng đạt được tỷ lệ sống khá cao, vẫn ra hoa kết quả bình thường. Tuy vậy do yêu cầu thực tế về nhân lực và cây giống, nên vẫn hình thành một số thời vụ nhất định.

Thông thường sau khi ra quả thì các loại chồi con mới bắt đầu phút triển mạnh, chối nách và chồi cuống sẽ tăng nhanh. Tùy theo mức độ sinh trướng của chổi mạnh hay yếu ta có thể tách trồng vào các tháng 5 -6- 7. Qua tổng kết kinh nghiệm của bà con, thấy trồng dứa vào tháng 8, tháng 9 là tốt nhất. Trổng thời gian này rất sẵn con giống, khi điểu kiện khí hậu phủ hợp hơn (ít nắng gắt mưa rào) cây mau bén rễ, hồi sinh nhanh. Mặt khác lúc này nhân lực cũng tương đối dồi dào vì mùa vụ cũng ít căng thẳng, do đó dễ dàng bố trí nhân lực hơn các thời gian khác.

Trong điểu kiện chủ động con giống (các con giống nảy có thế được lấy từ chổi cuống, chổi ngọn hoặc nhân giống bằng thân trong vườn ươm), thì ta có thể bổ trí một thời vụ trồng dứa vào tháng 3, tháng 4, lúc này cây cũng dễ sống và mau hồi sinh.

17. Có nên bón phân cho dứa không?

Có người quan niệm cây dứa là cây “ăn đã nhả vảng”  có thể sống kham khổ được, không cần phải bón phân, nghĩ như vậy lả không đúng.

Qua tài liệu về trồng dứa ở các nước tiên tiến như Hawai,  thấy vai trò phân bón rất quan trọng đến năng suất và phẩm chất của dứa. Thực tế trồng dứa ở ta cũng thấy rõ điều đó. Những vùng trồng dứa lâu năm ở ta không có bón phân chăm sóc quả dứa rất nhỏ, phẩm chất rất kém. Ở ta cũng có những vùng trông dứa hàng vài chục năm không bón phân  mà năng suất vẫn khá. Nhưng ta đã biết dứa ở đây mọc dưới các rừng lim, tràm…

Hằng năm tầng lá rụng xuống tạo nên một lớp mùn ngày cùng dảy. Đây là điểu kiện rất tốt về lý tính cũng như hóa tính để bộ rễ dứa phát triển. Mặt khác bà con còn có kinh nghiệm hằng năm sau khi thu hoạch dứa, người ta băm nát những thân dứa già để làm phân. Đây cũng là một kinh nghiệm tốt có tác dụng cung cấp dinh dưỡng cho cây dứa. Nếu được bón phân, chắc chẵn năng suất dứa ở vùng này còn cao hơn nữa.

Các nước trồng dứa có năng suất cao đều đều đầu tư phân bón cho dứa một cách xác đáng. Ơ Matctinic người ta chi về phân bón là 28,5% giá thành. Ở Côtđivna phân bón chiếm 20,2% giá thành.

Người ta đã tính toán rằng cứ bón 2 tấn phân khoáng (phân công nghiệp) sẽ cho 50 tấn dứa và  sau đó cứ bón thêm một tấn phân khoáng sẽ cho thêm khoảng 10 tấn dứa. Số lượng tối đa cho mỗi ha là 7 tấn phân khoáng.

Vageler ước tính những yêu cầu của cây dứa về các yếu tố khoáng để sử dụng cho các quá trình sinh tổng hợp dao động trong khoảng các giới hạn sau:

Đạm             :140-170 kg/ha
Axit fotforic   :40-60kg/ha
Kali               :300-350 kg/ha

Qua những điều đã nêu trên đây,  ta thấy rõ trồng dứa muốn có năng suất cao, phẩm chất tốt thì phải bón phân

18. Bón đạm (N) cho dứa có tác dụng gi?

Bón N làm cho quả to lên, nó là yếu tố chủ yếu để nâng cao năng suất dứa

Thí nghiệm với giống dứa Baronne với các liều lượng N khác nhau, kết quá cho thấy

Không bón: trọng lượng trung hình một quả 1092 g

Bón 4g N nguyên chẩt cho môt cây: 1531 g
Bón 8g N nguyên chẩt cho môt cây: 1701 g.

