Pages

Cây giống cây ăn quả

Cung cấp các loại giống cây ăn quả mới với chất lượng cây giống tốt nhất

Hoa lan giống

Cung cấp các loại lan giống như: Đai châu, Hồ điệp, Vũ nữ, Cattleya, Vanda và Dendro

Cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng

Cung cấp các loại cây cảnh, cây bóng mát, cây lấy gỗ, cây trồng rừng như: Cây Sưa đỏ, Cây Xoan đào, Xoan ta, Mây nếp ...

Giống rau, giống cây nông nghiệp

Cung cấp các loại giống rau, giống mới, giống cây nông nghiệp ngắn ngày năng suất cao, : Cây chùm ngây, cây su su, gấc cao sản

Kỹ thuật trồng cây

Kỹ thuật trồng cây ăn quả, kỹ thuật trồng rau, kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh.

Thứ Tư, 22 tháng 10, 2014

Kỹ Thuật Trồng Và Chế Biến Nấm Rơm

Nấm rơm có tên khoa học Volvariella volvacea gồm nhiều loài khác nhau, có loại màu xám trắng, xám, xám đen,… kích thước đường kính “cây nấm” lớn, nhỏ tùy thuộc từng loại.


1. Đặc tính sinh học: 

Ở các quốc gia vùng nhiệt đới rất thích hợp về nhiệt độ để nấm rơm sinh trưởng và phát triển. Nhiệt độ thích hợp để nấm phát triển từ 30-32oC; độ ẩm nguyên liệu (cơ chất) 65-70%; độ ẩm không khí 80%; pH = 7, thoáng khí. Nấm rơm sử dụng dinh dưỡng cellulose trực tiếp từ nguyên liệu trồng.

Đặc điểm hình thái


Bao gốc (volva): Dài và cao lúc nhỏ, bao lấy tai nấm. Khi tai nấm trưởng thành, nó chỉ còn lại phần trùm lấy phần gốc chân cuống nấm, bao nấm là hệ sợi tơ nấm chứa sắc tố melanin tạo ra màu đen ở bao gốc. Độ đậm nhạt tùy thuộc vào ánh sáng. Ánh sáng càng nhiều thì bao gốc càng đen.

Cuống nấm: Là bó hệ sợi xốp, xếp theo kiểu vòng tròn đồng tâm. Khi còn non thì mềm và giòn. Nhưng khi già xơ cứng và khó bẻ gãy.

Mũ nấm: Hình nón, cũng có melanin, nhưng nhạt dần từ trung tâm ra rìa mép.

Chu kỳ sống: Quá trình tạo thành quả thể nấm rơm gồm 6 giai đoạn:

- Giai đoạn đầu đinh ghim (Pichead: nụ nấm).

- Giai đoạn hình nút nhỏ (tiny button).

- Giai đoạn hình nút (button).

- Giai đoạn hình trứng (egg).

- Giai đoạn hình chuông (clogation: kéo dài).

- Giai đoạn trưởng thành (nature: nở xòe).

Chu kỳ sinh trưởng và phát triển của nấm rơm rất nhanh chóng. Từ lúc trồng đến khi thu hoạch chỉ sau 10-12 ngày. Những ngày đầu chúng nhỏ như hạt tấm có màu trắng (giai đoạn đinh ghim), 2-3 ngày sau lớn rất nhanh bằng hạt ngô, quả táo, quả trứng (giai đoạn hình trứng), lúc trưởng thành (giai đoạn phát tán bào tử) trông giống như một chiếc ô dù, có cấu tạo thành các phần hoàn chỉnh.

Nguyên liệu và thời vụ nuôi trồng:

Hầu hết các phế thải của ngành nông nghiệp giàu chất cellulose đều có thể là nguyên liệu trồng nấm. Ở nước ta, các tỉnh miền Nam (từ Đà Nẵng trở vào) trồng nấm rơm hầu như quanh năm. Các tỉnh phía Bắc bắt đầu trồng từ 15-4 đến 15-10 dương lịch là thuận lợi.

2. Xử lý nguyên liệu:

Rơm rạ được làm ướt trong nước vôi (3,5kg vôi hòa với 1.000 lít nước), vun đống, ủ 2-3 ngày đảo một lần, ủ tiếp 2-3 ngày là được. Thời gian ủ kéo dài 4-6 ngày. Nguyên liệu quá ướt (khi vắt vài cọng rơm có nước chảy thành dòng) cần trải rộng ra phơi mới đem trồng. Rơm rạ đủ ướt (khi vắt vài cọng rơm có nước chảy thành giọt) là tốt nhất. Nếu khô quá cần bổ sung thêm nước khi đảo đống ủ.

3. Đóng mô cấy giống:

Đặt khuôn (có thể vun thành luống không dùng khuôn) theo diện tích hiện có sao cho thuận lợi khi đi lại, chăm sóc nấm và tiết kiệm diện tích. Chiều ngang mặt mô từ 0,3-0,4 mét, chiều cao từ 0,35 – 0,4. Trải một lớp rơm rạ vào khuôn dày 10-12cm. Cấy một lớp giống viền xung quanh cách mép khuôn 4-5cm. Tiếp tục làm như vậy đủ 3 lớp. Lớp trên cùng trải rộng đều khắp trên bề mặt (lớp thứ 4).

Lượng giống cấy cho 1,2m mô khoảng 200-250g. Mỗi lớp giống cấy xong dùng tay ấn chặt, nhất là xung quanh làm thành mô.

