Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2018

Vị thuốc chữa bệnh của cây thị

Vị thuốc chữa bệnh của cây thị

Theo kinh nghiệm dân gian, hầu hết các bộ phận của cây thị đều có vị thuốc được dùng làm thuốc chữa bệnh rất tốt.


Cây thị có tên khoa học là diospyros decandra lour thuộc họ Thị Ebenaceae rất gần gũi với chúng ta, cây thị được trồng rải rác trong các vườn gia đình, nhất là ở đình chùa, miếu để lấy quả.

Quả thị đã được nghiên cứu dược lý trên giun đất bằng cách dùng 20g bột thịt quả thị phơi khô, tán nhỏ, chiết với 200ml nước, lấy liều vừa phải làm giun bị tê liệt, liều cao làm chết giun và liều càng cao, giun chết càng nhanh. Có giả thiết cho rằng tác dụng này do tamin glucosidic, dẫn chất pyrocatechic phlobaphen. Trên cơ sở đó, người ta thấy trẻ nhỏ ăn nhiều thịt quả thị chín vào sáng sớm lúc đói có ra giun, chủ yếu là giun kim, mặc dù quả thị chín ít được ăn tươi vì không ngon, lại sít răng làm răng cáu bẩn…

1. Mô tả cây thị

Thị là một cây gỗ, cao tới 5-6m. lá mọc so la, phiền lá hình thuôn, dài 5-8cm, rộng 2-4cm, dài, cuống dài 6-9mm, có phủ lông. hoa đa tính, họp thành xim, màu trắng. đài hợp ở gốc 4 răng, nhị 8-14. nhuỵ có 2 vòi. quả tròn hơi dẹp, đường kính 3-5cm, có 6-8 ngăn, khi chín màu vàng, mang đài tồn tại. hạt cứng, dẹt, dài 3cm, phôi sừng. mùi thơm hay khó chịu tuỳ theo người thích hay không thích.

Cây thị Được trồng khắp nơi ở Việt Nam, chủ yếu lấy quả ăn. quả hái về vào các tháng 8-9. ngoài ra người ta còn dùng lá tươi hay phơi khô làm thuốc. không cần có chế biến .

Quả thị: Có hai dạng đó là dạng quả hình cầu, đít tròn, thường được gọi là thị muộn và dạng quả nhỏ hơn hơi dẹt, đít bằng, có tên là thị sáp hay thị lục sáp. Quả thị có mùi thơm mát khi vừa chín tới, trong vỏ quả chứa một ít tinh dầu mùi gần giống mùi ester valerianic. Hương thơm này có tác dụng trấn tĩnh, giảm căng thẳng thần kinh, thư giãn. Đến khi quả đã chín rục, mềm nhũn và chuyển sang màu vàng sẫm thì mùi thơm giảm nhiều.

Vỏ quả chứa một ít tinh dầu gần giống mùi ête amyl valerianic. Thịt quả thị: theo kết quả phân tích của Peirier (1932) có 86,2% nước; 0,16% chất béo; 0,67% chất protit; 12% gluxit; 0,33% tanin; o,47% xenluloza; 0,50% tro.

2. Vị thuốc chữa bệnh của cây thị

Lá thị: Được dùng rất phổ biến để trị chứng táo bón, bụng anh ách căng đầy bạn chỉ cần lấy một nắm lá thị rải dưới chiếu rồi nằm lên chỉ sau 15 là có hiệu quả không ngờ, hoặc dùng lá thị tươi giã đắp làm mụn nhọt chóng vỡ mủ, hòa với rượu  rịt vào chữa viêm tinh hoàn (thiên trụy) …

Vỏ thị: Nhân dân thường lấy vỏ bằng cách khía quả thị thành 6 – 8 mảnh, bóc ra dán lên tường vách hoặc cột nhà cho khô, khi dùng mới gỡ xuống.

Hạt thị: Theo tài liệu nước ngoài, hạt thị ngâm nước trà, uống có tác dụng kích thích sinh trưởng, chống lão hóa, làm thuốc dưỡng da, làm cho da hết nhăn, trở nên căng phồng, hồng hào. Về sau, hạt thị trở thành vị thuốc “cung đình” để giữ sắc đẹp (theo sử sách đời nhà Đường, Trung Quốc).

Rễ thị: Thu hoạch quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa thu đông, rửa sạch, lột vỏ và chỉ lấy lớp vỏ trắng ở mặt trong, phơi hoặc sấy khô cất dùng dần.

3. Những bài thuốc vị thuốc chữa bệnh của cây thị

* Chữa sốt nóng, ngộ độc, nôn mửa hoặc ngâm rửa trị mẩn ngứa, lở loét: Lấy rễ thị chừng 30 – 50g thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.

* Trị táo bón, bụng anh ách căng đầy: Lấy lá thị rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, quấn hút (như hút thuốc lá) thấy dễ chịu ngay, trung tiện được, ngày làm vài lần.

* Chữa viêm tinh hoàn (thiên trụy): Lấy lá thị tươi giã nhỏ hòa với ít rượu rịt vào chỗ tinh hoàn đau, ngày 2 – 3 lần.

* Làm mụn nhọt chóng vỡ mủ:
Lấy lá thị tươi giã nhỏ đắp vào nơi mụn nhọt băng rịt lại, ngày 1 – 2 lần.

* Chữa bỏng lửa: Lấy lá thị phơi khô, giã nhỏ thành bột, tẩm nước rồi đắp vào nơi bị bỏng lửa.

* Chữa sâu quãng, lở loét: Lấy lá thị khô đốt thành than, rắc chữa sâu quãng, lở loét hoặc sắc lấy nước đặc rửa vết thương.

* Chữa dị ứng: Lấy lá thị 100g phối hợp với rễ cây ráy 50g thái nhỏ, phơi khô, nấu nước đến sôi, xông nơi bị dị ứng.

* Chữa phù thũng: Lấy lá thị, lá đu đủ, lá lộc mại và lá trầu không, mỗi thứ 50g, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày, kết hợp lấy lá tươi của 4 thứ với lượng như trên, giã nhỏ, gói bằng lá chuối đã dùi nhiều lỗ thủng, nướng chín, rồi rịt vào rốn, băng lại.

* Chữa giời leo (herpes): Lấy vỏ quả thị phơi khô, đốt thành than, hòa với dầu vừng hoặc mỡ lợn, bôi lên những vết phồng rộp chữa “giời leo” (một loại bệnh ngoài da).

Lưu ý khi trồng bòn bon

Lưu ý khi trồng bòn bon

Cây bòn bon ghép 2 tuổi được trồng trong hố kích thước khoảng 60 x 60 x 60 cm. Trong 1 hố trộn thêm 10kg phân hữu cơ hay phân chuồng hoai, sau đó tưới đẫm nước vào hố



Bòn bon (Lansium domesticum) có nguồn gốc từ vùng Tây Mã Lai, là dạng cây trung bình, mọc thẳng đứng cao khoảng 10-15 mét. Bòn bon cho trái kết chùm ở thân và cành, đây là loại cây ưa mát, ưa bóng râm do đó khi trồng nên trồng xen với cây ăn quả khác như măng cụt, chuối, sầu riêng, chôm chôm…

Cây bòn bon ghép 2 tuổi được trồng trong hố kích thước khoảng 60 x 60 x 60 cm. Trong 1 hố trộn thêm 10kg phân hữu cơ hay phân chuồng hoai, sau đó tưới đẫm nước vào hố. Tùy theo từng vùng sinh thái mà chuẩn bị hố trồng khác nhau và hố phải chuẩn bị trước khi trồng cây 20 ngày. Khi bón phân chuồng hoai, ta có thể trộn chung với 250g chế phẩm nấm Vi - ĐK (Trichoderma)/hố, loại nấm Trichoderma phát triển được trong đất sẽ hạn chế được các nấm gây bệnh thối rễ cây con của bòn bon cũng những cây ăn quả khác trong vườn.

Khi cây bắt đầu cho ra quả (khoảng năm thứ 10) thì cần tăng lượng phân bón NPK, sau đó bón ổn định làm 2 lần, một lần trước khi ra hoa và lần hai sau khi kết quả. Vào giai đoạn cho quả cũng có nhiều sâu bệnh quan trọng như thán thư trái, sâu đục quả nhện đỏ và rệp sáp. Tuy nhiên xử lý rệp sáp trên bòn bon rất khó bởi vì cây cho trái mọc thành chùm rất nhiều quả, rệp sáp lại thường sinh sôi ở những kẽ trái mà khi phun thuốc thường ít hiệu quả, khi đó bà con lại càng phun thuốc nhiều lần sẽ làm cho môi trường càng ô nhiễm và không an toàn cho người sử dụng, không đáp ứng được qui trình VIETGAP.

Khi rệp sáp sinh sôi nhiều trên chùm trái còn kéo theo nấm mồ hóng (muội đèn), làm giảm giá trị thương phẩm và người tiêu dùng cũng ngần ngại khi chọn mua sản phẩm. Do đó khi cây bắt đầu cho trái, chúng ta thường xuyên theo dõi vườn.

- Ghi chú ngày ra hoa (từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 3 tháng), ngày đậu trái.

- Ghi chú ngày phát hiện ra rệp sáp trong vườn.

- Ghi chú vị trí rệp sáp xuất hiện ở cơ quan nào trên cây (gốc, thân, cành, lá, trái).

- Nếu đã xuất hiện rệp sáp thì nên phun thuốc ngay, nhất là khi trái chưa đủ lớn để giao tiếp nhau lúc này phun thuốc rất dễ tiếp xúc với rệp sáp do đó hiệu quả thuốc sẽ nâng cao, hạn chế được việc phun thuốc kéo dài về sau.

- Ghi rõ tên hoạt chất thuốc, tên thương mại và ngày phun thuốc, cũng như lượng thuốc đã dùng.

- Theo dõi và ghi lại ngày rệp sáp bắt đầu chết, ngày nào rệp tái xuất hiện và cần phải xử lý lại.

- Thuốc trừ rệp sáp cây ăn trái có thể sử dụng: VIDIFEN 40 EC, VITHOXAM 350SC… khi phun thuốc nên chỉnh vòi phun mịn đảm bảo thuốc thấm đều trên cây.

- Khi phun cần phải lưu ý thời gian cách ly. Ví dụ thời gian cách ly của VITHOXAM 350SC là 7 ngày nhưng 6 - 7 ngày nữa cũng là ngày thu hoạch, vậy chúng ta không nên phun thuốc thêm nữa dù có rệp sáp phát sinh.

- Lưu ý khi thu hoạch tránh xây xát để vỏ trái không bị thâm đen.

Cách chuyển vị trí cây trồng lâu năm

Cách chuyển vị trí cây trồng lâu năm

Khi trồng cây cảnh, cây bóng mát, cây lâm nghiệp, cây ăn quả nhiều khi cần đào, đánh để chuyển vị trí các loại cây nhiều năm tuổi, có kích thước lớn sẽ được cây nhanh thu hoạch hoặc tạo thế cây lâu năm trong nghề trồng cây cảnh. Xin mách cách chuyển vị trí các loại cây có tỷ lệ sống cao.

Đào, đánh cây ăn quả, cây bóng mát, cây cảnh có 1-3 năm tuổi, đường kính gốc <10cm, chiều cao cây <4m: Với các loại cây dễ sống như cây si, đa, xanh, sấu, chám, keo, cam, chanh, quất, quýt…, gội (cắt bỏ) khoảng 2/3 tán cây, tưới đủ ẩm, đào sâu 30-40cm cắt các rễ ngang cách gốc 1-2m, cây càng to đào cách gốc càng xa, càng sâu. Khoảng 2 tháng cây hồi sức, trước khi ra lộc mới (có một vài nách lá nhú lộc dài <1cm) thì tiến hành đào chặt nốt rễ cọc, rễ cái rồi chuyển vị trí cây đi nơi khác. Trước khi chuyển vị trí cần chuẩn bị hố trồng có đường kính lớn hơn bầu cây định đánh khoảng 40-50cm, sâu hơn bầu cây định đánh 10-15cm. Đặt nhẹ nhàng bầu cây xuống hố, lấp đất nhỏ quanh bầu cho đầy khe hở, dùng chân nhẵm chặt xung quanh cách bầu 10cm, tưới đẫm 5-10lít nước/hốc lần đầu, tưới đủ ẩm trong 10-15 ngày cho cây bén rễ hồi xanh thuận lợi.

Đánh các loại cây to khó sống hơn như cây hồng, cây xoài, cây nhãn, vải, cách đánh như trên, đánh lần đầu vào tháng 11-12, đánh trồng vào tháng 2-3. Nếu đánh trồng vào các tháng 4-10 cần phải che nắng bằng cách rát bằng lưới đen tản nhiệt trong 20-30 ngày.

Đào đánh các loại cây lâu năm, có đường kính gốc 0,5-1m: Chủ yếu áp dụng cho các loại cây làm cảnh như: Lộc vừng, đa, si, xanh, cây sắn thuyền…Trước khi đào gốc cắt toàn bộ tán cây và thân chính cách gốc 1-3m tùy theo yêu cầu thẩm mỹ. Cắt toàn bộ rễ cái, rễ con cách gốc cây0,5cm, dùng cần cẩu hay người khênh để chuyển vị trí đến vườn ươm. Trát 1 lớp đất thịt, hay bùn ướt (không dùng bùn ở những ao tù có màu đen, mùi hôi tanh) dày 1cm, vùi gốc cây trong cát ẩm, che thân và gốc cây bằng nilon tản nhiệt màu đen trong 40-50 ngày ở vườn ươm, khi nào thấy thân cây nẩy lộc; các lộc (đọt) non chuyển thành lá bánh tẻ mới thôi.