Như vậy bón 4g N nguyên chẩt (20 g đạm sunfat) thấy trọng lượng trung bình của quả tăng 40% so với đối chứng. Nếu trồng mật độ 30.000 cây/ha thì thu được như sau: bón 20g đạm sunfat cho một cây(600 kg/ha) sẽ tăng sản lượng được 13.170 kg (45.930 k32.760 kg). Trừ tiền chỉ phí về phân bón ta thấy vẫn thu lợi khá  cao. Lượng N bón cho một gốc cây càng tăng lên (4g, 8g, 12g nguyên chất cho một gốc) trọng lượng quả có tương quan tỷ lệ thuận, những phẩm chất ở những công thức bón N cao lại giảm đi, hàm lượng axit tăng lên. Ngoài ảnh cao lại giảm đi, hàm lượng axit tăng lên. Ngoài ảnh hưởng đến năng suất, phẩm chất quả, N còn làm tăng chiều cao cây, tăng đường kính cuống quả, làm tăng quá trình đẻ chồi. Bón N còn làm cho màu sắc vỏ quả thêm đẹp.

Tuy vậy nếu bón N không đúng lúc (gần thu hoạch) sẽ làm cho quả dễ bị nứt, giảm khả hàng cất giữ và vận chuyển khi thu hoạch.

Trong các dụng đạm, người ta thường dùng đạm sunfat hơn cả

19. Bón lân và kali có tác dụng đổi với dứa thể nào?

Kali là một nguyên tổ rốt quan trọng đối với quá trình sinh trưởng và sinh thực của dứa. Hàm lượng kali ở trong các bộ phận của cây rất cao. Vì vậy mà yêu cẩu về kali của cây dứa vượt xa N và P. Nhiều ý kiến Cho rằng nếu N là yếu tố quyết định sản lượng thì K là yếu tổ quyết định phẩm chất của dứa.

Nếu thiếu K, lại mọc kém, ngắn và hẹp ngang hơn so với những lá đầy đủ K. Trên phiến lá thường có những vết thường có những vết nâu nhạt, mút lá bị khô.

Bón đủ K làm tăng trọng lượngg quả, làm tăng chiều cao cây và đường kính cuống quả, vì vậy có tác dụng chống thì khi quả chín. Bón K còn giảm được tỷ lệ quả nứt và thối khi chín

Ảnh hưởng đến K đến tỷ lệ đổ và nứt quả
Chỉ tiêu% cây đứng% cây đổ% cây nứt
Công thức   
(Đối chứng)* không bón K15,1672,3617,56
Bón 3 gấp 3 công thức60,5317,8111,47
Bón K bằng 1/3 công thức 221,1763,6322,57

Như vậy rõ ràng nếu bón K tăng lên 3 lần đã có tác dụng giảm tỷ lệ cây đổ xuống gần 4 lần, tỷ lệ cây nứt giảm đi 2 lần.

Ngoài ra bón K còn thúc đẩy việc đẻ chổi của dứa, làm cho cây có nhiều chổi nách, làm cho cây chổng được bệnh. Vai trò của K với phẩm chất dứa biểu hiện ớ các mặt sau:

- Làm tăng hàm lượng đường và hàm lượng axit tăng cường khả năng cất giữ và vận chuyển.

- Màu sắc quả thêm đẹp.

Trong các loại phân kali thì kali sunfat thích hợp với dứa hơn cả.

Về vai trò của P đối với dứa người ta thấy không rõ rệt như N và K. Tuy nhiên cây dứa cũng cẩn có một lượng lân nhất định, nhất là lúc phân hóa mầm hoa và khi cây ra hoa. Một số tác giá như Nightingale và Sumuel cho rằng thừa lân có ánh hướng đến năng suất vì làm đảo lộn cơ chế hấp thụ N của cây. Ở Ghinê đã làm thí nghiệm hai năm liền giữa bón lân và thiếu lân thấy có tác dụng không rõ đến năng suất.

Nếu trên đất đã đủ lân dể tiêu thì không cẩn bón lân, nếu dùng lân đơn độc sẽ làm cho phẩm chất quả giảm.

20. Bón phối hợp N, P, K như thể nào thì tốt?

Phân tích hàm lượng N. P. K Trong lá dứa giống Cayen ở điều kiện sản xuất bình thường cho thấy: N chiến 1.5-2%, P=0,7-0,8 %, K=3.5-4%.

Thí nghiệm về bón phối hợp N, P, K cho dứa của Dài Loan cho thấy rằng vụ quả đầu tiên các công thức bón K là tốt nhất; NK hiệu lực khá hơn NP, PK. Trọng lượng và phẩm chấl quả tăng lên rõ rệt, nhiều chổi nách và chồi cuống hơn. Đặc biệt Công thức NK còn tốt hơn cả công thức đầy đủ N, P, K, nhưng đến vụ quả sau thì công thức N, P, K có tác dụng rõ rệt hơn đến sinh trướng và phát dục của cây. Phối hợp N-P-K như thế nào là hợp lý nhất? Vấn thể này có nhiều ý kiến.