Trung bình một tấn rơm rạ khô trồng được trên dưới 90-100 mét mô nấm.

4. Chăm sóc mô nấm đã cấy giống:


Tùy thuộc địa điểm trồng trong nhà hay ngoài trời (sân bãi, dưới tán cây, đồng ruộng,…) mà cách thức chăm sóc sẽ khác nhau.

a. Trồng trong nhà:

Sau 3-5 ngày đầu không cần tưới nước, những ngày tiếp theo quan sát bề mặt mô nấm thấy rơm rạ khô cần phun nhẹ nước trực tiếp xung quanh. Chú ý phải tưới nước khéo, nếu tưới mạnh (hạt nước lớn) dễ làm sợi nấm tổn thương, ảnh hưởng tới năng suất vì lúc này sợi nấm đã phát triển ra tận phía ngoài thành mô. Đến ngày thứ 7-8 bắt đầu xuất hiện nấm con (giai đoạn ra quả), 3-4 ngày sau nấm lớn nhanh to bằng quả táo, quả trứng, vài giờ sau nấm có thể sẽ nở ô dù.

Nấm ra mật độ dày, kích thước lớn cần tưới 2-3 lượt nước cho một ngày. Lượng nước tưới một lần rất ít (0,1 lít cho 1,2 mét mô/ngày). Nếu tưới quá nhiều nấm dễ bị thối chân và chết ngay từ lúc còn nhỏ.

b. Trồng ngoài trời:

Đóng mô nấm ngoài trời thường bị các đợt mưa lớn, nắng nóng làm hư hỏng, vì thế cần che phủ thêm một lớp rơm rạ khô trên bề mặt mô nấm. Lớp rơm rạ này còn tốt, xếp theo một chiều, phủ theo kiểu lợp mái nhà. Chiều dày 4-5 cm. Tất cả các bề mặt của những mô ở mép ngoài khu vực trồng cũng cần che phủ bằng lớp rơm phủ áo, kiểm tra nếu thấy mô nấm bị khô có thể tưới trực tiếp lên lớp áo phủ nhiều lần trong ngày, sao cho lớp rơm phía ngoài của mô nấm không bị mất nước.

Để tránh mưa và tiện cho việc chăm sóc mô nấm, có thể cắm các cọc tre, hoặc đan thành “chiếc lồng” cách mặt mô nấm 10-15cm, phía ngoài bọc một lớp nylon, phía trên cùng phủ rơm rạ khô càng tốt.

Nhiệt độ mô nấm trong những ngày đầu khoảng 38-40oC là tốt nhất. Việc tưới nước tương tự như với nấm trồng trong nhà.

Khi thu hái hết nấm đợt 1 cần nhặt sạch tất cả các “gốc nấm” và “cây nấm nhỏ” còn sót lại, dùng nilon phủ lại cho đến khi nấm ra thì gỡ bỏ. Ngừng 3-4 ngày sau đó tưới trở lại như ban đầu, để tiếp thu đợt 2. Sản lượng nấm thu hái tập trung đến 70-80% trong đợt đầu, đợt 2 còn lại 15-25%.

5. Cách thu hái nấm:


Kể từ lúc trồng đến khi hái hết đợt 1 khoảng 15-17 ngày. Nấm ra rộ vào ngày thứ 12 đến 15. Sau 7-8 ngày ra tiếp đợt 2 và hái trong 3-4 ngày thì kết thúc một đợt nuôi trồng (tổng thời gian 25-30 ngày). Dọn vệ sinh sạch sẽ, tưới nước vôi để 3-4 ngày lại trồng đợt tiếp. Hái nấm còn ở giai đoạn hình trứng (trước khi nấm nở dù) là tốt nhất, đảm bảo chất lượng và năng suất cao. Trường hợp nấm mọc tập trung thành cụm, ta có thể tách những cây lớn hái trước, nếu khó tách thì hái cả cụm (cả to, nhỏ đều hái hết). Một ngày, hái nấm 2-3 lần. Những ngày nắng nóng, nhiệt độ không khí cao, nấm phát triển rất nhanh, vì vậy người hái nấm phải quan sát kỹ, khi nấm hơi nhọn đầu là hái được rồi.

Năng suất nấm dao động từ 12-20% so với nguyên liệu khô (một tấn rơm rạ cho thu hoạch khoảng 120-200kg nấm tươi). Năng suất nấm cao hay thấp tùy thuộc vào chất lượng giống nấm, kỹ thuật nuôi trồng và yếu tố khí hậu.

6. Sâu bệnh và cách phòng chống:

Trong quá trình trồng nấm rơm thường có một số sâu bệnh hại nấm:

- Nấm dại (nấm mực) do độ ẩm nguyên liệu quá cao. Loại này không gây hại nhưng cạnh tranh dinh dưỡng của nấm rơm, cần điều chỉnh độ ẩm nguyên liệu lúc đem trồng, hạn chế tưới khi chăm sóc.

- Các loại nấm mốc (mốc xanh, vàng, đen,…). Loại này nguy hiểm, nguyên nhân có thể do nguyên liệu bị nhiễm bệnh từ trước. Nhà xưởng vệ sinh không sạch sẽ, khu vực nuôi trồng ẩm thấp, đã trồng nấm nhiều lần,… Cần loại bỏ những mô đã bị bệnh ra xa khu vực nuôi trồng thậm chí đem chôn sâu hoặc đốt để ngăn chặn nguồn bệnh lây lan. Việc dùng các hóa chất để phun trực tiếp lên mô nấm ít có hiệu quả, tốt nhất là phòng ngừa trước.