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2018

Kinh nghiệm và kỹ thuật trồng gấc

Kinh nghiệm và kỹ thuật trồng gấc

Kinh nghiệm và kỹ thuật trồng gấc ở Đồng bằng Sông Cửu Long


Trước đây ở miền Nam, rất ít người biết đến cây gấc và công dụng của trái gấc. Từ sau ngày giải phóng, nhiều người quê miền Bắc vào định cư ở các tỉnh phía Nam mới đem gấc vào trồng. Đến nay, ở TP.Cần Thơ và một số nơi ở ĐBSCL đã có cơ sở chế biến trái gấc làm thực phẩm và thuốc. Để giúp bà con có thể trồng gấc trong vườn nhà, xin giới thiệu một số kinh nghiệm sau đây:

+ Thời vụ: Thời tiết ở Nam bộ luôn ấm áp nên cây gấc sinh trưởng, phát triển và cho trái quanh năm. Đa số bà con trồng gấc vào đầu mùa mưa (cuối tháng 3, đầu tháng 4 DL). Vào mùa mưa gấc sinh trưởng rất nhanh, chỉ sau 3 tháng là bắt đầu cho trái, thời gian thu hoạch trái kéo dài đến giữa mùa khô (tháng 12-1). Cuối mùa khô cây phát triển kém và cho trái nhỏ. Đến thời kỳ này bà con thường cắt gốc và chờ mùa mưa xuống cây gấc sẽ tái sinh.

+ Cách trồng: Gấc có thể trồng từ hạt, bằng thân cây hoặc để gốc tái sinh.

Trồng bằng hạt: Ươm hạt giống bằng hạt có tỷ lệ nẩy mầm cao nhưng nếu không biết cách chọn hạt giống thì tỷ lệ cây đực rất cao (có thể trên 50%). Theo những người có kinh nghiệm trồng gấc thì cần chọn trái lấy hạt ở những cây có trái to, sai trái, đợi cho trái chín đỏ hoàn toàn mới thu trái và nên để cho trái chín rực thêm vài ngày sau đó dùng tay bóp lấy hạt. Chọn những hạt có hình dạng tròn, đầy đặn sẽ cho tỷ lệ cây cái cao, những hạt có dạng nhỏ dài,cong queo, vặn vẹo thường là cây đực. Trước khi gieo thì cần chà rửa thật sạch lớp nhớt bọc quanh vỏ hạt để hạt dễ nẩy mầm hoặc ngâm hạt trong dung dịch acid sunfuric 10% trong một ngày cho vỏ hạt mềm gieo sẽ dễ nẩy mầm hơn. Chọn hạt giống tốt để gieo là cơ sở để có năng suất cao về sau. Sau khi xử lý ngâm nước có thể đem gieo hạt trực tiếp ở các hố đào. Một hố gieo 3–5 hạt sau đó tỉa để lại chừng 1–2 cây. Khi cây ra trái nếu có cây đực thì nhổ bỏ, mỗi hố cách nhau 4-5 m.

Trồng bằng cách giâm thân: Có thể nhân giống vô tính bằng cách giâm thân. Nên chọn đoạn cành bánh tẻ ở những cây gấc cho năng suất và chất lượng cao (sai quả, hình dáng quả đẹp, kích thước quả lớn). Chọn cành cây không quá già hoặc quá non để làm vật liệu trồng, cắt cành ra từng đoạn từ 20 – 40 cm, cành cắt xong nên giâm ngay hoặc xử lý bằng các dung dịch thuốc trừ nấm bệnh như Benlate C hoặc Rovral 2 – 4 phần ngàn, ngâm 5 – 10 phút để chống thối cành. Đặt dây, lấp đất để hở 2-3 đốt, tưới ẩm và đậy để bảo vệ, khi nào mầm gấc bắn lên, gấc bò thì làm giàn cho gấc leo. Một gốc gấc chăm sóc tốt và cân đối cần diện tích leo giàn khoảng 5-6 m2, tận dụng bờ rào, mái các công trình phụ cũng có thể trồng được gấc. Tưới đủ nước giữ ẩm và che bớt nắng bằng cách lấy rơm rạ phủ quanh gốc giâm, nơi giâm cành cũng cần thoát nước tốt.

Để gốc tái sinh: Gần cuối mùa khô, cắt gốc để lại 10-15cm, xới xáo quanh gốc, bón phân. Khi mưa xuống từ các mắt ở gốc gấc sẽ nảy mầm và phát triển thành cây cho năm sau.

+ Chăm sóc:

Cần làm giàn leo cho gấc: Có giàn gấc mới ra nhiều quả và đặc biệt cho leo ngang quả sẽ nhiều hơn. Tìm hướng cho hàng gấc để tránh gió, bão làm đổ, trên một đường thẳng theo hướng gió đã chọn, trồng những cây để làm cọc như tre, tận dụng các loại cây có sẵn như: Tràm, tre, bạch đàn làm cọc và giàn đỡ, chăng dây thép tạo thành các ô rộng 30 x 30 cm. Giàn tốt có thể giữ được từ 3 - 5 năm, cách làm giàn này đang được sử dụng rộng rãi.

Khi cây dài 30 - 40 cm, theo dõi  bắt ngọn leo vào giàn và thường xuyên bắt các ngọn phân tán đều trên giàn, thường xuyên kiểm tra các gốc, gốc nào có nhiều quả sau năm thứ nhất giữ lại. Cuối mùa hoa, cắt bớt các nhánh con không có hoa để tập trung nuôi quả. Thường xuyên làm cỏ, xới nhẹ đất quanh gốc cách gốc từ 25 - 30 cm để kích thích rễ phát triển.

- Bón phân: Bón lót mỗi gốc gấc 10-15 kg phân chuồng hoai mục. Khi cây được 25-30 ngày, dùng phân hỗn hợp NPK16-16-8 để bón cho gấc (mỗi hốc 0,5-1,0 kg) để cây sinh trưởng mạnh cho nhiều trái, trái to.

- Tưới và thoát nước: Cây gấc cần đất đủ ẩm nhưng rất sợ úng do đó phải tưới đủ nước khi khô và thoát nước ở gốc cây cho tốt. Cây gấc cần nước nhiều nhất ở giai đoạn ra hoa và phát triển trái, cần lấy rơm rạ hay bèo lục bình phủ kín gốc gấc nhằm giảm thiểu bốc hơi nước và cỏ mọc. Thiếu nước trong giai đoạn này sẽ làm hoa rụng, trái phát triển kém, năng suất thấp. Quanh gốc cũng cần làm rãnh để thoát nước khi mưa nhiều.

Phun chất kích thích tố NAA (Naphthalen Acetic Acid) phun ở nồng độ 25 - 100 ppm (phần triệu) trong giai đoạn cây còn nhỏ có 1 - 2 lá thật sẽ làm tăng số hoa cái trên cây.

- Thụ phấn nhân tạo: Gấc là loại cây đơn tính, thụ phấn chủ yếu nhờ gió, sâu bọ, ong bướm... để tăng năng suất tiến hành thụ phấn nhân tạo bằng cách dùng bông ướt lấy phấn trên đầu nhị của hoa đực bôi đều lên nhụy của hoa cái vào thời điểm hoa đực và hoa cái đã nở đều.

Chăm sóc tốt 1 gốc cho thu hàng tạ quả, sau thu quả, cắt dây để lại gốc, đến vụ gấc lại bắn mầm lên cây mới, cây vụ sau khoẻ và cho năng suất cao hơn vụ trước.

+ Sâu bệnh: Gấc là loại cây trồng có sức chống chịu tuyệt vời, chưa thấy sâu bệnh hại, chim chuột ít phá, thân lá gấc có mùi hôi nên trâu bò ít phá. Gấc không kén đất và chỉ cần một khoảng đất nhỏ đã có thể trồng được một gốc, một gốc có tuổi thọ 10-15 năm, đầu tư rất thấp, nhưng hiệu quả cao. Một số vùng trồng gấc xen với cây ăn trái , trồng tận dụng, hoặc trồng ở ruộng cao, bạc màu, làm cọc tre, chăng dây thép cho dây gấc leo, thu nhập cao gấp 2-3 lần trồng lúa.

Kỹ thuật trồng trám trắng

Kỹ thuật trồng trám trắng

Trám trắng là cây bản địa, đa mục đích, đ­ược nhân dân ta ­a chuộng. Là cây gỗ lớn. Trám trắng có thể cao 25 đến 30m, đ­ường kính ngang ngực 70-80cm, thân tròn thẳng, tán lá gọn và xanh quanh năm


1. Kỹ thuật hạt giống cây con.

Giống.

- Giống phải thu hái từ những cây đã có 2 mùa quả trở lên (9-10 tuổi), cây mẹ sinh trư­ởng tốt, phát triển cân đối, không bị sâu bệnh, cong queo.

- Quả trám trắng chín vào tháng 9-10. Khi thấy quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng mơ, ăn có vị chua ngọt, nhân hạt màu trắng mới thu hái. Không thu hái non ảnh hư­ởng đến chất lư­ợng cây con.

- Sau khi thu hái về, cần loại bỏ những quả kém phẩm chất, sau đó vun thành đống ủ trong 2-3 ngày. Ngâm quả vào n­ước nóng khoảng 60°C (2 sôi 3 lạnh) trong thùng có nắp đậy kín, sau 2-3 giờ vớt ra và tách lấy hạt, có thể đem gieo ngay hoặc bảo quản ẩm.

- Hạt chế biến xong cần bảo quản trong cát ẩm từ 5-8% hoặc bảo quản trong tủ lạnh có nhiệt độ ổn định 5°C.

V­ườn ­ươm: V­ườn ­ươm nên gần nơi trồng rừng và thuận tiện cho việc vận chuyển cây con. Mặt v­ườn cần bằng phẳng, thoát n­ước, rọi nắng và gần nguồn nư­ớc. V­ườn phải đặt xa nguồn bệnh và tách rời khu canh tác nông nghiệp.

Tạo bầu:

- Vỏ bầu đ­ược làm bằng PE màu trắng đục hay đen, bảo đảm độ bền để khi đóng bầu và vận chuyển không bị rách. Kích thư­ớc bầu 9x14cm, không đáy đục lỗ xung quanh để ­ươm cây 6-7 tháng và 12x18 cm có đáy như­ng cắt góc đục lỗ xung quanh cho cây ­ươm trong v­ườn 15-16 tháng.

- Thành phần ruột bầu gồm đất tầng A dư­ới tán rừng 90%, phân chuồng hoai 9% và Supe lân Lâm Thao 1%. Ba thành phần đ­ược trộn đều nhau.

- Bầu đư­ợc đóng đầy, chặt sau đó xếp thành luống rộng 0,8-1m, dài 5-10m, mặt bầu bằng phẳng. Các luống bầu đặt cách nhau 50-60cm để thuận tiện việc đi lại chăm sóc cây con. Xung quanh luống bầu lấp đất cao bằng 2/3 bầu, rải đất bột vào khe hở giữa các bầu.

Gieo ­ươm:

- Xử lý hạt: Ngâm hạt vào n­ước lã từ 10-12 giờ sau đó tiến hành ủ hạt. Chọn nền xi măng hoặc nền đất cứng ngoài trời, đổ 1 lớp hạt cát xuống d­ưới dày 5cm, tiếp đó rải 1-2 lớp hạt ở giữa sau đó đổ cát và san đều để cát lấp kín hết khe hở giữa các hạt trám, trên cùng rải 1 lớp cát dày 3-5cm và t­ới đẫm n­ước, dùng rơm rạ phủ lên trên để giữ ẩm. Sau 20 ngày hạt bắt đầu nảy mầm.

- Thời vụ gieo ­ươm thích hợp nhất là tháng 10-11 ngày sau khi thu hái và chế biến xong.

- Khi hạt đã nảy mầm áp dụng 1 trong 2 cách cấy cây như­ sau: để cho cây mọc khỏi mặt luống, khi lá đã xòa hết và màu lá đã chuyển từ vàng sang xanh thì nhổ lên đem cấy vào bầu, hoặc chọn những hạt đã nứt nanh đem cấy vào bầu, lấp kín đất dày 1cm và t­ưới nư­ớc cho đủ ẩm ngay sau khi cấy xong.

Chăm sóc cây:

- Giai đoạn cây con ở v­ườn ­ươm cần có dàn che bóng, mức độ che giảm dần theo tháng tuổi, 20 ngày đầu che bóng 100% sau đó giảm 50%, khi cây mầm đã có 1-2 lá thật (khoảng 40 ngày) thì giảm xuống 25%. Giỡ bỏ dàn tr­ước lúc trồng khoảng 1-1,5 tháng.

- Th­ường xuyên phải t­ưới nư­ớc đủ và định kỳ 20 ngày 1 lần làm cỏ phá váng cho cây con.

- Định kỳ bón thúc 1 tháng 1 lần bằng phân NPK tỷ lệ 2%, t­ới 3 lít/1m2, phải t­ưới rửa lá ngay sau khi t­ưới phân. Tuyệt đối không dùng đạm urê để tư­ới thúc cho cây.