Thí nghiệm trong chậu của Folldsmish và Boume với giống cayen về yêu cầu dinh dưỡng của cây qua các thời kỳ khác nhau cho thấy trên bằng sau

Lượng hấp thụ các chất dinh dưỡng của 100 cây qua các thời kỳ (g)
 
Tháng Chồi nách3 tháng6 tháng9 tháng12 tháng15 tháng18 tháng
Nguyên tố       
N102144232304309420
P2O571432132199187350
K2O1845133564101613001670
CaO10131769230343453
MgO1191981104236299
Hợp chất có Al82294770113
SiO2841333101311273134504567
   
Số liệu bảng trên cho biết: trong 6 tháng đầu lượng hấp thu N và K rất ít, bước vào thời kỷ ra hoa kết quả (l5 đến 18 tháng) lượng hấp thu này tăng lên khá lớn. Trong tất cả các giai đoạn cây hấp thu K đều cao hơn N và P. Đặc biệt SiO2 thấy ở các giai đoạn cây đều cần một lượng khá cao. Tỷ lệ N: P: K cây hấp thu qua các thời kỳ có khác nhau.

- Theo Pau thì tỷ lệ này tối nhất như sau:

Thời kỳ sinh trướng: N: P2O5:K2O = l: 3: 5
Thời kỳ kết quả: N: P2O5:K2O=5:1:3

Kỹ Thuật Trồng Dứa Phần 3

Dứa ớ nước ta có thể trồng dày 30.000 cây/ ha. những công thức mật độ càng cao, năng suất cao hơn.


11. Muốn xây dựng một cơ sở trồng dứa cần chuẩn bị những gì?

Mưốn thành công khi xây dựng một cơ sở trồng dứa, chúng ta phải chú ý các mặt sau dây:

- Chọn những vùng có điều kiện đất đai và khi hậu phù hợp với yêu cẩu của cây dứa, nhất là về địa hình thuận lợi, cao và thoát nước, không bị ảnh hường của nước ngầm, không bị sương muối, lũ lụt phá hại. Cũng cẩn chú ý trống dứa trên những loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, đất xốp thoảng khí.

- Chuẩn bị vật tư nguyên liệu.

a. Con giống vả phân bón: phải chuẩn bị có con giống tốt (không bị sâu bệnh, rệp sáp). Chuẩn bị phương tiện để vận chuyển con giống đến nơi trổng. Các loại phân cần thiết cho một cơ sở trồng dứa gồm mấy loại chính sau đây: phân đạm (tốt nhất là đạm urê) hoặc đạm sunfut, phân kali (tốt nhất là kaii sunfat), phân lân (dạng supe lân), phân magiê (dạng magiê sunfat).

Ngoài ra cũng cần có vôi bột và một lượng khá lớn phân hữu cơ (phân chuồng hoặc phân xanh).

b. Chuẩn bị thuốc hóa học

-Thuốc trừ sâu bệnh dipptêrêt, Bi 58, Vôfatôc trừ rệp sáp

- CuSO4 + Vôi -> Boocđô, Simen và Ziram -> để trừ một số bệnh

- Thuốc trừ cỏ: dalapon, simazin, PCP urê, PCP natri và 2,4D…

- Chất kích thích và xử lý diệt nấm: đất đèn, NAA,HgCl2, T.M.T.D, …

c. Ngoài ra cần chuẩn bị các thiết bị báo hộ lao động: giày, ủng, găng tay, quẩn áo lao động để công nhân làm việc trong vườn dứa (nhất là những giống dứa có gai), Nếu có điểu kiện nên chuẩn bị cả giấy phủ cỏ (puiyêtylen) vả nguyên liệu che nắng cho quả khi chín.

12. Nên trống dứa theo kiểu mắt sàng hay trồng hàng kép?

Cây dứa có bộ rễ phát triển yếu, trung bình rộng 50-90 cm, ăn nông ở tầng đất mặt, tập trung trong phạm vi 10-30 cm (ở nơi tầng đất này có thể sâu hơn 70 -90cm). Vì vậy cho phép ta có thể trồng dứa dày trên hàng mà không có sự tranh cướp dinh dưỡng của nhau.Trổng dày còn có lợi là hạn chế được cỏ dại và nâng cao được sản lượng, cho nên trồng dứa theo hàng kép tốt hơn trồng dàn đều theo kiểu mắt sàng. Trồng hàng kép có ưu điểm hơn trồng theo kiểu mắt sàng ở chỗ:

-Mật độ cao hơn, thông thường hàng kép mặt độ có thể đạt được trên dưới 40.000 cây/ ha. Trong khi đó trồng theo kiểu mắt sàng chỉ đạt 13.000 – 15.000 cây/ha.