- Côn trùng phá hoại (chuột, gián, kiến, mối,…) chúng gặm nhấm sợi và cây nấm, đào hang, làm xáo trộn mô nấm, ăn giống nấm vừa cấy xong,… Dùng thuốc bẫy chuột, gián, kiến,… tại khu vực nuôi trồng nấm.

7. Cách chế biến nấm rơm:

Khi hái nấm xong, nấm rơm vẫn tiếp tục phát triển, nếu để thêm vài tiếng sau, từ giai đoạn hình trứng có thể bị nở ô, vì vậy cần tiêu thụ nhanh trong 3-4 giờ đồng hồ. Dụng cụ đựng nấm cần thoáng, không để quá nhiều nấm (chiều cao dụng cụ tối đa 25cm). Muốn để nấm qua ngày thì bảo quản ở nhiệt độ 10-15oC. Từ lúc hái đến tay người sử dụng trong khoảng thời gian 2-3 giờ là tốt nhất.

Nấm rơm là loại thực phẩm rất ngon, có hàm lượng đạm cao, giàu các axit amin, chất khoáng và các vitamin. Chế biến nấm thành nhiều món ăn khác nhau: nấm xào, canh nấm, cháo nấm, súp nấm,…

a. Chế biến nấm muối xuất khẩu

Thị trường tiêu thụ nấm muối hiện nay cũng rất đa dạng. Nấm muối nguyên quả, sau đó phân loại theo kích cỡ đường kính nấm to, nấm nhỏ khác nhau. Hoặc nấm phải bóc vỏ bao rồi phân loại,…

Trước khi chế biến nấm muối, người sản xuất cần biết rõ yêu cầu của khách hàng đặt mua loại nào.

Cách muối như sau:

- Đun nước sôi, thả nấm tươi vào chần, dùng vỉ tre nén cho nấm chìm trong nước, đun to lửa cho sôi lại càng nhanh càng tốt. Để sôi 5-7 phút, vớt nấm ra thả vào chậu nước lạnh, thay nước nhiều lần tới khi mát tay là được (có thể để vòi nước chảy liên tục) đảm bảo nấm rắn chắc, đổ nấm ra rổ để ráo nước.

- Cho nấm đã chần vào túi nilon không thủng, chum vại hoặc can nhựa,… cứ một lớp nấm, một lớp muối theo tỷ lệ 1kg nấm + 0,3kg muối khô nhỏ hạt + 0,2 lít dung dịch muối bão hòa.

- Khi nấm đã đầy các dụng cụ cần phủ thêm một lớp muối khô trên bề mặt để ấn chìm nấm trong nước muối tránh nấm mốc phát triển. Nếu để lâu 1-2 tháng trở lên cần cho thêm 3-4kg axit citric cho 1 tấn nấm. Thời gian muối được 15 ngày, nấm sẽ ổn định về chất lượng, lúc đó tiến hành phân loại hoặc bóc vỏ nấm.

Nấm muối đảm bảo chất lượng tốt là: không bị váng mốc, mùi thơm dễ chịu, nồng độ muối đạt 230 Bé, pH = 4. Cây nấm rắn chắc, không giập nát. Không lẫn các tạp chất khác, màu dung dịch muối trong suốt. Tỷ lệ nấm muối so với nấm tươi đạt khoảng 60-70%.

b. Nấm sấy khô:


Thái nấm thành lát mỏng (kiểu lát sắn) hoặc để nguyên quả nấm đã nứt bao đem phơi nắng (nếu trời nắng to) hoặc sấy ở nhiệt độ: 40-45oC đến khi nấm khô giòn. Đảm bảo độ ẩm còn lại 13% cho vào túi nilon buộc kín, nấm khô có màu hơi vàng trông rất đẹp. Nấm khô để xuất khẩu và tiêu thụ nội địa. Trung bình 10kg nấm tươi đem phơi, sấy khô cho ra 1,1kg nấm khô.

Kỹ Thuật Trồng Nấm Bào Ngư

Nấm bào ngư khá dễ trồng, không đòi hỏi kỹ thuật cao, tận dụng nhân lực nhàn rỗi và nguyên liệu sẵn có để trồng nấm nhằm tăng thêm thu nhập cho nông dân là rất tốt.

Nấm bào ngư là loại thức ăn ngon, là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng khá cao, cung cấp một lượng đáng kể chất đạm, đường bột, nhiều vitamin và khoáng chất, đồng thời là dược liệu quí giá trong việc duy trì, bảo vệ sức khỏe, phòng chống nhiều bệnh kể cả ung thư, ung bướu và cũng là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị.

I. Nguyên Liệu

Nguyên liệu chính làm môi trường nuôi nấm là các loại phế thải nông nghiệp giàu chất cenluloz như: rơm rạ và mùn cưa thuộc loại gỗ mềm và không có nhựa ngăn meo nấm phát triển như gỗ cao su, xoài, so đũa, thân bắp, cùi bắp…

Nguyên liệu sau khi qua xử lý, ủ chín, phối trộn chất dinh dưỡng, vô bịch, hấp tiệt trùng, cấy meo giống. Sau 20 – 25 ngày tơ nấm mọc đầy bịch phôi, lúc này bịch phôi được đem ra nhà nấm chăm sóc thu hoạch quả thể.

II. Chuẩn Bị Nhà Nấm

Vật liệu: làm nhà nấm bằng tre, lá, lưới, nylon. Có thể tận dụng sàn nhà để treo bịch phôi nấm, xung quanh nhà trồng nấm có thể bao lưới cước hoặc nylon để giữ ẩm, hạn chế côn trùng giú cho nấm phát triển tốt.