- Thư­ờng xuyên quan sát để đề phòng nấm bệnh và sâu hại cây con. Nếu bị lở cổ rễ thì dùng Benlat nồng độ 0,03-0,05% phun đều lên luống và ngừng tư­ới nư­ớc. Nếu bị sâu ăn lá thì bắt bằng thủ công hoặc dùng thuốc Malathion nồng độ 0,1% phun 1 lít n­ước/5m2.

- Trong quá trình chăm sóc cây con ở vư­ờn ư­ơm cần tiến hành đảo bầu 2 lần, lầ 1 sau khi cấy 2 tháng và lần 2 tr­ớc lúc trồng 1-1,5 tháng.

Trồng rừng:

Vùng trồng: Trám có thể trồng được cả 3 miền Bắc, Trung Nam nơi có tính chất đất rừng, độ dày tầng đất trên 0,5m, thoát nư­ớc và nơi ít bị khô hạn.

Ph­ương thức trồng.

- Trám trắng có thể trồng hỗn giao với các loài cây bản địa khác và có sử dụng cây họ đậu che bóng 3-4 năm đầu. Kỹ thuật xử lý thực bì trong phư­ơng thức này là phát trắng lớp thực bì cũ, dọn sạch trên mặt đất sau đó thiết kế đào hố trồng rừng. Giữa 2 hàng cây chính gieo hoặc trồng 1 hàng cây phù trợ. Mật độ trồng là 1200-1600 cây/ha, trong đó trám trắng 50%.

- Trồng kết hợp với cây nông nghiệp trong 2-3 năm đầu.

- Trồng theo rạch ở những nơi thực bì là cây bụi, cây tái sinh có chiều cao bình quân d­ới 3m. Kỹ thuật xử lý thực bì là mở các rạch rộng 2m, trên rạch phát trắng, thiết kế trồng 1 hàng cây ở giữa. Mật độ 550-600 cây/ha.

Thời vụ trồng.

- Tùy theo từng vùng sinh thái khác nhau nh­ng trám trắng có thể trồng đ­ược cả 3 vụ xuân hè từ tháng 2 - tháng 4 và hè thu từ tháng 5 - tháng 8.

Hố trồng:

Kích thư­ớc: 40x40x40cm, hố phải cuốc tr­ước khi trồng 1-1,5 tháng, lấp hố sau khi cuốc 15 ngày. Hố lấp phải đầy, ở giữa cao hơn hỗ 3-5cm.

2. Trồng cây:

Trồng bằng cây có bầu đ­ược ­ươm tại vư­ờn có tuổi từ 7-9 tháng hoặc 15-16 tháng. Tiêu chuẩn cây con loại 7-9 tháng có chiều cao 40-60cm, đ­ường kính cổ rễ lớn hơn 0,45cm, loại cây 15-16 tháng có chiều cao bình quân 70-100cm và đ­ường kính cổ rễ lớn hơn 0,7cm, cây sinh tr­ưởng bình thư­ờng không sâu bệnh hoặc cụt ngọn.

3. Chăm sóc và bảo vệ rừng non:

Sau khi trồng cần chăm sóc tiếp 4 năm liền.

- Năm thứ nhất, thứ hai và thứ ba mỗi năm chăm sóc 3 lần: 2 lần phát và xới quanh gốc, 1 lần phát quang cỏ dại và cây bụi chèn ép cây trồng, kết hợp điều chỉnh cây phù trợ không cho cây phù trợ che bóng ngọn Trám trắng.

- Năm thứ tư­: chăm sóc 2 lần gồm 1 lần phát, xới quanh gốc và 1 lần phát quang.

- Trong ph­ương thức nông lâm kết hợp việc chăm sóc chủ yếu là kết hợp lúc chăm sóc cây nông nghiệp.

Bảo vệ và phòng trừ sâu bệnh:

- Rừng trồng cần đ­ược bảo vệ nghiêm ngặt không chăn thả trâu, bò, dê trong khu vực rừng trồng.

- Khi phát hiện có sâu bệnh cần báo với cơ quan chuyên môn để có biện pháp phòng trừ kịp thời.

Kinh nghiệm chống rụng hoa, quả non ở cây ăn quả

Kinh nghiệm chống rụng hoa, quả non ở cây ăn quả

Để hạn chế hiện tượng rụng hoa, quả non ta cần chú ý một số điểm sau đây


Trước khi cây ra hoa, phải đảm bảo đủ nước và đủ chất dinh dưỡng cho cây (lưu ý cây bắt đầu ra hoa không được tưới nước và bón phân nữa, nhất là các loại phân hóa học). Khi hoa đã nở xong, đã có quả nhỏ cây lại cần được tưới nước, bón phân, thời kỳ này là bón phân qua lá, phun lên lá, lên quả non hợp chất kích phát tố, kích thích sinh trưởng, bổ xung chất dinh dưỡng cho cây.

Để cây đậu quả nhiều, ngoài những điểm chú ý trên ta nên phun các hợp chất (gọi chung là thuốc đậu quả) rất sẵn có bán trên thị trường. Nhưng qua sử dụng thấy 2 loại hợp chất có tác dụng tốt là hợp chất CRT và hợp chất Thiên Hải Ngọc, có hướng dẫn thành phần cấu tạo, công dụng, nồng độ, cách sử dụng. Có loại hợp chất được pha chế ở dạng lỏng, chứa trong lọ nhựa, có loại đóng túi nilon (đã có hướng dẫn cách sử dụng cụ thể trên bao bì), nhưng nhìn chung 1 lọ nhựa 10ml, hay một gói bột nhỏ thường hòa tan với 8-10 lít nước, phun dưới dạng sương mù trên quả non, hay trên hoa đã đổ nhụy, chỉ cần phun một lần, nếu có thấy quả non rụng thì mới phải phun lại.

Sau khi phun thuốc đậu quả có thể quả đạt nhiều, nên bón thêm phân ở gốc cây, tốt nhất ở thời kỳ này là phân N.P.K, bón phân xong cần tưới nước cho phân tan dần, ngấm vào rễ dưới gốc cây.

Riêng với nhãn, vải, nên phun 3 lần, lần 1 sau khi hoa tắt đã đỗ quả, lần 2 khi thấy có quả non rụng, lần 3 phun trước khi hái quả khoảng 2 tuần và kết hợp phun thuốc trừ nấm bệnh và côn trùng (nhất là bọ xít)

Làm đúng như kinh nghiệm trên, chắc chắn vườn cây trái sẽ đậu quả nhiều hơn, quả sẽ to đẹp hơn, chất lượng tốt hơn.

Kỹ thuật ghép một số loại cây ăn quả

Kỹ thuật ghép một số loại cây ăn quả

Lấy cành ghép vào mùa Xuân và Thu, cành 1 tuổi khoẻ, không sâu bệnh. Cắt sành xong phải bó ngay giữ ẩm và tiến hành ghép càng sớm càng tốt.

1. Cam quýt

Trồng và tuyển chọn gốc ghép.

1- Quýt hôi là gốc ghép cho quýt ngọt. Cây ghép có tán thấp, mau ra quả, năng suất cao, phẩm chất tốt, chịu lạnh, chịu hạn, chống bệnh thối gốc.

2- Quýt hồng (Phúc Kiến) là gốc ghép cho quýt Phúc Kiến, cam. Phát triển khỏe chịu lạnh, chịu hạn, năng suất cao, chậm ra quả.

3- Quýt chua thích hợp cho quýt Phúc Kiến. Phát triển trung bình, bộ rễ khỏe, thích ứng với nhiều loại đất, năng suất cao.

4- Bưởi rất thích hợp cho bưởi Văn Đán, bưởi Bình Sơn, quýt ngọt, sinh trưởng nhanh, chịu đất kiềm, khả năng thích ứng cao.

Thời gian thu hạt: Từ tháng 8 đến tháng 12. Hạt phải rửa ngay bằng nước sạch, chọn hạt mập, để nơi râm mát, thoáng. Phơi dưới nắng nhẹ trong vài giờ.

Trước khi gieo nên ngâm trong nước 45°C khoảng 10 phút, sau ngâm trong nước 56°C trong 50 phút (luôn giữ 56°C). Không được ngâm hạt non, hạt chưa phơi trong bóng râm vào nước 56°C.

Gieo vào mùa Xuân, mùa Thu. Gieo vãi vào mặt đất làm kỹ và lên luống, lấp đất bột 1-1,5cm rồi phủ rác khô. Khi cây nhú 50-60% thì bỏ rác. Tưới đều và sau tưới nước giải pha loãng.

Mùa Xuân và Thu có thể di dời cây con để trồng với khoảng cách 17x23cm, tức là cứ 1m2 trồng 25-26 cây.

Lấy cành ghép vào mùa Xuân và Thu, cành 1 tuổi khoẻ, không sâu bệnh. Cắt sành xong phải bó ngay giữ ẩm và tiến hành ghép càng sớm càng tốt.

Phương pháp ghép: Ghép áp mầm đơn, ghép bụng mầm đơn, ghép phiến mầm. Do hình cam quýt có hình ba cạnh nên khi cắt cành ghép cần chọn phần cành rộng, bằng để cắt mặt cắt dài của cành ghép.

Chăm sóc sau khi ghép.

Kiểm tra tỷ lệ ghép sống: sau khi ghép 25-20 ngày thì kiểm tra ghép bổ sung; những cây ghép có mầm ghép biến màu nâu xám, khô thì tiến hành ghép lại; những cây mắt ghép sống thì tiến hành cắt ngọn gốc ghép cách mầm ghép 1-1,5cm cưa nghiêng 30-45°C. Khi mầm ghép phát triển, phải cắt hết mầm ở góc cây ghép.

Khi cây non phát triển đến độ cao nhất định thì cắt ngọn để cố định thân, cắt ngọn ở độ cao 25-30cm, đồng thời bỏ các cành mọc không cần thiết. Khi các cành dài 6-8cm thì chọn các cành khỏe để làm cành chính.
Tiến hành tưới, bón và trừ sâu.

2. Nhãn


Trồng cây gốc ghép: thu giống gốc ghép ở những cây khỏe, khả năng thích ứng cao, hạt mẩy. Thu hạt trước và sau Bạch Lộ. Hạt cần được rửa nhẹ và để sạch cùi và có thể gieo ngay, không nên phơi hạt và để lâu quá một tuần. Trước khi gieo có thể trộn hạt với cát mịn chứa 5% nước, có nhiệt độ 25°C để thúc mầm. Sau 3-5 ngày, phôi mầm nhú 0,5-1cm thì đem gieo. Giống gốc ghép cho nhãn là nhãn. Gieo hạt theo hốc cách nhau 20-25cm, cần làm cho hạt chìm sâu xuống đất. Sau đó rải đất nung, cát mịn lên trên, phủ rơm rác thô.

Khi hạt nảy mầm nhú lên thì dần dần dỡ bỏ rơm rác đi. Lúc cây có 4 lá thật thì tưới nước phân pha loãng 2 lần 1 tháng, đồng thời dùng dao sắc cắt rễ cọc cách thân 3,5-4cm, để rễ nhánh phát triển. Năm sau, vào thời gian tiết Thanh minh tới Cốc vụ, khi các cành đã chắc thì có thể di dời đi trồng với mật độ 20x30cm/1 cây. Tưới liên tục trong 7-10 ngày. Sau đó chăm sóc 1-2 năm và tiến hành ghép.

Cành ghép có đường kính 1-1,5cm có vỏ màu hồng, là khúc giữa của cành 1-2 tuổi. Trước khi ghép 20-30 ngày, tiến hành cắt khoanh vỏ tại phần gốc của cành ghép, cắt bớt ngọn, bỏ hoa để tăng cường tích lũy trong cành ghép các chất dinh dưỡng dự trữ.

Thời gian và cách ghép: dùng cách ghép phiến mầm, ghép hình lưỡi, ghép áp, ghép bụng, ghép chắc, ghép nêm.

Ghép hình lưỡi vào mùa Xuân, ghép cách mặt đất 40cm. Mỗi đoạn ghép dài 4-5cm có 2 mắt mầm.

Ghép phiến mầm từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 10, thích hợp nhất là tháng 4 tháng 6, 9. Vị trí ghép cao 10-20cm. Miệng ghép rộng 0,8-1,2cm, dài 3-4cm. Phiến mầm nhỏ hơn và tách bỏ phần gỗ. Buộc để lộ mầm.

Ghép nêm vào giữa mùa Xuân đến đầu mùa Hạ, tốt nhất là khoảng từ tiết Thanh minh đến Cốc vụ. Cắt cây gốc ghép cao 1m hoặc có thể ghép ở nhiều cành chính nếu là cây to. Nếu ghép ở nhiều cành thì cần giữ 1 cành ở nơi thấp hơn để điều tiết nước.

Khi ghép phải cắt phẳng gốc ghép, dùng cưa tay cưa 1 đến 4 nhát tại miệng cắt, trong rộng ngoài hẹp có hình mãng lõm. Dùng dao cắt phẳng hai bên. Hình nêm rộng 1cm dài 5-7cm, phần trên ăn sâu vào gỗ 2-3cm. Cành ghép dài 10-12cm sau khi ghép bao bọc bằng mảnh nilon rộng 3cm dài 0,5-0,7m và buộc lại bằng dây nilon.

Chăm sóc: Nếu ghép hình lưỡi thì sau 15-40 ngày, cành ghép phát triển, cần cắt bỏ các cành dại ở gốc ghép. Nếu ghép không sống, cần ghép bổ sung ngay.