- Dễ chăm sóc, thu hoạch, thuận lợi cho việc cơ giới hóa các khâu (làm cỏ, bón phân, thu hoạch ...). Trồng theo kiểu mắt sàng không cơ giới được.

- Luân canh được thường xuyên: đối với cây dứa người ta thấy chu kỳ kình tế của nó ngắn, chỉ trong vòng 3 - 4 năm là phải trồng lại. Đã có nhiều tổng kết thấy rằng, ruộng đứa năm thứ hai kém năng suất năm đầu, càng về sau năm thứ ba, thứ tư năng suất càng giảm (mặc dù có được đầu tư chăm sóc như thế nào). Do đó chúng ta phải luân canh. Nếu trồng hàng kép thì có thể luân canh ngay tại ruộng (trổng dứa trên khoảng cách giữa hai hàng kép). Trồng mắt sàng không thể thực hiện được.

Do yêu cầu của cây dứa và chu kỳ kinh tế của nó ngắn, ngày nay nhiều nước trồng dứa chỉ để thu hai vụ, thậm chí có những nước chỉ trồng thu hoạch một vụ như cấy hàng năm. Trên những diện tích dó, người ta chủ trương tăng cao mật độ trên một đơn vị diện tích.

Các kiểu trồng dứa:

Số cây trên 1 ha =1000/(a x b)

Số cây trên 1 ha =2x 10000/a(b+c)

13. Mật độ dứa của ta so với mật độ dứa của các nước tiên tiến có gì khác nhau?

Mật độ trồng dứa có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất của dứa. Ở Hawai cứ tăng lên 2500 cây/ ha thì trọng lượng quả giảm đi trung bình 45g.

Ở Mactinic khi tăng từ 44.000 cây/ ha lên 55.000 cây/ha thấy trọng lượng quả giảm đi trung bình 218g, tăng thêm 11.000 cây nữa trọng lượng quả giảm đi 159g, nhưng sản lượng trên một đơn vị diện tích tăng lên.

Qua nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sản lượng và số lượng chồi cuống thấy: mật độ càng tăng trọng lượng quả càng giảm nhưng sản lượng càng tăng, còn số chồi lại giảm.

Ở ta nói chung mật độ dứa trồng còn khá thưa. Ví dụ dứa Sarawak thường trồng hàng đơn 12x 0,6 m (13.000 cây/ha) hoặc 1,5x0,6 (11.000 cây/ha).

Với dứa ta thường trồng kiểu mắt sàng hoặc ở một vài địa phương trồng kiều hàng kép (1,2x0,6) nhưng nhìn chung mật độ chưa đạt 20.000 cây/ha

Trong khi đó những nước có nghề trồng dứa phát triển, có năng suất dứa cao thường trồng mật độ trên dưới 40.000 cây/ha, ví dụ kiểu trồng ở Hawai:

a=0,3;  b=0,6;   c=1,2 mật độ khoảng 37.000 cây /ha

c=1,1          -        39,200
c=1,0          -        41,000
c=0,9          -        44,400

Kiểu trồng ở Ghinê

a=0,4;  b=0,3;   c=1,2 mật độ khoảng 33.300 cây /ha
c=1,1          -        35.700
c=1,0          -        38.500
c=0,9          -        41.700

Hiện nay đang thịnh hành khuynh hướng trồng dày, thường trồng mật độ 50.000 cây/ha để lấy quả to đóng hộp, trồng 60.000-70.000 cây/ha lấy quả trung bình xuất tươi.

Như thế ta thấy mật độ dứa của ta so với thế giới còn quá thấp, có những nước mật độ gấp 4-5 lần ở ta. Nếu chỉ tính trung bình một cây cho ta một quả nặng 1 kg thì trồng mật độ 70.000 cây/ha ta đã có năng suất 70 tấn/ha. Cho nên đối với dứa ta phải trồng dày hơn nữa. Ở ta tuy chưa có nhiều thí nghiệm, nhưng bước đầu những thí nghiệm về mật độ khác nhau ở Viện công nghiệp cho thấy: dứa ớ ta có thể trồng dày 30.000 cây/ ha. những công thức mật độ càng cao, năng suất cao hơn.

14. Lảm đất trồng dứa như thế nảo, mấy năm nên làm đất trồng lại

Đất trồng dứa được khai thác chủ yếu ớ vùng trung du và miền núi, do đó công việc đầu tiên lả dọn sạch và phát quang các cây bụi, đào sạch rễ tập trung lại đốt đi. Sau đó cày sâu toàn bộ 30 – 40 cm (càng sâu càng tốt).