Nhà trồng nấm phải sạch sẽ, cao ráo, thoáng khí, thoát nước và giữ được độ ẩm. Các bịch phôi nấm có thể xếp đặt trên các bệ (bằng tre hay sắt) hoặc treo dưới các thanh ngang, mỗi hàng cách nhau 20 – 30 cm, mỗi dây cách nhau 20 – 25cm, mỗi dây có thể treo từ 6 – 10 bịch phôi. Tốt nhất bố trí dàn treo theo từng khối một, mỗi khối rộng từ 1,4 – 1,6m, chiều dài tùy theo nhà trồng. Mỗi khối chừa các lối đi để tiện chăm sóc và thu hái.

Trước khi đưa nấm vào nhà trồng ta cần khử trùng nhà nấm bằng vôi bột, cứ 100gr vôi bột/1m2 rãi đều xung quanh nền nhà nấm.

Sau khi nhà nấm chuẩn bị xong ta tiến hành đưa bịch phôi nấm vào chăm sóc.

III. Đưa Bịch Phôi Nấm Vào Nhà Trồng

Chọn những bịch có sợi tơ nấm mọc trắng đều bịch, sau đó tiến hành tháo bút bông phía trên miệng bịch phôi hoặc dùng dao lam rạch từ 3 – 4 đường dài khoảng 3 - 4cm trên bịch phôi, sau khi rạch bịch để ngày hôm sau mới phun tưới nước.

Nước tưới nấm phải sạch, không phèn, không chứa chất độc hại nấm và nên tưới bằng bình phun sương hay vòi phun thật mịn. Tưới nước nhiều hay ít tùy theo độ ẩm không khí của nhà nuôi nấm. Bình quân 2 lần/ngày, nếu khô thì từ 3 – 4 lần/ngày.

Độ ẩm môi trường không khí nới trồng nấm đạt 80-90%. Nhiệt độ thích hợp 25 – 32 độ C, nhiệt độ tối ưu 27 – 28 độ C. Ánh sáng khuyếch tán (có thể đọc sách được) đây là điều kiện thích hợp nhất để tạo quả thể nấm phát triển.

Cách tưới: không tưới thẳng lên bịch phôi mà phun xịt tạo mưa nhẹ rơi từ trên xuống, tưới ướt các vách, nóc và nền nhà để tạo độ ẩm không khí cần thiết cho nhà trồng nấm. Tùy theo thời tiết mà tưới nhiều hay ít để tạo ẩm cho nhà trồng nấm, mỗi ngày tưới 2 – 4 lần (khi mưa dầm ẩm ướt, không cần tưới). Lưu ý là không để giọt nước bắn thẳng vào nụ nấm mà làm hư hỏng nó.

IV. Những Điều Cần Lưu Ý

- Nhạy cảm với môi trường: ngoài các tác nhân ảnh hưởng như nhiệt độ, độ ẩm, pH, ánh sáng…nấm bào ngư đặc biệt nhạy cảm với tác nhân gây ô nhiểm môi trường như hóa chất, thuốc trừ sâu, các kim loại nặng, kể cả trong nguyên liệu cũng như không khí và môi trường xung quanh khu vực nuôi trồng. Trong điều kiện ô nhiễm trên, tai nấm sẽ bị biến dạng hoặc ngưng tạo quả thể. Vì vậy, khi nấm bào ngư phát triển tốt thì nấm thu hoạch được chắc chắn sẽ là một loại ra sạch.

- Dịch bệnh gây hại nấm: chủ yếu là mốc xanh Trichoderma và ấu trùng ruồi nhỏ. Đối với mốc xanh, có thể hạn chế bằng cách khử trùng tốt nguyên liệu hoặc nâng pH. Đối với ấu trùng ruồi nhỏ, để ngăn ngừa nhà trồng cần có lưới chắn và vệ sinh nhà trại, không cho ổ dịch phát sinh.

- Dị ứng do bào tử nấm bào ngư: nếu hít phải có triệu chứng khó thở, có nhiều vết đỏ ở tay, nhức đầu, ho và sốt. Khắc phục bằng cách đeo khẩu trang khi vào nhà nuôi trồng, tưới ẩm cho nhà trồng.
Kỹ thuật trồng nấm bào ngư

Trồng Nấm Rơm Trong Nhà Phủ Nilon

Tùy điều kiện thực tế mà có thể sử dụng kiểu nhà khác nhau. Hiện nay có hai kiểu nhà t­ương đối phù hợp với điều kiện ĐBSCL.

Chuẩn bị nhà trồng nấm

Nhà kiểu chữ A: Thư­ờng tận dụng dư­ới tán cây ăn quả. Kích thư­ớc như­ sau: nhà nhỏ chiều dài nhà 10-12m, mái nhà 2,4m nền nhà rộng 2,0m, chiều cao 1,8m có cửa ra vào và thông gió hai đầu hồi. Mái nhà phủ nilon (tấm bạt), phía trên phủ thêm lá chuối hoặc lá dừa để chống nắng hay d­ưới bóng râm là tốt nhất. Hai đầu hồi để làm cửa ra vào và điều chỉnh ánh sáng, nhiệt độ khi cần thiết.