Ghép phiến mầm thì sau 30-40 ngày, nếu ghép sống, mới có thể cởi bỏ nilon. Sau một tuần nữa, đã chắc chắn ghép sống thì cắt gốc ghép ở phía trên vị trí ghép 3-4cm. Tiến hành chăm sóc, bón phân và cắt bỏ các mầm dại để cây tập trung nuôi phần ghép.

3. Cây vải

Trồng gốc ghép. Cây gốc ghép cho vải tốt nhất là cây cùng họ (vải chua...), lấy hạt chín già. Rửa sạch nhẹ nhàng, chọn hạt mẩy rồi đem gieo; có thể ủ thúc mầm trong các ẩm.

Làm luống đất, bón lót. Luống rộng 1m, cao 20-25cm rãnh rộng 30cm gieo theo rạch cách nhau 20-25cm hoặc gieo thời vụ cách nhau 10cm. Lấp đất bột và phủ rơm rác khô.

Chăm sóc đầy đủ để cây mọc khỏe, mập

Sau khi gieo 1-2 tuần, mầm cao 10cm, cần tỉa mầm yếu. Sau 2 tháng, đối với cây có cành, cần điều chỉnh khoảng cách giữa các cây non. Nếu di dời đi trồng, thì khoảng cách giữa các cây là 20-25cm. Cắt bỏ bớt lá, chỉ để một số lá ở đỉnh cây. Tưới và che mát cho cây. Khi cây có đường kính ở gốc từ 0,8cm trở lên, thì có thể tiến hành ghép.

Cành ghép chọn ở cây có nhiều ưu điểm, ở đó lấy cành 1-2 năm tuổi, có gỗ, mầm khỏe, vỏ trơn, độ lớn tương ứng với gốc ghép. Nếu cây gốc ghép to, có thể chọn cành ghép 2-3 năm tuổi. Ghép trên cây to có thể lấy cành của cây 3-4 năm tuổi. Trước khi ghép 2-3 tuần, có thể cắt khoanh vỏ ở phần gốc cành ghép để tập trung dinh dưỡng cho phần cành ghép.

Phương pháp và thời gian ghép. Thường dùng cách ghép mầm và ghép cành cho vải và ghép vào tháng 4, 5 và tháng 9, 10 khi vỏ gốc ghép dễ tách vỏ.

Các thao tác ghép phải nhanh, chính xác để giảm thiểu sự oxy hóa ta-nanh tại miệng vết thương. Đảm bảo đủ ẩm cho vết ghép, do đó phải buộc kín cành ghép và miệng ghép, có thể dùng sáp bôi lên cành ghép, nên buộc thêm một lớp giấy bên ngoài để che nắng.

Chăm sóc gồm cắt cây cây gốc ghép (nếu mắt ghép sống) hoặc ghép bổ sung (nếu mắt ghép không sống). Khi cây non mọc 30cm thì ngắt ngọn, giữ lại 3-5 cành để nuôi thành cành chính. Cây vải non 1 năm tuổi có thể có 4-5 cành. Cần bón phân khi cây non ra cành mới. Tiến hành phun thuốc trừ sâu bệnh khi cần thiết.



Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2018

Kỹ thuật trồng cây Dâu Tây

Kỹ thuật trồng cây Dâu Tây

Cây dâu đòi hỏi ánh sáng dồi dào thì mới sinh trưởng mạnh, thiếu ánh sáng thường ảnh hưởng đến khả năng ra hoa kết quả. Am độkhông khí cao và mưa kéo dài thường xuất hiện bệnh cây.


Dâu tây thích hợp với các loại đất thịt nhẹ, hàm lượng chất hữu cơ cao, đất ấm, giữ ẩm nhưng thoát nước tốt. Nếu đất giàu chất hữu cơ cây dâu tây sẽ phát triển tốt, năng suất cao và kéo dài thời gian thu hoạch quả. Độ ẩm cần thiết trên 4%, độ pH thích hợp từ 6-7.

Dâu tây thích hợp với khí hậu mát lạnh. Nhiệt độ phù hợp cho cây dâu từ 18-22°C. Đặc biệt là nhiệt độ ngày đêm cao sẽ tạo điều kiện để tăng năng suất và chất lượng trái.

Cây dâu đòi hỏi ánh sáng dồi dào thì mới sinh trưởng mạnh, thiếu ánh sáng thường ảnh hưởng đến khả năng ra hoa kết quả. Am độkhông khí cao và mưa kéo dài thường xuất hiện bệnh cây.

KỸ THUẬT LÀM ĐẤT, LÊN LUỐNG:

Chọn đất thịt nhẹ, vùng cao ráo, thoát nước tốt. Cây dâu tây là đối tượng của sâu bệnh khá phong phú. Anh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng trái khi thu hoạch, do đó biện pháp chọn đất, làm đất, xử lý đat cần phải chú trọng đúng mức để hạn chế nguồn bệnh ban đầu lây lan từ đất.

· Vệ sinh đồng ruộng thu dọn tất cả tàn dư cây trồng, cỏ dại.

· Làm đất và xử lý vôi 100 kg/1.000m2 và các loại thuốc sâu, thuốc bệnh.

· Bón lót các loại phân.

Luống trồng:


· Luống cao 20 – 25 cm ở vùng đất thấp.

· Luống cao 15 – 20 cm ở vùng đất cao.

Trồng trong nhà nilông: Trồng hàng 3, rò rãnh 1,2m – 1,3m; cây x cây: 35 – 40 cm.

Trồng ngoài trời: Trồng hàng 3 (kiểu nanh sấu), rò rảnh 1,2m – 1,3m, cây x cây: 40 – 45 cm (tùy thuộc vào giống, đất và điều kiện thâm canh). Với điều kiện khí hậu Đà Lạt nếu trồng mật độ dày sẽ dễ phát triển bệnh cây.

PHÂN BÓN:

Cây dâu đòi hỏi dinh dưỡng nay đủ và cân đối. Ngoài NPK, cần quan tâm đến nhóm trung lượng, vi lượng vì nó quyết định quan trọng đến chất lượng và khả năng kháng bệnh của cây dâu. Thâm canh cây dâu đòi hỏi phải bón phân đầy đủ phân hữu cơ để bảo đảm lượng mùn trong đất cao ( 8% - 10%) trong điều kiện thuộc đất Đà Lạt thuộc diện nghèo mùn.

Phân hữ cơ sử dụng cho cây dâu cần phải ủ nóng và xử lý thuốc nấm bệnh và đạt yêu cầu hoai mục trứớc khi sử dụng để tránh lây lan nguồn sâu bệnh và cỏ dại.

Bón phân đạm cho cây dâu cần chú ý đến màu sắc của lá thời kỳ, tốc độ sinhtrưởng phát dục để điiều chỉnh liều lượng tăng hay giảm thích hợp.

Phân lân ảnh hưởng đến khả năng ra hoa, đậu trái, phát triển hệ rễ và ra ngó(mạ) của cây dâu.

Phân Kali quyết định về năng suất, trọng lượng độ cứng, chất lượng trái. Khả năng kháng bệnh của cây dâu và tăng cường quang hợp trong điều kiện thiếu ánh sáng trong vụ hè thu, nhất là canh tác trong nhà nilông (cây dâu yêu cầu ánh sáng dồi dào).

Canxi, Bo, Magiê  ảnh hưởng quang trọng đếnchất lượng trái. Canxi còn tạo điều kiện cho sự hấp thụ dinh dưỡng được điều hòa vả hạn che một số bệnh sinh lý trên trái.

Bo ảnh hưởng đến khả năng phân hóa mầm hoa, đậu hoa, chất lượng vàkể cà độ cứng của trái.

Lượng phân đề nghị bón cho cây dâu 1.000m2 (bìnhquân) trong năm thứ nhất (kiến thiết cơ bản và định hình).

· Bón vôi 2 đợt/năm:

- Đợt 1: Bón lót 100 kg.

- Đợt 2: 06 tháng sau khi trồng bón bổ sung 50 kg.

· Lượng phân định kỳ bón năm thứ nhất là 10 lần/năm, nếu 02 tháng bón 01 lần thì sử dụng lượng gấp đôi. Nếu sử dụng phân đơn thì mỗi đợt bón phân định kỳ có thể bón 10 kg ure, 08 kg kali sunphat và 06 kg supper lân, thay phân hỗn hợp. Sử dụng Acid Boric và MgSO4 phun xịt định kỳ qua lá.

· Chu kỳ kinh doanh của cây dâu thu hoạch trái kéo dài đến 02 năm hay hơn. Nếu dâu tây trên 01 năm tuổi chức năng sinh lý của rễ kém ảnh hưởng đến hấp thụ dưỡng liệu, do đó nên bổ sung phân qua lá. Đa dạng: đa vi lượng, đa trung lượng định kỳ 10-15 ngày xịt 01 lần.

· Bón phân cho dâu theo nguyên tắc bón ít nhưng bón nhiều lần trong năm. Lượng phân theo khuyến cáo như trên đối với bón định kỳ có thể tăng hay giảm tùy thuộc vào sức sinh trưởng, phát dục, giai đoạn bội thu, chu kỳ ra trái của cây dâu.

Thu hoạch và bảo quản dâu tây

Thu hoạch và bảo quản dâu tây

Cách bảo quản quả dâu tây sau khi đã thu hoạch trên ruộng về


1. Thu hoạch


- Khi thị trường gần, thu hoạch khi 75 % quả đỏ hoặc hồng.

- Khi thị trường xa, thu hoạch khi 20-40% quả đỏ hoặc hồng. .

- Một biểu hiện khác của qu gần chín là khi thu hoạch tai qu cong lên, da bóng có mùi thm đặc biệt.

- Thu hái vào lúc trời mát, ráo sương, thường từ 8-10 giờ sáng hoặc sau 3 giờ chiều.

- Không để nơi có ánh nắng lọt vào, dùng lá dâu phủ lên rổ chứa qu.

- Dùng ngón tay bấm nhẹ cuống qu để vào các rồ nhỏ sạch, kết hợp phân loại sau đó dồn chung vào rổ to chừng 20 kg, có lót và phủ lá dâu bên trên.

2. Phân loại

Loại l: Quả to đẹp, không sâu bệnh, không dập nát.

Loại 2: Quả vừa đẹp, không sâu bệnh, không dập nát.

Loại 3: Quả nhỏ, sâu, dập nát, quả quá chín.

3. Đóng gói và vận chuyển

-Dâu tây được đóng gói trong những hộp carton nhỏ nông, hoặc giỏ nông có lót lá. Trong khi vận chuyền, những hộp hoặc giỏ nhỏ được xếp vào giỏ lớn, cũng nông.

-Lớp quả ờ đáy hộp xếp cuống quả quay xuống dưới, các lớp giữa thì để nằm ngang đấu cuống vào nhau.

- Khi vận chuyền không để chồng hộp vào nhau. Trên xe có giá gỗ để hộp được thông thoáng và vận chuyển khi trời mát hoặc ban đêm.

4. Bảo quản


Quả dâu mọng dễ dập nát vì vậy nếu không bán được trong ngày thì phải chế biến làm rượu hay mứt.

5. Cách làm si rô dâu

- 3-4 kg dâu tươi, nhặt cuống, rửa sạch, đề ráo.

- Trộn đều với 1kg vòng trắng. Bỏ vào thấu đề nơi thoáng mát.

- Sau 3-5 ngày (tại Đà Lạt), khi đã lên men xong, các trái nổi lên. Đem lọc qua vải mùng được si rô hay cocktail.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc vườn lê

Kỹ thuật trồng và chăm sóc vườn lê

Khi trồng, cuốc 1 hốc vừa bằng bầu cây ở chính giữa hố, mặt bầu đặt cao hơn mặt hố 5-6cm, chèn đất chặt xung quanh, tưới đẫm nước. Tuần đầu, nếu không mưa thì tưới hàng ngày, sau đó vài ngày tưới 1 lần tùy theo thời tiết.


Thời vụ trồng thích hợp với cây lê từ tháng 2 - 4, nếu trời ấm có thể trồng từ tháng 1.

Đất trồng lê được cày sâu 25 - 30cm, hố được chuẩn bị trước 1 đến 2 tháng, kích thước hố 50 x 50 x 60cm, bón lót 30 - 40 kg phân chuồng hoai, 1 kg super lân, 0,2 kg vôi bột, 0,1kg kali. Trộn đều phân với đất mặt và lấp đầy hố. Hố đào cách nhau 5 x 5m hoặc 5 x 7m

Khi trồng, cuốc 1 hốc vừa bằng bầu cây ở chính giữa hố, mặt bầu đặt cao hơn mặt hố 5-6cm, chèn đất chặt xung quanh, tưới đẫm nước. Tùy theo địa hình mà trồng thẳng cả hàng dọc và hàng ngang. Tuần đầu, nếu không mưa thì tưới hàng ngày, sau đó vài ngày tưới 1 lần tùy theo thời tiết.

Năm đầu bón thúc 0,3 - 0,4kg urê cho 1 cây. Từ năm thứ 2 đến khi cây có hoa bói, bón hàng năm cho 1 cây 20 - 30 kg phân chuồng, 1 kg super lân, 0,7kg ure, 0,5kg kali vào đầu năm. Khi cây cho thu hoạch hàng năm bón cho 1 cây 30 - 40kg phân chuồng, 1,5 super lân, 1 kg ure, 1kg kali và chia ra làm 2 lần: đón hoa và sau thu hoạch.

Những năm đầu, cần thường xuyên tạo tán cho cây lên, để cây có tán tròn, các cành hướng về các phía, cân đối.