Yêu cầu của đất trồng dứa là phải sạch cỏ, tơi xốp do đó có thể cày bừa kỹ, kết hợp phun thuốc trừ cỏ một vài lấn trước lúc trống dứa (một lần phun thuốc lại bừa đất).Các đổi có độ dốc nhỏ hơn 150 có thể trồng dứa theo đường vành nón, trồng hàng kép. Tốt nhất nên đào sâu thành rảnh 20 -30 cm rồi trồng dứa xuống rãnh này để tránh mưa xói mòn làm trơ gốc ra.

Nếu các đồi có độ dốc lớn hơn 20 – 250 nên làm ruộng bậc thang để trống.

Hiện nay có một số nơi trồng dứa xen với các cây như sẵn, chè, trẩu, sở…  nhưng có nhược điểm là không trồng theo đường đồng mức (đường vành nón) mà trồng hàng dọc vắt ngang qua đổi, do đó bị xói mòn, cây trơ gốc rễ ra, sinh trưởng yểu ớt, năng suất thấp và cây rất chóng cỗi.

Đối với cây dứa, sau trồng 3- 4 năm nên cày, bừa đất trồng lại, Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho biết; đối với giống dứa Cayen năm thứ hai để gốc không thể có năng suất bằng năm đầu, năm thứ ba không bằng năm thứ hai. Giống Spumsh năm thứ  hai cao hơn năm đầu, nhưng năm sau năng suất cùng giảm, vì thế ta phải trồng lại và nên luân canh.Trồng dứa độc canh sâu bệnh nhiểu, đất nghèo dinh dưỡng cho nên năng suất và phẩm chất kém.

15. Tại sao có giống dứa trồng ngoài nắng, lại có giống dứa cần cây che hóng?

Ở nơi nguyên (giữa các vĩ tuyến 150 và 300  nam và kinh tuyến 400 -600 tây, trong khu vực tứ giác đó gồm cá miền nam của Braxin, miền bắc Achentina và Paragoay) cây dứa vốn là cây ưa sáng . Vì vậy phần lớn các dạng trồng hiện nay đều mọc tốt, năng suất cao và phẩm chất tốt trong điều kiện đầy đủ ánh sáng. Ở những vùng ánh sáng yếu, số ngày mây quá nhiều sẽ làm dứa sinh trưởng chậm lại, quả bé, tỷ lệ đường thấp. Đây chính là nguyên nhân làm cho quả dứa dọt nắng ngọt hơn những quả dứa trong bóng dâm.

Các dạng dứa được trồng ở ta có dứa hoa và dứa Cayen vẫn giữ đặc điểm này ở nơi nguyên sản, thích hợp trong điều kiện dọi nắng. So sánh với những cây sinh trưởng trong bóng ta thấy cây dọi nắng sinh trưởng khỏe hơn, quả ngọt hơn. Tuy vậy vài giống Cayen khi quả chín nếu cường độ ánh sáng trực xạ quá mạnh để làm cho quả bị rám cẩn phải che cho quả.

Giống dứa ra (Spanish) có thể do quá trình trồng trọt lâu dài trong điều kiện bóng dâm ở ta mà nó đã thích nghi trồng trong bóng. Các dạng Spanish của thế giới vẫn trồng trong điểu kiện dọi nắng thấy tốt.hơn.

Qua điều tra thực tế các vùng trồng dứa, chúng tôi thấy dứa ta sinh trưởng rất tốt trong điều kiện có cây che bóng (đặc biệt dưới bóng các cây lim). Dưới bóng lim, ánh sáng phân bổ tương đối đều (ánh sáng tán xạ). Tầng lá của rừngg lim rụng xuống làm thành một lóp mùn đen khá dày, có hảm lượng dinh dưỡng cao, lại có độ chua phù hợp với yêu cấu cây dứa. Mặt khác có mổ do rễ cây lim tiết ra những chất độc, khống chế sự phát sinh cỏ dại (dưới rừng lim hẩu như không có cỏ). Ðấy có thể là những nguyên nhân làm cho dứa ta sinh trưởng và phát triển dưới tán rừng lim tốt hơn hẳn ở dưới các cây che bóng khác. Ngoài ra các cây khác như trám, màng tang, trẩu sở,…  cũng có thể làm cây che bóng cho dứa ta được. Dứa ta trồng dọi nắng cũng vẫn sống, nhưng sinh trưởng kém, quả nhỏ và dễ bị thối.