Nhà kiểu thông th­ường: Có thể tận dụng nhà, trại có sẵn, bên trong dùng nilon che kín từng ô vuông cạnh 4-5m, cao 2-3m, chừa lỗ thoát khí để thông gió khi cần thiết (che lại bằng vải màn). Có thể bố trí nhiều giàn, mỗi giàn cách nhau 60cm và để lối đi 50cm. Nhà có thể lợp lá hoặc fibro xi măng.

Xử lý nguyên liệu

Rơm rạ sau khi thu hoạch có thể sử dụng ngay, tránh để ẩm mốc hoặc phơi khô chất đống để sử dụng lâu dài.

Làm ­ướt và ủ đống diệt khuẩn: có nhiều cách:

- Cho rơm rạ vào hồ chứa n­ước vôi trong, để rơm rạ chìm trong nư­ớc 20-30 phút, sau đó vớt ra ủ đống.

- Xếp rơm rạ thành từng lớp, dùng máy bơm nư­ớc liên tục, đạp dẫm lên rơm cho ­ướt đều. Tư­ới n­ước và chất rơm liên tục thành đống, rải vôi trực tiếp vào đống ủ hoặc t­ưới nư­ớc vôi, cứ 20cm t­ới (rải) 1 lần. Ph­ương pháp này ít tốn công lao động và dễ vận dụng. L­ượng vôi (dùng) 20-30 kg/tấn rơm, rạ (tương ứng 1 ha rơm). Đư­ờng kính đống ủ tối thiểu 2m, cao 2-2,5m. Nếu ủ đống lớn hơn phải cắm cọc ở giữa cho thoát hơi, nền đống ủ phải khô ráo, thoát n­ước tốt.

Sau 5-7 ngày đảo đống ủ, dùng cào sắt có răng đảo rơm từ trong ra ngoài, từ trên xuống d­ưới, t­ưới thêm n­ước và điều chỉnh độ ẩm thích hợp (70-80%). Sau 5-7 ngày tiếp theo (tức từ 10-14 ngày kể từ khi ủ đống) đem ra đóng mô và cấy giống. Rơm sau khi ủ đống có màu nâu sậm, mùi dễ chịu. Nếu ủ không chín hoặc chín không đều nấm dại sẽ phát triển, cạnh tranh dinh dư­ỡng hoặc gây bệnh, ảnh h­ưởng đến năng suất thu hoạch. Khi đảo đống ủ có thể bổ sung urê 0,5%, tư­ới đều trên đống ủ.

Đóng mô, cấy giống: Hiện nay phổ biến nhất là đóng mô theo khuôn. Với kích th­ước: đáy: dài 1,2m (hoặc 0,8m), rộng 0,4m, miệng: dài 1,1m (hoặc 0,7m), rộng 0,3m, cao 0,4m. Đặt khuôn theo diện tích hiện có sao cho thuận lợi đi lại chăm sóc và tiết kiệm diện tích.

Rải rơm rạ vào khuôn 10-15cm, dùng tay ém chặt, nhất là ở xung quanh thành khuôn, t­ưới n­ước vào đủ ấm và cấy giống. Cấy xung quanh mép khuôn, cách mép khuôn 4-5cm, tiếp tục đến lớp thứ 2, 3 (lớp trên cùng cấy đều khắp mặt mô và rải thêm 1 lớp rơm áo), sau đó đậy nilon giữ ẩm (1 khuôn = 1 bịch meo 250g).

Chăm sóc mô nấm: Sau 3-5 ngày đầu không cần t­ưới nư­ớc, đến ngày thứ 6 vỡ lớp nilon ra, cắt tơ, tưới nước vừa đủ ấm bằng bình phun s­ương (trong 1 ngày đêm t­ới 1-2 lít/10 mô/ngày đêm). Ngày thứ 8 trở đi có thể tăng l­ượng nư­ớc vì nấm đã xuất hiện và phát triển. Ngoài ra có thể sử dụng dinh d­ưỡng HVP bổ sung cho nấm.

Thu hoạch nấm


Nếu chăm sóc tốt đến ngày thứ 10 kể từ khi cấy giống thì bắt đầu thu hoạch. Lúc này nấm to bằng quả trứng.Đợt 1: thu hoạch vào ngày thứ 10-20 kể từ khi cấy giống; năng suất chiếm 70-80% của cả vụ. Đợt 2: sau khi thu hoạch xong đợt 1, nhặt hết gốc nấm, t­ới n­ớc và phủ nilon lại. Sau đó tiến hành chăm sóc nh­ đợt 1, năng suất cả vụ 15-20%. Năng suất biến động từ 10-20% so với khối l­ợng nguyên liệu khô; tùy theo chất l­ợng giống nấm, kỹ thuật trồng, yếu tố khí hậu và chất l­ợng nguyên liệu. Thu hoạch phải nhặt hết gốc nấm, tránh làm tổn th­ơng nấm nhỏ.

Vệ sinh sau thu hoạch

Sau khi thu hoạch phải dọn vệ sinh sạch sẽ, tư­ới n­ước vôi (CaCO3), xong đốt bột l­ưu huỳnh hay phun formol 0,5% trư­ớc khi đ­ưa nguyên liệu vào trồng lại 1 tuần.
Mô hình nhà trồng nấm

Kỹ Thuật Trồng Nấm Rơm

Đối với nấm rơm, không cần dùng phân bón gì thêm. Vì rơm rạ khi phân hủy đủ cung cấp dinh dưỡng cho cây nấm phát triển.