Loại bỏ các cành vô hiệu, các cành tăm, cành ở giữa khung tán. Kịp thời cắt bỏ những chồi dại mọc từ gốc ghép, các cành vượt ở thân chính.

Hàng năm, khi cây lê trút hết lá để qua đông, cần tiến hành các biện pháp vệ sinh cho vườn lê. Cắt bỏ các cành khô, cành bị sâu bệnh. Thu dọn các cành lá sâu bệnh để đốt.

Quan sát trên thân và cành lớn, nếu có dấu hiệu sâu đục thân, đục cành, gặm vỏ thì khoét rộng lỗ đục của sâu để bơm thuốc hoặc luồn dây kẽm diệt sâu.

Bới lớp đất xung quanh gốc để phát hiện nấm bệnh hại vỏ ở cổ rễ. Nếu có thì dùng dao sắc gọt vỏ và quét Boóc đô đặc 10% hoặc phun Aliette.

Trong quá trình sinh trưởng, cây lê thường bị sâu ăn lá, sâu cuốn lá, sâu đục quả, đục thân. Đối với các loại côn trùng này có thể phun Padan 25SP pha 0,05 - 0,1%, hoặc ofatox 50EC pha 0,05%. Cây lê có thể bị các loại rệp muội, rệp sáp, rệp vảy vỏ và nhện đỏ hại lá, có thể phun supracid 20EC pha 0,1% hoặc selecron 500ND pha 0,1%

Các loại bệnh hại lá và quả lê có nấm gây đốm xám hoặc nấm phấn trắng... cần phun tilt super 300ND pha 0,1%. Trên cành to và thân nếu có hiện tượng chảy nhựa thì cạo sạch vết bệnh và xử lý bằng aliette 80WP pha 0,2%.

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2018

Quả Trâm mốc hạ đường huyết

Quả Trâm mốc hạ đường huyết

Cây trâm có tên khoa học là Syzygium cumini, là loại cây gỗ lớn, cao đến khoảng 10m, nhánh cây có màu trắng mốc nên có nơi còn gọi là trâm mốc.


Cây có lá đơn, mọc đối, phiến nguyên hình bầu dục, đầu tù, gân phụ nhiều cách nhau 4- 6mm. Hoa tạo thành chùm, kéo dài 5cm, ở nách lá rụng, đài hình đĩa không răng, 4 – 5 cánh hoa, dính thành chóp và cùng rụng, bầu nhụy 2 buồng, cọng có đốt ở đáy.

Trái phát triển vào tháng 6 hay tháng 7 và hình dáng là những quả nạc, trái trâm hình bầu dục, màu xanh lúc bắt đầu, trổ sang màu hồng và cuối cùng màu tím đen bóng khi trưởng thành, chín mùi có vị chua, chát, ngọt…

Theo các thầy thuốc, trái trâm có chứa nhiều chất anthocyanine, giàu chất vitamin A và giàu vitamin C, giúp tiêu hóa tốt, hạ thấp đường huyết, trị tiêu chảy, giảm kích thích thần kinh dạ dày và thần kinh trung ương, hạn chế tiết dịch vị, chữa ợ chua, viêm dạ dày…

Lá trâm mốc chứa nhiều tanin dễ tiêu và được dùng nấu nước uống như trà, có lợi cho bệnh nhân tiểu đường…

Chăm sóc cho cây ăn trái trong mùa mưa

Chăm sóc cho cây ăn trái trong mùa mưa

Cây ăn trái lâu năm nếu chăm sóc theo cách truyền thống đều sinh trưởng mạnh và cho trái trong mùa mưa


Tuy vậy cũng có những loại cây ăn trái cho trái quanh năm như chuối, dừa, đu đủ…Đối với những cây ăn trái theo mùa mưa nhưng áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp có thể giúp cây ra hoa đậu trái sớm hoặc ra trái vụ.


Theo PGS.TS Trần Văn Hâu – Trường ĐH Cần Thơ, vào đầu mùa mưa, cây ăn trái thường phát đọt mạnh, song rễ cây lại yếu do mưa nhiều làm đất yếm khí, khả khăng hút bón phân trước khi vào mùa mưa. Mặt khác mùa mưa cũng làm sâu bệnh dễ bộc phát, do đó cần bón các loại phân có tỷ lệ dinh dưỡng cân đối như NPK 16-16-16 Đầu Trâu hoặc NPK 20-20-15 Đầu Trâu +kali. Đối với những cây ra trái theo mùa cần bón phân theo thời kỳ sinh trưởng phát triển mới đem lại hiệu quả.

Giải đáp một số câu hỏi của nông dân về hiện tượng vàng lá, thối rễ trong mùa mưa hay cây cam sành mang trái sắp thu hoạch nhưng bón phân không những làm cây không phát triển mà còn bị rụng trái, vàng lá, TS. Nguyễn Văn Hòa – Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam cho rằng có thể do vườn cây ăn trái bị bệnh vàng lá thối rễ. Do vậy trước khi bón phân cần phải xử lý bệnh bằng cách xẽ rảnh để tiêu thoát nước, chống đọng nước, đồng thời bón vôi bột và tưới thuốc trị bệnh từ 2-3 lần, định kỳ 7 ngày/lần. Sau khi xử lý bệnh xong mới bón phân lân hoặc các loại phân có tác dụng kích thích bộ rễ phát mạnh. Khi cây hồi phục và bộ rễ phát triển mới bón phân tiếp tục.

Trả lời các câu hỏi về phân bón và cách bón phân của bà con nông dân, ThS. Phan Văn Tâm – Cty CP Phân bón Bình Điền cho rằng trong mùa mưa bà con cần phải áp dụng bón phân cân đối, sử dụng những loại phân có thành phần cân đối như NPK 16-16-16 và những loại phân có bổ sung thêm trung và vi lượng. Những loại phân có hiệu quả trong mùa mưa là phân chậm tan, giúp cây không phát quá nhanh nhưng bền cây và nuôi trái tốt.

Nhiều nông dân còn băn khoăn về cách bón rải trên mặt hay xới đất hoặc bón xong rồi tưới, PGS.TS Trần Văn Hâu hướng dẫn bà con nên xới nhẹ đất bằng cào răng ngắn rồi mới rải phân để hạn chế thất thoát phân bón cũng như không xới quá sâu làm tổn thương bộ rễ cây trồng.

Ngày nay, rất ít nhà vườn trồng cây ăn trái theo cách truyền thống mà hầu hết đã biết điều tiết bằng nhiều biện pháp kỹ thuật để cây ăn trái ra hoa theo ý muốn nhằm nâng cao hiệu quả, do vậy việc bón phân cũng cần phải áp dụng theo thời kỳ sinh trưởng của cây như sau:

Ngay sau thu hoạch: Cần cắt tỉa bớt các cành sâu bệnh, cành trong tán, cành đã mang trái vụ trước đồng thời bón vôi và phân hữu cơ cùng vô cơ vào gốc. Biện pháp này ngoài mục đích giúp vườn thông thoáng, hạn chế sâu bệnh còn kích thích cây đâm đọt mới, tạo cành lá cho cây ra hoa kết trái trong vụ tới.

Một số ý kiến lo ngại bón phân vô cơ cùng phân hữu sẽ làm chết vi sinh vật trong phân hữu cơ, điều này không đáng ngại vì lượng bón theo khuyến cáo là không nhiều, đồng thời vi sinh vật trong đa số các loại phân hữu cơ hiện nay không cao. Cần dùng cào ba răng xới nhẹ đất trong tán, sau đó rải phân theo đường chiếu của mép tán nhằm giúp phân bón tiếp cận với vùng rễ non của cây để dễ dàng hút phân hơn; đồng thời hạn chế thất thoát phân bón và tránh gây tổn thương rễ cây.

Với những cây ra hai cơi đọt mới ra hoa như xoài, nhãn có thể bón thêm một lần phân gốc khi cơi đọt 1 đã già, cơi đọt 2 chuẩn bị nhú. Để dưỡng đọt, bà con nên bổ sung thêm các loại phân bón lá có tác dụng kích phát đọt như 30-30-30 +TE, phân amino acid…nhằm giúp đọt phát triển mạnh và cân đối, nhanh bước vào thời kỳ ra hoa.

Để kích thích cây phân hóa mầm hoa và ra hoa tốt, bà con cần bón phân gốc với tỷ lệ lân và kali cao, đạm thấp vào thời điểm cơi đọt 2 chuyển già. Đồng thời cần xiết nước để hạn chế phát đọt mới và phun bổ sung phân bón lá có hàm lượng lân cao như 6-30-30 +TE và phân có vi lượng Bo cao để kích thích phân hóa tạo mầm hoa và kích thích hạt phấn phát triển.

Sau đậu trái khoảng 1 tuần cần phun phân bón lá có hàm lượng Bo cao để chống rụng trái non. Sau đậu trái khoảng 1 tháng cần bón phân NPK 16-16-16 hoặc Đầu Trâu AT3 để dưỡng trái. Việc bón phân gốc cần định kỳ 1,5-2 tháng/lần cho đến trước thu hoạch 1 tháng. Trong thời kỳ cây mang trái cần phun bổ sung các loại phân bó   có đạm và kali cao như 10-5-45 và các loại phân có hàm lượng canxi cao nhằm giúp trái lớn đều, chống nứt, nám, thối trái.

Với những nhà vườn để cây cho trái liên tục lứa này tiếp lứa kia như quýt, sapoche…thì cần áp dụng bón phân theo từng đợt đọt và hoa chính và phân bón gốc nên dùng NPK 16-16-16 Đầu Trâu. Các loại phân bón lá cũng nên dùng theo từng loại kích đọt 30-10-10 +TE, kích ra hoa 6-30-30 +TE và phân có Bor cao, nuôi trái dùng 10-5-45 và phân bón lá có canxi cao. Với những loại cây ăn trái ra hoa đầu cành cùng với đọt mới như cam quýt, chanh, bưởi…thì phân bón lá dưỡng đọt và kích ra bông nên sử dụng liên tiếp nhau hoặc pha chung để phun sẽ hiệu quả hơn.

Kỹ thuật trồng Cây lê

Kỹ thuật trồng Cây lê

Lê là một cây ăn quả đặc sản của vùng ôn đới nước ta, lê được trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc tập trung ở những nơi có độ cao 500 – 1500m so với mợc nước biển.

Một số giống lê ở miền Bắc nước ta

Lê xanh: phân bố ở độ cao 6000m trở lên (SaPa, Bắc Hà) quả hình bầu dục , vỏ màu xanh có má phớt hồng, trọng lượng quả trung bình 300 – 400g, thịt quả trắng, nhiều nước, ăn ngọt, năng suất cao, phẩm chất khá, quả chín vào tháng 9,10.

Lê nâu: phân bố rộng, quả tròn, tròn dẹt nâu có chấm, trọng lượng quả trung bình 200 – 300 g thịt quả khô ngon, thơm khi chưa chín có vị chát, ra hoa vào tháng 3, 4; thu hoạch tháng 8,9; năng suất 300-750kg/cây.
ả nhỏ hình thoi, trọng lượng 150 – 170g, thtj quả mịn, nhiều nước, loại này ra 2 vụ quả trên năm. Vụ đầu ra hoa vào tháng 2,3; quả chín vào tháng 5,6. Vụ sau ra hoa vào tháng 6, 7, quả chín vào tháng 9,10.

Mắc coọc (lê cọt): phạm vi phân bố rộng, mọc khoẻ, quả nhỏ trọng lượng trung bình 100g, vỏ qủa thô ráp, thịt quả khô, có vị chát.

Kỹ thuật trồng trọt


Nhân giống:


Ghép cây: sử dụng gốc ghép là cây chua chat, nắc cọoc, thời vụ ghép từ tháng 7 đến tháng 10.

Chiết cành: như chiết các loại cây ăn quả thông thường

Giâm cành: chọn cành bánh tẻ 1 năm tuổi ở cây có năng suất caovà ổn định, lấy đoạn ở giữa cành, thời vụ giâm vào tháng 12, 1.

Thời vụ: Trồng vào vụ xuân.

Khoảng cách: cây cách cây 6 – 7m , hàng cách hàng6 – 8m.

Đào hố: sâu 50 – 60cm, rộng 60 – 80cm, bón 20 – 30kg phân chuồng, 0,5 – 1kg lân; 0,2kg vôi trộn đều với lớp đất mặt đua xuống đáy hố lấp hố trước trồng 30 ngày. Khi trồng mắt ghép phải quay về hướng gioa chính, trồng xong tưới nước, cắm cọc định vị.

Bón phân: Khi cây còn nhỏ (1 -5 tuổi) bón bổ sung 30kg phân hữu cơ, 2kg đạm, 2kg lân, 2kg kali/cây/năm. Khi cây lớn đã cho thu hoạch thì cần bón tăng cường -30-40kg phân hữu cơ, 4kg đạm, 2 kg lân, 2 kg kali/cây/năm.

Lượng phân trên bón làm 2 lần:

Lần 1: vào tháng 2,3: nhằm nuôi lộc cành

Lần 2: bón vào tháng 9,10: phục hồi cây sau thu hoạch.

Phòng trừ sâu bệnh


Sâu cắn lá, cuốn lá, xoăn lá: dùng Dipterec 0,1%, Padan 0,1%, Dimẻcon 0,1% phun lên lá vào lúc trời râm máy.

Sâu đục thân: dùng Dipterec hoặc vôphatốc hoà với vôi quét lên thân cây.

Chú ý việc phun thuốc trừ sâu phải chấm dứt trước thu hoạch tối thiểu 15 ngày.

Vị thuốc từ quả trám

Vị thuốc từ quả trám

Quả trám là một loại quả dùng làm thực phẩm và có tác dụng chữa bệnh tốt. Theo y học cổ truyền, quả trám có vị chua, ngọt, chát, tính ấm, vào kinh phế, có tác dụng thanh nhiệt, sinh tân chỉ khát, giải độc, lợi hầu họng, không độc.

Trám có nhiều loài khác nhau: trám trắng, trám đen, trám hồng. Quả trám còn gọi thanh quả hay cảm lãm (fructus canarii), được thu hái khi chín; có thể dùng tươi hoặc đem muối, sau đó phơi khô, hoặc sấy khô để chế các món ăn, có lợi cho hầu họng.

Thành phần hóa học, quả trám chứa protid, chất béo, hydrat cacbon, beta- caroten, acid oleannolic, một số khoáng chất: Ca, K, P, Fe, Mg, Mn, Zn, Cu… và vitamin C. Hạt quả trám chứa các acid béo.

1. Quả trám giải độc

1. 1 Giã rượu: 12 quả trám, 1,5g phèn chua, trước tiên dùng nước lạnh rửa sạch trám, lấy dao khía trên mỗi quả bốn năm đường rồi nhét phèn vào những vết khía ấy, nhai nhỏ nuốt dần để giã rượu. Hoặc trám tươi 10 quả sắc lấy nước uống có tác dụng giải rượu.

1.2 Nôn mửa khi có thai: Trám 12g, vỏ quýt 9g, dùng lửa to hấp cách thủy cho chín rồi uống, mỗi ngày 1 lần, dùng để chữa chứng nôn mửa khi có thai.

1.3 Chữa kiết lỵ: Trám 100g đem sắc với 200ml nước cô còn 100ml thì lọc bỏ bã lấy nước, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần khoảng 25 – 30ml, có công dụng chữa bệnh kiết lỵ.

1.4 Giải độc cá nóc: Trám tươi 50g, rửa sạch bỏ hạt sao chín, sắc uống, có công dụng giải độc cá nóc.

1.5 Hóc xương: Trám 5 quả sắc lấy nước uống hoặc ngậm quả trám, nuốt lấy nước, chữa hóc xương

1.6 Động kinh: Trám tươi 480g, uất kim 24g, phèn chua 24g. Trước tiên, đập nát trám rồi cho nước vào sắc kỹ, lấy bỏ hạt rồi lại cho uất kim vào sắc cùng, cuối cùng cho phèn chua sắc tiếp, cô còn chừng 500ml là được, uống mỗi ngày 20ml vào buổi sáng sớm với nước ấm, có tác dụng chữa bệnh động kinh.

1.7 Viêm da: Trám tươi 1.000g sắc với 1.000ml nước bằng lửa nhỏ, sau đó lọc bỏ bã lấy nước ngâm để chữa các bệnh lý ngoài da có viêm loét, viêm phần phụ…

2. Một số bài thuốc vị thuốc  trị bệnh từ quả trám

2.1 Trị đau họng, sưng amidan, ho, miệng khô, khát nước:

Quả trám rửa sạch, bỏ hạt, nấu với nước, nấu 2 – 3 lần, mỗi lần đun sôi 1 giờ, để lắng, gạn bỏ cặn, lọc qua vải xô, cô thành cao 2:1, thêm đường đủ ngọt, ngày uống 2-3 lần trước bữa ăn, mỗi lần 5-10ml. Có thể uống nhiều ngày liền cho đến khi hết các triệu chứng.

2.2 Trị lỵ:

Quả trám tươi khoảng 90g, để nguyên hạt sắc với nước (2 – 3 lần), gộp dịch chiết, cô lại lấy cao, theo tỷ lệ 1:1, chia 3 lần uống trong ngày trước bữa ăn. Khi uống cần kiêng ăn các thứ tanh: cua, cá, lòng trắng trứng… Có thể uống nhiều ngày cho tới khi hết các triệu chứng.

2.3 Trị đau nhức xương khớp:

Vỏ trám hồng, cạo bỏ lớp bần bên ngoài, thái nhỏ, sắc nước uống, ngày 10 – 12g, chia 3 lần sau bữa ăn. Có thể thay vỏ bằng lá trám.

2.4 Trị đau răng, sâu răng:

Quả trám đốt thành than, tán bột mịn, trộn với một ít xạ hương, rồi bôi và xỉa vào chỗ răng đau. Hoặc lấy vỏ thân cây trám trắng cạo bỏ lớp vỏ đen bên ngoài, thái mỏng phơi khô, sắc lấy nước, ngậm 10 phút rồi nhổ đi. Ngày làm nhiều lần. Có thể phối hợp với rễ chanh, rễ cây trẩu hoặc rễ cà dại.

2.5 Trị lở sơn:

Vỏ cây trám, cạo bỏ lớp bần, thái nhỏ, nấu nước tắm, ngày 2 lần.

2.6 Trị tràng nhạc (loa lịch):

Hạt trám, hạt gấc, vỏ quả mướp đắng, đốt thành than, tán bột mịn, trộn đều với dầu thực vật hoặc mỡ lợn, bôi vào chỗ đau.

2.7 Trị nứt nẻ kẽ ngón và gót chân khi trời rét:

Hạt trám trắng đốt thành than, tán mịn, trộn đều với dầu thực vật, bôi vào chỗ đau.

2.8 Trị hóc xương cá:

Quả trám trắng hoặc trám đen, nhai giập nuốt dần lấy nước; hoặc lấy 5 quả trám, sắc lấy nước, ngậm và nuốt dần. Hoặc chỉ lấy phần thịt quả trám, giã nát, ép lấy nước, uống dần. Hoặc lấy hạt quả trám, đốt tồn tính, rễ cây đậu ván trắng, thái nhỏ. Cả hai tán thành bột mịn, trộn đều, mỗi lần uống 4 – 6g. Tuy nhiên, cách làm này chỉ áp dụng với trường hợp bị hóc các xương cá nhỏ.

Cách phòng trừ bệnh cháy lá và chết ngọn

Cách phòng trừ bệnh cháy lá và chết ngọn

Bệnh cháy lá và chết ngọn là bệnh gây hại nghiêm trọng trên lá của cả cây con và cây trong vườn ở giai đoạn kinh doanh. Trong vườn ươm, nó có thể là bệnh hại quan trọng nhất vì chúng gây thiệt hại đến 40-50%. Trên cây lớn chúng gây chết lá, cành và rụng lá dẫn đến hiện tượng làm giảm năng suất.

1.Tác nhân

Bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây ra. Nấm bệnh phát triển và tạo nhiều hạch nấm ở điều kiện nhiệt độ thích hợp nhất là 28°C. Nấm phát triển kém ở 35°C và ngưng phát triển ở 100°C.

2.Triệu chứng


Bệnh phát sinh trên cả lá già và lá non, bắt đầu bằng những đốm nhỏ, sũng nước sau đó liên kết lại thành mảng bất dạng nhũn nước hay phỏng nước sôi trên lá.

Những đóm này sau đó khô đi và chuyển sang màu nâu sáng với rìa màu nâu tối và gây biến dạng lá và làm lá quăn lại. Bệnh thường gây hại tập trung từng cụm trên vườn ươm và sau đó lây lan rộng rãi. Các lá bị bệnh có thể kết dính lại do sự mọc lan của sợi nấm, đôi khi thấy có những hạch nấm màu nâu dạng tròn hay dẹp nhỏ. Do đó có khi khô chúng dính lại với nhau nhưng không rụng. Bệnh có thể tấn công trên thân non làm khô chết phần ngọn phía trên và sau đó có màu trắng xám.

3. Biện pháp phòng trừ

+ Ở giai đoạn cây con: Bệnh có thể được tránh bằng cách tưới nước thường xuyên nhưng không tưới quá ẩm, cây con nên để khoảng cách thưa, bệnh có thể khống chế bằng cách phun lên lá các loại thuốc như Monceren, Benomyl, Carbendazim, Topsin M. hoặc có thể tưới lên đất.
+ Trong vườn cây lớn cũng nên phun các loại thuốc trên thường xuyên hoặc có thể tiêm thuốc vào cây.
+ Loại bỏ cành, lá bị bệnh trong vườn, vệ sinh vườn cũng rất cần thiết để giảm mật số mầm bệnh.
+ Vì đây là nấm đa ký chủ nên cần giảm cỏ trong vườn sẽ giúp hạn chế bệnh tốt.

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2018

Lạm dụng thuốc trừ sâu gây bùng phát sâu đục trái

Lạm dụng thuốc trừ sâu gây bùng phát sâu đục trái

Sâu đục trái đã xuất hiện và gây hại nặng nề trên nhiều vườn cây có múi tại Tiền Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Cần Thơ; đặc biệt là Hậu Giang.



GS.TS Nguyễn Thị Thu Cúc, Trường ĐH Cần Thơ cho biết: Ở nước ta, trước đây loài sâu này đã được ghi nhận xuất hiện lẻ tẻ trên một số vườn bưởi thuộc tỉnh Khánh Hòa và hoàn toàn không ghi nhận sự hiện diện của loài này tại vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, đến giữa tháng 10/2011, sâu đục trái đã được phát hiện đồng loạt trên nhiều vườn tại nhiều tỉnh ĐBSCL… và ngày càng bùng phát mạnh.

Theo bà Cúc, chỉ tính riêng ở huyện Châu Thành (Hậu Giang), trong tổng số 1.653 ha bưởi thì có đến 1.600 ha bị sâu đục trái tấn công, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng trái bưởi; trong đó 400 ha bị thiệt hại từ 40- 60%. Không riêng gì ở nước ta mà loài sâu gây hại đã từng xuất hiện trên nhiều vùng cây ăn quả ở Châu Á như Indonesia, Philippines, Thái Lan và Malayxia. Tại Malayxia, sâu đã được ghi nhận như là loài gây hại chính yếu trên các loại cây có múi (bưởi, cam, quýt, chanh…).

“Tùy theo lượng sâu gây hại bên trong trái mà trái bị hủy hoại nhanh hay chậm. Khi bị gây hại nặng, trong 1 trái có từ 6- 10 con sâu. Sự xâm nhập của sâu vào quả thường gây ra hiện tượng xì mủ trên quả. Chất mủ này thường kết dính với các chất thải ra từ các lỗ đục, nên trong quả rất dơ. Sâu tấn công trái khi trái còn rất nhỏ, có đường kính trái khoảng 5 cm, cho đến khi trái lớn và thu hoạch. Tại ĐBSCL, sâu được ghi nhận gây hại trên bưởi, cam và quýt, nhưng nặng nhất trên bưởi. Cả hai giống bưởi hiện trồng phổ biến hiện nay như bưởi Năm Roi, da xanh đều bị sâu này gây hại”, bà Cúc cho biết thêm.

Ths. Lê Quốc Điền, Viện Cây ăn quả miền Nam cho rằng, trước khi tìm ra phương pháp phòng trị cần biết nguyên nhân chính gây bộc phát sâu đục quả bưởi gần đây ở ĐBSCL. Kết quả điều tra cho thấy, sâu đục vỏ trái hầu như chỉ xuất hiện trên những vườn có sử dụng nhiều thuốc BVTV; đặc biệt là thuốc trừ sâu. Còn những vườn ít sử dụng thuốc trừ sâu và vườn có nuôi kiến vàng, sâu đục trái không hiện diện hoặc chỉ xuất hiện lẻ tẻ, không đáng kể.

Cũng theo ông Điền, việc lạm dụng thuốc trừ sâu là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự bùng phát mạnh loại sâu này. Do vậy nhà vườn cần hiểu và ứng dụng các biện pháp quản lý tổng hợp và phòng trừ loại sâu này. Cụ thể:

- Thường xuyên loại bỏ toàn bộ trái bị nhiễm trong vườn (trên cây và đã rụng xuống đất). Chôn sâu ít nhất 30 cm dưới mặt đất để diệt sâu còn hiện diện trong trái.

- Bao trái ngay khi trái còn nhỏ, độ 1- 1,5 tháng tuổi. Một tuần sau khi bao, cần mở bao để kiểm tra lại để quan sát sự hiện diện của các vết thải trên vỏ trái. Nếu không có các vết thải, có nghĩa là trái hoàn toàn không bị nhiễm. Những vườn đang bị nhiễm bệnh, trái đã phát triển hoặc gần thu hoạch, cũng cần bao những trái chưa bị nhiễm; vì ngay cả vào giai đoạn trái thu hoạch cũng có thể nhiễm sâu đục quả.

- Về biện pháp lâu dài, trong phòng trừ sinh học, thiên địch giữ vai trò rất quan trọng, khống chế sự bộc phát của sâu đục trái bưởi. Kết quả khảo sát vừa qua tại một số vùng thuộc ĐBSCL đã phát hiện một loài ong mắt đỏ (Trichogramma) ký sinh trứng của sâu đục vỏ bưởi. Trong một trứng của sâu đục trái bưởi có từ 4- 6 ong ký sinh, tuy nhiên tỷ lệ trứng bị ký sinh rất thấp, trên vườn thường xuyên sử dụng thuốc trừ sâu.

Điều này cho thấy việc nghiên cứu sử dụng thiên địch để phòng trừ sâu đục quả hiệu quả. Song song đó là biện pháp sử dụng pheromone để hấp dẫn thành trùng. Đây được coi là một chiến lược rất quan trọng cần nghiên cứu để sử dụng trong quy trình IPM phòng trừ sâu đục quả.