I. Thời vụ trồng nấm

Nấm rơm có thể trồng được quanh năm. Mùa Đông Xuân, giáp Tết Nguyên đán, có gió lạnh thì phải chắn gió, giữ ấm và làm mô nấm lớn hơn. Mùa mưa cần làm mái che hoặc tủ rơm dầy hơn để giảm độ ẩm, làm nền mô cao để tránh ngập úng. Ở những nơi có nhiều gió, gió mạnh cần làm rào chắn gió, bố trí các mô nấm thẳng góc với hướng gió.

II. Chuẩn bị rơm


Cách ủ rơm thành đống. Cách này áp dụng được cho cả rơm tươi và khô. Các bước tiến hành:

Rơm được chất thành đống, chiều rộng 1,5-2m, chiều dài 4-8m. Khi chất đống, cứ mỗi lớp rơm cao 20-30cm tưới nước để cho rơm thấm đều và dùng chân dậm cho dẽ, tiếp tục chất các lớp tiếp theo cho đến khi đống rơm có chiều cao 1,3-1,5m. Sau đó lấy nylon, rơm khô hoặc lá chuối tủ chung quanh để giữ ẩm và giữ nhiệt. Vài ngày sau khi ủ, nhiệt độ trong đống ủ lên cao khoảng 60- 70oC. Nhiệt độ sẽ làm chết các mầm nấm dại và phân hủy một phần chất hữu cơ trong rơm rạ, giúp cho nấm rơm dễ hấp thu chất dinh dưỡng, phát triển thuận lợi sau này.

Sau khi ủ rơm từ 10-12 ngày, khi đó đống rơm ủ xẹp xuống, chiều cao khoảng 0,8-1,0m. Lúc này có thể đem rơm chất ra luống.

Cách xử lý nước vôi trước khi ủ. Cách này được áp dụng cho rơm, rạ đã khô. Rơm, rạ được nhúng vào nước vôi, pha với tỉ lệ 3 kg vôi cho 100 lít nước. Ngâm rơm vừa đủ ngập. Mục đích diệt nấm tạp, tẩy rửa chất phèn, chất mặn trong rơm rạ.

Thời gian ngâm trong nước vôi từ 20-30 phút, sau đó vớt ra, để ráo nước, chất thành đống với chiều rộng 1,5-2m, chiều dài 4-8m. Cần dậm nhẹ cho dẽ, lấy nylon, rơm hoặc lá chuối tủ quanh để giữ ẩm và giữ nhiệt.

Thời gian ủ 5-6 ngày: Trong thời gian đầu, sau khi chất đống 2-3 ngày, trở rơm một lần. Nếu rơm quá ướt, cần giảm bớt dụng cụ đậy bên ngoài. Nếu rơm bị khô, cần bổ sung thêm nước vôi với tỉ lệ 3 kg vôi cho 100 lít nước, tưới vừa đủ.

Đến ngày thứ 5-6 kiểm tra lại đống rơm. Rơm đủ ướt, khi vắt vài cọng thấy có nước nhỏ vài giọt là tốt nhất.

Rơm đã đủ điều kiện để chất nấm phải đạt yêu cầu:

- Rơm rạ mềm hẳn.
- Có màu vàng tươi.
- Có mùi thơm đặc trưng của rơm rạ khi lên men.

III. Chọn meo giống

Là khâu quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất trồng nấm. Chọn meo giống tốt, đúng tuổi, không nhiễm tạp khuẩn sẽ cho năng suất cao và chất lượng nấm tốt.

Tiêu chuẩn bịch meo tốt: Sợi tơ nấm màu trắng trong, mở nắp bịch có mùi tương tự như nấm rơm. Tơ nấm phát triển đều khắp mặt trong bịch meo. (Riêng một số meo giống, khi tơ trưởng thành, bắt đầu kết tụ lại thành những hạt màu đỏ nâu vẫn cho năng suất tốt). Một bịch meo giống nặng trung bình 120g, có thể gieo trên mô nấm rộng 0,5m, cao 0,4- 0,5m, chiều dài liếp 4-5m.

Chú ý khi chọn meo giống: Không chọn sử dụng bịch meo có đốm màu nâu, đen, vàng cam vì đã bị nhiễm nấm dại. Không chọn bịch meo phía dưới đáy bịch bị ướt, bị nhão và có mùi hôi chua.

Xếp mô & rắc meo giống

Lấy rơm trong đống đã ủ: Dỡ bỏ lớp rơm ngoài mặt đống ủ.Lấy rơm đã ủ bên trong mang đi xếp mô trồng nấm, cố gắng xếp hết trong ngày phần rơm đã dỡ lớp đậy khi ủ.

IV. Chất mô nấm

Cách 1: Rãi một lớp rơm đã ủ lên mặt liếp, tiếp đó tưới nước. Dùng tay đè dẽ dặt sao cho có chiều rộng theo mặt liếp khoảng 50cm, chiều cao 20cm. Rãi meo giống dọc hai bên luống, cách mép luống 5-7cm. Tiếp tục lặp lại thao tác trên cho lớp rơm thứ 2, thứ 3... Nếu ủ ba lớp thì phía trên không rãi men giống, chỉ rãi rơm khô dầy 4-5 cm. Tưới nước đè dẽ dặt, vuốt mặt ngoài cho mô láng, gọn. Vuốt mô không gọn, mặt ngoài mô không láng khi thu hoạch nấm sẽ làm hư các nụ nấm nhỏ, làm giảm năng suất.