Kinh nghiệm hạn chế bệnh vàng lá trên cây có múi

Kinh nghiệm hạn chế bệnh vàng lá trên cây có múi

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh vàng lá ở cây có múi có thể do cây giống lúc mưa đã nhiễm bệnh này rồi, hoặc là do bị lây nhiễm từ các cây bị bệnh trồng ở gần bên cạnh và tác nhân lây lan là do rầy chổng cánh chích từ cây có bệnh sang cây sạch bệnh


Ngoài bệnh vàng lá Greening còn do nấm Phytopthora gây ra. Điều này do bà con trong lúc trồng đã đặt cây giống sâu xuống đất quá, nên cây rất dễ bị nấm bệnh tấn công.

Có thể nói bà con trong vùng nhỏ này chưa có kinh nghiệm trồng cam, quýt, bưởi; mặc dù từ lâu, tivi, báo chí đã thường xuyên đưa rất nhiều chỉ dẫn, khuyến cáo của các nhà khoa học về căn bệnh vàng lá Greeening trên cây có múi. Đề cập cách phòng trị, PGS.TS Nguyễn Minh Châu Viện Trưởng Viện nghiên cứu cây ăn quả Miền Nam cho biết, đối với bệnh vàng lá, hiện nay không có thuốc đặc trị, không thể trị được mà chỉ có phòng bệnh, hạn chế bệnh lây lan. Nếu muốn lập lại vườn cam sành có hiệu quả, bà con phải triệt để làm như sau: trước tiên phải đốn bỏ tất cả các cây đã bị bệnh trong khoảng cách ít nhất 50m, rồi mua cây giống sạch bệnh (không có cây kháng bệnh, chỉ có cây sạch bệnh) về trồng lại. Có gắng trồng trong tháng mà mật số rầy chổng cánh thấp, đó là các tháng mùa khô. (tháng 11, 12, tháng 1) Trước khi trồng xịt thuốc trừ rầy chổng cánh và sau mỗi 2 tháng lại xịt tiếp thuốc trừ rầy. Thời gian sau, mỗi tháng phải xịt thuốc lên đọt non của cây để phòng trừ rầy chổng cánh tấn cống.

Ngoài ra, kinh nghiệm của một số nhà vườn trồng cam, người ta còn trồng hàng rào cây hạn chế rầy hoặc trồng xen ổi, vì ổi là loại cây mà rầy chổng cánh không thích. Trong tương quan môi trường, ông Nguyễn Minh Châu còn lưu ý thêm bà con, nếu chung quanh có cây nguyệt quới (nguyệt quế) thì nên đốn bỏ, hoặc cũng thường xuyên xịt thuốc trừ rầy lên đọt nguyệt quới vì đây là cây rầy chổng cánh ưa thích.

Còn về cây giống, đa phần bà con cho biết là họ mua cây chở dưới ghe của thương lái không rõ địa chỉ. Họ vào tận vườn để bán cho bà con và điều này cũng góp phần gây hậu quả cho nhà vườn. Nhìn cây giống tuy xanh nhưng thực chất là cây đã nhiễm bệnh. Vì vậy, nếu muốn trồng lại, bà con không nên mua cây trôi nổi với ý nghĩ cho tiện và chọn giá rẻ, mà chọn cây giống sạch mầm bệnh và có nguồn gốc xuất xứ giống rỏ ràng uy tín.

Cây có múi  có thị trường tiêu thụ ổn định. Tuy nhiên, tình hình bệnh vàng lá trên cây rất phổ biến; muốn có vùng chung quanh tuyệt đối sạch bệnh là rất khó. Cho nên, đối với vùng đang bị bệnh nặng phải chấp nhận chọn cây trồng sống chung với bệnh vàng lá bằng cách:

“ Bà con đừng trồng bưởi Năm Roi, cam sành, quýt đường ở những vùng đang có nhiều cây thuộc các giống này bị bệnh hiện diện, mà nên thay đổi trồng bưởi da xanh. Bởi bưởi da xanh có những ưu điểm là dẫu có bị tấn công, cây vẫn có thể cho trái một thời gian dài hơn các giống cây có múi khác vừa đề cập. Mặt khác, bưởi da xanh trái lớn mà giá bưởi da xanh lại mắc hơn bưởi Năm Roi rất nhiều.  Nên thay đổi trồng các cây ăn trái khác như mít siêu sớm, thanh long đỏ, xoài ăn xanh; những thứ này có năng

Bệnh thán thư hại cây ăn quả

Bệnh thán thư hại cây ăn quả

Bệnh có thể gây hại các bộ phận cây như lá, hoa quả, chồi và cành non. Triệu chứng bệnh trên các cây nói chung tương tự nhau.

Bệnh thán thư do nấm colletotrichum sp là bệnh hại rất phổ biến trên nhiều cây ăn quả ở nước ta, những cây thường bị bệnh gây hại nặng ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây đến năng suất và phẩm chất quả như các cây có múi, xoài, chôm chôm, na, sầu riêng, thanh long, vải, măng cụt, đu đủ…Bệnh có thể gây hại các bộ phận cây như lá, hoa quả, chồi và cành non. Triệu chứng bệnh trên các cây nói chung tương tự nhau.

Trên lá bệnh tạo thành các đốm màu nâu, khô, hình hơi tròn, vết bệnh phát triển lớn lên và liên kết nhau làm khô cháy một mảng lá, lá vàng úa và rụng, cây sinh trưởng kém.

Trên các cây xoài, vải, chôm chôm, điều…bệnh làm hoa bị khô đen và rụng hàng loạt, quả non bị thối và rụng, là nguyên nhân quan trọng làm giảm năng suất quả.

Trên quả đã lớn, bệnh tạo thành những đốm nâu trên vỏ, sau đó ăn sâu vào trong thịt quả, làm thối một mảng quả, thường thấy trên quả xoài, thanh long, đu đủ…

Ở một số cây như ổi, na, xoài, vải…bệnh còn làm đọt và chồi non bị quăn lại và khô đen, cây sinh trưởng kém và giảm số cành hoa.

Xoài là cây ăn quả bị bệnh thán thư gây hại phổ biến và nặng nề nhất ở tất cả các vùng và các năm. Bệnh làm lá rụng hàng loạt, nhiều chùm hoa bị rụng hoàn toàn, quả non cũng bị rụng, quả lớn bị thối.

Bệnh thán thư phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết mưa nhiều, ẩm độ cao, khi cây ra đọt và lá non nhiều. Một số cây ra hoa vào mùa khô như xoài, chôm chôm, điều, măng cụt…, lúc này tuy lượng mưa ít nhưng ban đầu vẫn có những đợt sương ẩm nhiều cũng là điều kiện thích hợp cho bệnh phát triển nhiều lên và gây hại nặng thêm.

Ngoài các cây ăn quả, bệnh thán thư còn gây hại phổ biến trên nhiều loại cây rau màu và cây công nghiệp như dưa leo, dưa hấu, ớt, đậu tương, bông vải, chè, cà phê, hồ tiêu…nhiều cây hoa cảnh như cúc, lan, mai vàng…, bệnh thán thư cũng thường gây hại nặng.

Phòng trừ bệnh thán thư như cho các cây ăn quả có hiệu quả cần áp dụng nhiều biện pháp vừa phòng ngừa vừa tiêu diệt bệnh.

- Tạo tán, tỉa cành: cần làm ngay từ khi cây còn nhỏ để cho cây lớn sau này có một bộ cành lá thấp, gọn và phân bố đều các mặt để nhận được nhiều ánh sáng, vườn cây thông thoáng, cây sinh trưởng tốt, đồng thời góp phần hạn chế sự phát triển của bệnh.

- Vệ sinh vườn cây: cắt bỏ các cành lá và quả bị bệnh tập trung tiêu hủy để hạn chế nguồn bệnh tồn tại là lan truyền. Nếu bị bệnh nặng trước khi phun thuốc cần vệ sinh vườn, góp phần nâng cao hiệu quả của thuốc.

- Chăm bón đầy đủ: Các biện pháp chăm bón chủ yếu là tưới tiêu nước và bón phân giúp cây sinh trưởng tốt, khỏe mạnh, tăng sức chống chịu bệnh. Trong mùa mưa không để vườn cây quá ẩm thấp, có biện pháp thoát nước nhanh sau khi mưa lớn. Chú ý bón đầy đủ phân và cân đối NPK, có bổ sung các chất trung vi lượng thích hợp với từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây. Các sản phẩm Đầu trâu chuyên dùng cho cây ăn quả như AT1, AT2, AT3, Đầu trâu đa năng, Đầu trâu lớn trái, Poly humat đa năng, các phân bón lá Đầu trâu 005,007,009 chứa đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng NPK trung vi lượng, các chất điều hòa sinh trưởng và tăng sức đề kháng cho cây, góp phần hạn chế rõ rệt tác hại của bệnh.

- Dùng thuốc trừ bệnh: khi bệnh phát sinh gây hại cần dùng thuốc trừ. Hiện có nhiều loại thuốc hiệu quả cao với nấm gây bệnh thán thư trên các cây ăn quả. Trong đó có các loại thuốc tác động tiếp xúc, chủ yếu phòng bệnh và hạn chế nguồn bệnh lây lan như các thuốc gốc đồng, Mancozel, Propinel…các thuốc có khả năng hội hấp, hạn chế sự phát triển của nấm bệnh trong cây như các chất Carbendazim, Difenocanazole, Tebuconazole…Thuốc trừ bệnh cây Carmanthai 80wp hỗn hợp 2 hoạt chất mancozel và cacbendazim , là thuốc đặc trị bệnh thán thư trên các cây ăn quả và nhiều cây trồng khác. Thuốc có cả tác dụng phòng bệnh và trị bệnh, hiệu quả phòng trừ bệnh cao, rất ít độc hại với người và môi trường.

Để các thuốc trừ bệnh có hiệu quả cao cần phun đúng lúc khi bệnh mới phát sinh, cỏ thể phải phun 2-3 lần cách nhau 7-10 ngày, phun đủ lượng nước, đồng thời kết hợp áp dụng các biện pháp khác.

Một số thông tin về cây gấc

Một số thông tin về cây gấc

Cây gấc là loại cây trồng có sức chống chịu tuyệt vời, chưa thấy sâu bệnh hại, chim chuột ít phá, thân lá gấc có mùi hôi lên ít bị vật nuôi phá hoại.

Cây gấc là một loại cây bán hoang dại, thân leo và chu kỳ gieo trồng đến thu hoạch là 9 tháng-1 năm. Hiện nay quả cây gấc đã được sử dụng trong công nghiệp dược phẩm, chiết xuất dầu gấc với thành phần Vitamin A và E…

Một gốc cây gấc cho thu hoạch bình quân 15-20 quả, trong điều kiện trồng vo. Nếu trồng có chăm sóc, định hướng, 1 gốc cho thu hàng tạ quả, sau thu quả, cắt dây để lại gốc, đến vụ gấc lại bắn mầm lên cây mới, cây vụ sau khoẻ và cho năng suất cao hơn vụ trước

Cây gấc không kén đất và chỉ cần một khoảng đất nhỏ đã có thể trồng được một gốc, một gốc có tuổi thọ 15-20 năm. Một số vùng trồng gấc xen vải, trồng tận dụng, hoặc trồng ở ruộng cao, bạc màu, làm cọc tre, chăng dây thép cho dây gấc leo, thu nhập cao gấp 2-3 lần trồng lúa

Cách trồng từ dây: Chọn giống gấc tốt, loại gấc nếp quả đỏ tươi khi chín, trọng lượng quả đạt 1-1,5 kg, hàm lượng tinh dầu khá cao, được các cơ sở thu mua chế biến dầu gấc ưa thích. Lấy một đoạn dây dài khoảng 40-50 cm, có thể cuộn lại như kiểu trồng sắn dây, hoặc tận dụng có thể trồng dâm như dây khoai lang, đào hố, bón lót phân chuồng, phân rác mục… đặt dây, lấp đất để hở 2-3 đốt , tưới ẩm và đậy để bảo vệ, khi nào mầm gấc bắn lên, gấc bò thì mắc giàn cho gấc leo. Một gốc gấc chăm sóc tốt và cân đối cần diện tích leo giàn khoảng 5-6 m2, tận dụng bờ rào, mái các công trình phụ cũng có thể trồng được gấc.

Khi cây gấc leo giàn bón cho mỗi hốc 1-1,5 kg NPK, để đẩy nhanh quá trình bám giàn, không nên để cây gấc quá tốt dây, vì dây tốt quả sẽ ra ít.

Cây gấc không đậu quả là do trồng phải cây gấc đực. Nếu quan sát kỹ vào thời kỳ gấc nở hoa sẽ thấy hoa gấc cái có bầu nhuỵ và 3 nhị cái nhô cao, còn các hoa đực thì có nhiều nhị đực và túi phấn nhỏ mà không có bầu nhuỵ nên rất dễ phân biệt. Cây gấc có rất nhiều hoa nhưng rồi rụng hết thì đích thị là cây gấc đực. Bà con nên phá bỏ và trồng lại cho vụ tới.

Nên trồng cây gấc trên đất (chân tường, góc sân…) là tốt nhất, gấc có thể leo cao và phủ kín tường và mái của một căn nhà 5 tầng. Để cho chắc ăn, bà con nên tìm đến gia đình nào có cây gấc sai quả xin lấy một vài đoạn hom thân (bánh tẻ hoặc hơi già) dài 40 – 50cm, có ít nhất 2 – 3 mầm mắt còn nguyên vẹn đem trồng trực tiếp hoặc giâm cho lên mầm sang xuân trồng chắc chắn sẽ có cây gấc cái sai quả.