Cách 2: Rơm sau khi ủ chín được cuốn thành từng bó, đường kính 15-20cm, chiều dài từ 45-50cm, xếp dẽ dặt từng lớp. Sau mỗi lớp rơm, rãi meo dọc hai bên luống, cách mép luống 5-7cm, tiếp tục xếp như trên cho lớp rơm thứ 2, thứ 3... Nếu chỉ ủ ba lớp thì phía trên chỉ rãi rơm khô dầy 4-5cm, tưới nước đè dẽ dặt, vuốt mặt ngoài cho mô láng, gọn.

Lưu ý: Tùy theo mùa, thay đổi độ dầy khi đậy mô cho thích hợp. Mùa nắng: Tủ rơm mỏng để thoát nhiệt. Mùa mưa, mùa lạnh: Tủ rơm dầy để giữ nhiệt và chống thấm nước.

V. Chăm sóc và thu hoạch:

Chăm sóc mô nấm

Đối với nấm rơm, không cần dùng phân bón gì thêm. Vì rơm rạ khi phân hủy đủ cung cấp dinh dưỡng cho cây nấm phát triển.

Theo dõi nhiệt độ và ẩm độ là khâu quan trọng nhất trong quá trình sản xuất. Ẩm độ là yếu tố hàng đầu, vì ẩm độ giúp quá trình phân hủy rơm rạ thuận lợi từ đó sẽ tạo nhiệt độ trong mô nấm. Nếu ẩm độ dư, thừa nước: Nhiệt độ sẽ giảm, mô nấm bị lạnh. Nếu độ ẩm thiếu, mô bị khô nhiệt độ tăng.

Giữ ẩm độ thích hợp: Khi kiểm tra mô nấm, rút một nắm (khoảng 15-20 cọng) rơm ở giữa luống, bóp chặt trong lòng bàn tay, nước hơi rịn qua kẽ tay là vừa.

Nếu nước không rịn qua kẽ tay là khô, phải tưới nước. Nếu thấy nước chảy qua kẽ tay thành giọt là dư nước, phải ngưng tưới nước và ngày đó phải dỡ áo mô cho nước bốc hơi. Trong mùa mưa phải làm mái che sau khi dỡ áo mô.

Điều chỉnh nhiệt độ bằng cách tưới nước và đậy mô: Khi kiểm tra mô nấm, thấy nhiệt độ tăng, rơm ủ thiếu nước cần dùng thùng vòi sen tưới cho mô nấm. Tránh dùng vòi nước mạnh sẽ làm hư những sợi tơ và nấm nhỏ. Nếu chỉ tăng nhiệt độ mà không thiếu nước, phải giảm rơm áo bị ướt thay bằng rơm khô để giảm sức nóng và thoát bớt nhiệt.

Khi kiểm tra mô nấm thấy nhiệt độ giảm, mô bị lạnh: Ngưng tưới nước, dỡ bớt áo mô, mái che nắng... để giúp mô hấp thu được nhiều nắng. Nếu là mùa mưa, cần dùng nylon, màng phủ nông nghiệp (đậy phía đen lên trên) để mô nấm giữ nhiệt, tăng nhiệt độ bên trong.

Đảo rơm áo mô: Sau khi chất mô 5-8 ngày, dỡ rơm áo ra, xốc cho tơi và đậy trở lại cho mô nấm. Cần phải đảo áo mô để tránh tơ nấm ăn lan ra ngoài, không tạo được nấm.

VI. Thu hái nấm rơm

Sau khi ủ rơm 10-14 ngày có thể thu hoạch: thời gian thu hái nấm, tùy loại meo và cách ủ. Nấm ra rộ vào ngày thứ 12-15; sau đó 7-8 ngày ra tiếp đợt 2 và thu hái trong 3-4 ngày thì kết thúc vụ trồng nấm ( 25-30 ngày).

Thời điểm hái nấm: Thu hái mỗi ngày 2 lần. Lần thứ 1 vào sáng sớm trước 6 giờ. Thu hái lần thứ 2 vào khoảng 14-15 giờ chiều.

Chọn nấm đủ tiêu chuẩn để hái: Nấm rơm phát triển liên tục và nhiều cây dính vào nhau. Cần phải chọn lựa để hái những cây còn búp, hơi nhọn đầu. Cách hái, xoay nhẹ cây nấm, tách ra khỏi mô. Không nên để sót chân nấm trên mô, vì phần chân nấm khi thối rữa, sẽ làm hư các nụ nấm kế bên. Sau khi hái xong, đậy kỹ áo mô lại.

Thời gian thu hoạch nấm thường 7-10 ngày. Năng suất trung bình 1,5kg nấm tươi trên 1m liếp nấm.

Nấm sau khi thu hái cần tiêu thụ ngay trong 2-3 giờ. Nếu muốn để ngày hôm sau cần bảo quản ở nhiệt độ từ 10-15oC.
Kỹ thuật trồng nấm rơm

Quy Trình Trồng Nấm Đông Cô

Nấm hương là vị thuốc trường thọ cũng là loại thức ăn giàu protein nhất ,nó đem lại cho con người sức khỏe dồi dào

 I. Đặc điểm hình thái:
Nấm hương hay nấm đông cô có tên khoa học là lentinus edodes (berk)Sing
Tai nấm đông cô có cấu trúc hình tán dù
Không có vòng cổ và bao gốc

II. Quy trình trồng nấm đông cô

1. Chọn gỗ

- Chọn cây thân gỗ mềm, không có chứa tinh dầu ,độc tố, và không sâu bệnh
- Tốt nhất nên dùng gỗ tươi để trồng nấm.
- Gỗ thường được đốn vào đầu mùa thu đến mùa xuân.