Trong mỗi quả gấc thường có tới 3 – 4 hạt đực (nhỏ và mỏng hơn hạt cái). Khi gieo ươm cần chú ý đánh dấu để nếu trồng nhiều thì khoảng 5 – 6 cây nên trồng thêm một cây gấc đực để có đủ phấn cho gấc sai quả.

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2018

Cách chăm sóc cây ăn trái trồng chậu

Cách chăm sóc cây ăn trái trồng chậu

Cây ăn trái cần nhiều dinh dưỡng để cây cho nhiều lá nhiều cành mới, từ đó cây mới có sức để ra trái.


Hiện nay người dân thành phố có phong trào trồng cây ăn trái trồng chậu, thường lúc mua cây ăn trái có sẳn trong chậu đang ra hoa ra trái, nhưng sau đợt trái đó thì cây hầu như không cho trái nữa, vậy làm thế nào để chăm sóc cây ăn trái trồng chậu lại tiếp tục ra hoa ra trái. Để cây ăn trái trồng chậu dễ dàng ra hoa kết trái cần lưu ý các yếu tố sau
1. Cây ăn trái  được tưới đủ nước và thoát nước tốt

Cây ăn trái trồng chậu bị giới hạn bởi kích thước của chậu nên phải tưới nước đảm bảo đủ ẩm và ngày phải tưới 2 lần sáng và chiều mát. Tuy nhiên cây trong chậu dễ bị ứ đọng do nước không thoát ra ngoài, cần phải kê đáy chậu, tạo khoảng hở giúp tiêu thoát nước tốt thì bộ rễ cây ăn trái sẽ phát triển tốt.
2. Cần có chế độ bón phân định kỳ và luân phiên phù hợp

Cây ăn trái cần nhiều dinh dưỡng để cây cho nhiều lá nhiều cành mới, từ đó cây mới có sức để ra trái.

Bón phân định kỳ luân phiên là bón phân cho cây ăn trái theo hàng tháng 2 lần, một lần phân vô cơ và một lần phân hữu cơ với liều lượng theo khuyến cáo nhà cung cấp.

Các loại phân bón tham khảo bao gồm: Phân vô cơ như DAP, NPK, Super Lân, Ure, KNO3…Phân hữu cơ gồm phân bò hoai, phân trùn quế, phân Dynamic lifter, bánh dầu, phân dơi….

Ngoài ra cần cho thêm lớp đất trồng dầy 2-3 cm vào bề mặt chậu cây hàng tháng để rễ cây ăn trái có thêm chất dinh dưỡng
3. Ánh sáng cho cây ăn trái trồng chậu

Yếu tố ánh sáng rất cần thiết để giúp cây ăn trái quang hợp tạo nhiều sinh khối và chuyển sang giai đoạn ra hoa. Thời gian chiếu sáng cần thiết cho cây ăn trái trong một ngày là từ 5-6 giờ .
4. Bón thêm phân vi lượng, vitamin giúp hoa mau kết trái, giúp trái không bị rụng:

Ngoài bón phân như nêu trên, khi cây bắt đầu ra hoa nên sử dụng thêm phân bón lá có chứa vi lượng, khoáng để tăng khả năng đậu trái cho cây đồng thời chống rụng trái non.

5. Thường xuyên kiểm tra sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời.

Cây ăn trái trồng chậu thường bị rệp muội rệp sáp tấn công và các loài nấm đen nấm bồ hóng cũng tham gia làm cho ngọn lá cây ăn trái bị teo, lá vàng.

Nếu trồng chỉ có vài cây ăn trái thì dùng vòi nước mạnh phun rửa ổ rệp và cắt bỏ ngọn lá bị vàng. Sau một tuần cây lại cho ra lớp lá mới.

Trường hợp cây ăn trái trồng chậu với số lượng nhiều nên tham khảo tại các cửa hàng chuyên về thuốc BVTV để có hướng dẫn cụ thể.

Chỉ cần quan tâm chăm sóc các chậu cây ăn trái trồng chậu hàng ngày theo các lưu ý trên thì cây sẽ cho trái như ý muốn.

3 Cách khắc phục rụng quả non trên cây ăn trái

3 Cách khắc phục rụng quả non trên cây ăn trái

Cây ăn trái trồng tại nhà khi đến giai đoạn cây đang ra trái non thì có hiện tượng rụng quả non hàng loạt, Nếu không xử lý kịp thời có thể cây ăn trái sẽ rụng hết quả non, đâu là nguyên nhân gây rụng quả non và cách khắc phục ra sao cho phù hợp.


1. Do cây ăn trái thiếu dinh dưỡng, không đủ ánh sáng quang hợp

Để cây ăn trái đủ sức ra hoa ra trái cần bón phân cho gốc cây luân phiên phân vô cơ hữu cơ ( cần quan tâm phân vô cơ có nhiều đạm và kali) và tưới nước đầy đủ, để cây ăn trái nơi có nhiều ánh sáng, từ đó cây quang hợp tạo nhiều cành lá mới để cây đủ sức bước vào giai đoạn ra hoa kết trái. Khi thấy cây ăn trái bắt đầu ra hoa thì ngưng không bón phân vô cơ.

2. Bón bổ sung phân vi lượng và phân bón lá giúp trái cây mau lớn và không bị rụng

Khi cây ra hoa và bắt đầu cho quả nhỏ thì ngưng bón phân gốc mà chuyển sang bón phân qua lá như vi lượng, phân dưỡng trái, phân NPK bón lá…cách bón theo như khuyến cáo nhà sản xuất, thời gian phun từ 2-3 lần mỗi lần cách nhau 7-10 ngày.

3. Phòng trừ sâu bệnh và tăng sức đề kháng cho cây ăn trái khi gặp thời tiết bất lợi

Khi cây ăn trái ở giai đoạn có quả non dễ bị sâu bệnh tấn công như : nhện đỏ ( nếu cây thiếu nước khô hạn), phấn trắng nấm bồ hóng ( nếu gặp mưa kéo dài), ruồi đục quả gây thối quả, bệnh vàng lá, sâu ăn lá, rệp muội, rệp sáp…cây ăn trái khi bị sâu bệnh tấn công làm cho cây dễ bị rụng quả non.

Cần phun phòng trừ sâu bệnh kết hợp bổ sung vitamin giúp cây khỏe, các loại thuốc BVTV thường sử dụng như : Secsàigòn, Abametin, Oxfatox, Topsin M, Benomyl, Anvil,..và các loại Vitamin như B1, Rong biển, Phân cá….và dùng thuốc bả mồi để xử lý ruồi.

Nếu ở nhà trồng vài cây ăn trái thì có thể kiểm tra thường xuyên và tiêu diệt sớm các mầm bệnh vừa xuất hiện, hạn chế dùng thuốc BVTV sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe gia đình và môi trường.

Quả sung rất giàu dinh dưỡng cho các chị em mang bầu

Quả sung rất giàu dinh dưỡng cho các chị em mang bầu

Quả sung rất giàu dinh dưỡng cho các chị em mang bầu- Quả Sung dồi dào lượng chất xơ, giúp giảm bớt táo bón – rắc rối phổ biến nhất trong thời kỳ mang thai.

Dinh dưỡng là vấn đề đáng chú ý nhất trong giai đoạn mang bầu, Thịt , cá, trứng, sữa trái cây là không thể thiếu trong khẩu phần ăn uống. Thật ngạc nhiên, nghiên cứu cho thấy, 1 loại quả chứa khá nhiều chất dinh dưỡng quan trọng cho một thai kỳ khoẻ mạnh. Quả sung đấy các bà mẹ tương lai!

- Quả Sung chứa lượng kali cao, giúp kiểm soát huyết áp. Do đó, nó ngăn chặn tăng huyết áp liên quan tới tiền sản giật – một dấu hiệu rất nguy hiểm khi mang thai.

Quả sung rất giàu dinh dưỡng cho các chị em mang bầu- Quả Sung dồi dào lượng chất xơ, giúp giảm bớt táo bón – rắc rối phổ biến nhất trong thời kỳ mang thai.

- Enzyme proteolytic trong quả sung hỗ trợ hệ tiêu hoá cho người mẹ.
- Chất kiềm trong sung giúp kiềm chế cảm giác thèm ăn trong thời kỳ mang thai. Điều này giúp mẹ có một chế độ dinh dưỡng lành mạnh, hạn chế thừa cân, béo phì.
- Quả Sung cũng giàu vitamin B6, vitamin từ lâu đã được chứng minh là mang lại lợi ích trong việc giảm táo bón. Nó cũng chứa một lượng đáng kể omega 3, cần thiết cho sự phát triển thai nhi, cũng như giảm nguy cơ sinh non.

- Psoralens, một chất có trong sung có tác dụng giảm sám, nám da cho bà bầu.

11 lợi ích của trái vả

11 lợi ích của trái vả

Các nghiên cứu thành phần hoạt chất cho thấy trái vả rất tốt cho những người ăn kiêng vì nhiều chất xơ và ít năng lượng


Ở nước ta cây vả được trồng nhiều ở các tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Khánh Hòa, Phú Yên.
Ở các nước như Ấn Độ, Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Mỹ, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ... trái vả thường được chế biến thành nước giải khát hoặc làm mứt. Theo báo cáo của Tổ chức Lương nông Liên Hiệp Quốc (FAO), lượng vả tiêu thụ trên thế giới trong năm 2005 là 1.057.000 tấn, trong đó Thổ Nhĩ Kỳ đứng đầu với 285.000 tấn.

Trái vả được bán nhiều ở chợ chính nhờ những giá trị của nó trong dinh dưỡng. Cần phân biệt trái vả và trái sung (Ficus glomerata) hay được chưng trong ngày tết để mong cả năm được sung túc. Cả hai loại trái đều có vỏ xanh, thịt trắng, ruột hồng, tuy nhiên trái vả to hơn, ngọt hơn và bùi hơn, còn trái sung có vị chát. Ở VN, vả được dùng chế biến các món ăn như trộn gỏi với thịt heo và rau thơm hoặc hầm giò heo giúp sản phụ lợi sữa, làm dưa chua.

Các nghiên cứu thành phần hoạt chất cho thấy trái vả rất tốt cho những người ăn kiêng vì nhiều chất xơ (9,8 gam) và ít năng lượng (100 gam khô cho 250kcal).

Trong 100 gam trái vả sấy khô có chứa: protein 3,3 gam, chất béo 0,93 gam, đường 47,92 gam, các vitamin thuộc nhóm B như B1 0,085mg, B2 0,082mg, B3 0,619mg, B5 0,434mg, B6 0,106mg, B9 9µg, PP 0,3mg và C 1,2mg. Tổng lượng vitamin chiếm khoảng 37% trọng lượng trái khô. Một số lượng lớn các chất khoáng và vi lượng chiếm hơn 70%, cao nhất là calcium là 162mg (tỉ lệ 16%), magnesium 68mg (9%), còn lại như phosphor (16%), sodium (14%), sắt (8%), kẽm (6%), đồng, mangan... Ngoài ra trái vả còn cung cấp nhiều chất ở dạng hợp chất flavonoit và polyphenol, chất nhầy và pectin.

Các lợi ích của trái vả cho sức khỏe gồm:


1. Ngừa táo bón: mỗi ngày 5 gam chất xơ (tương ứng ba trái) sẽ chống bệnh táo bón, đặc biệt ở người già.

2. Giảm cân:
hàm lượng chất xơ cao nhưng ít năng lượng rất thích hợp cho người tạng béo phì.

3. Giảm cholesterol:
nhờ pectin hòa tan một lượng lớn cholesterol và được bài tiết ra ngoài.

4. Ngừa bệnh tim mạch: các acid béo trong trái vả thuộc loại omega-3 và omega-6 giúp hạ thấp nguy cơ gây bệnh tim mạch.

5. Ngừa ung thư: hàm lượng cao các chất flavonoid trong trái vả giúp ngăn ngừa bệnh ung thư cũng như ngăn ngừa sự tổn thương tế bào. Đặc biệt ngừa ung thư vú đối với phụ nữ sau giai đoạn tiền mãn kinh.

6. Ổn định đường huyết: trái và lá vả chứa nhiều potassium (K) giúp kiểm soát lượng đường trong máu.

7. Ngừa huyết áp cao: nhiều potassium nhưng ít sodium giúp tránh được bệnh huyết áp cao.

8. Bảo vệ khung xương: hàm lượng calci rất cao trong trái vả giúp kéo dài tuổi thọ của xương và bảo vệ khung xương. Đây cũng là một tín hiệu đáng mừng cho những người bị loãng xương.

9. Ngừa sự thoái hóa da: ở người lớn tuổi da thường bị nhăn và sạm, không còn tươi sáng và săn chắc, các loại trái cây cũng như trái vả giúp làn da không bị thoái hóa và giữ vẻ thanh xuân.

10. Ngăn ngừa mụn nhọt, ghẻ lở ngoài da nhờ các chất nhầy trong trái giúp mau lên da non.

11. Chữa các bệnh đường hô hấp như ho gà, hen suyễn.

Chú ý, vì hàm lượng đường cao nên trái vả thường được chế biến dạng bánh ngọt, thạch, mứt, vì thế trẻ em dùng nhiều có thể gây sâu răng và bị tiêu chảy.