2. Cắt khúc:
Sau khi đã chọn thân gỗ tiến hành cắt thành từng khúc:
+ Đường kính:  5-20cm
+ Chiều dài:      1.0- 1.2m

Chú ý: không làm sây xát lớp vỏ

3. Xử lí gỗ khúc:
- Các đoạn gỗ đạt tiêu chuẩn như trên đem đi rửa sạch
- Dùng nước vôi đặc quét vào 2 đầu đoạn gỗ

Mục đích: Chống nhiễm khuẩn và sự xâm nhập nấm dại vào khúc gỗ
Xư lý gỗ trồng nấm đông cô - nấm hương
Rửa sạch và quét vôi lên 2 đầu gổ
4. Xếp gỗ để ráo nhựa:
Sau khi xử lí xong, xếp gỗ vào những cây có tán hoặc mái hiên để phơi gỗ khoảng 7-15 ngày
Mục đích: làm xe nhựa trong cây để sau này không ảnh hưởng đến sự phát triển của sợi nấm
Phơi gỗ trồng nấm từ 7-15 ngày
Phơi gỗ trồng nấm từ 7-15 ngày, tùy theo nhiệt độ và độ ẩm môi trường
5. Đục gỗ và vô meo:
Đục gỗ: tùy theo đường kính cây mà sỗ hàng đục lỗ trên gỗ khúc nhiều hay ít
Lấy búa chuyên dùng hoặc lấy khoan tạo lỗ trên đoạn gỗ: đường kính 1.5 cm, sâu 3-4 cm, cứ cách 15-20cm tạo một lỗ, hàng nọ cách hàng kia 7-10 cm, các lỗ so le nhau

Cấy giống: tra giống gần đầy miệng lỗ, dùng phôi gỗ đã tạo ra làm nắp đậy(chiều dày bằng chiều dày của vỏ cây),lấp kín lớp giống cấy. Phía ngoài dùng ximăng hòa thành bột giống như vữa trát tường quét trên miệng nắp để bịt kín miệng lỗ.
KHoan tạo lỗ trồng nấm
Khoan tạo lỗ trồng nấm
6.Xếp gỗ và nuôi sợi:
Xếp gỗ: gỗ khúc sau khi cấy giống được xếp vào trong nhà để nuôi ủ, xếp theo kiểu hình khối, cách mặt đất 15-20cm,cao 1,5m chiều dài tùy theo khối lượng gỗ đem trồng ,phía trên cùng dùng bao tải gai dấp ướt để ráo nước phủ kín toàn bộ đống

Nuôi sợi: thường xuyên tưới nước, lượng nước chủ yếu chỉ làm ướt bao tải

7. Đảo gỗ:
Thời gian nuôi sợi 8-11 tháng(tùy vào từng loại gỗ), cứ 2 tháng đảo gỗ 1 lần
Lưu ý: khi đảo cần kiểm tra độ ẩm,các mầm bệnh lây lan. Nếu thấy gỗ quá khô cần dùng bình để phun nước nhẹ xung quang thân gỗ, sau đó ủ đống trở lại

8. Ra giàn gỗ:
Nhận biết khúc gỗ kết thúc giai đoạn nuôi ủ:
- Khi vỏ khúc gỗ sần sùi như da cóc
- Vỏ có vết rạng trắng như chân chim
Kết thúc thời kì nuôi sợi ta chuyển vào nhà trồng, xếp theo hình giá súng hoặc dụng đứng tùy thuộc điều kiện nhà trồng
Giàn gỗ trồng nấm rơm
Giàn gỗ trồng nấm rơm
9. Chăm sóc- thu hái:

Chăm sóc: tiến hành điều chỉnh ,độ ẩm nhà trồng 65-68%,ánh sáng khuyếch tán đều trên các mặt của khúc gỗ,nhiệt độ 10-20°C
Thu hái: khi cuống nấm dài3-5cm, quả thể hình dù, dưới mũ có lớp màng mỏng bám vào thân nấm, thì ta cần thu hái ngay
Khi hái: nắm chân xoay nhẹ hoặc dùng dao để cắt, tránh làm tổn thương lớp vỏ và sót thịt quá nhiều
Thời gian thu hái: 3-6tháng/năm. Khi nhiệt độ trên 20°C cần xếp gọn gỗ lại rồi ươm như ban đầu cho đến chu kì lạnh thì chăm sóc- thu hái
Thu hoạch nấm hương
Thu hoạch nấm đông cô
IV NHỮNG BỆNH THƯỜNG GẶP
Trong thời gian ươm :xuất hiện một số loại sâu bệnh hại nấm: côn trùng,nấm mốc, chuột…khi phát hiện thấy các đoạn gỗ bị bệnh thì nên cách li khỏi đống ủ

Kỹ Thuật Làm Meo Giống Nấm Rơm

Để làm meo dùng chai thủy tinh trong suốt hay bao túi PP kích thước nhỏ, chịu được to và áp xuất cao

Kĩ thuật bao gồm: 3 giai đoạn.

1/ Meo giống cấp 1: Giai đoạn đầu tiên

a/ Môi trường cấp 1: Môi trường căn bản thường dùng nhất là P.D.A gồm khoai tây 300g, Glucose 20g, Agar 20g, Nước cất sạch cho đủ 1 lít. Khoai tây rửa sạch cắt khối vuông nhỏ 1 cm3 nấu chín lọc xác lấy nước, cho Agar vào nước khoai tây nấu và khuấy cho tan đều, thêm glucose vào và bổ sung nước cho đủ 1 lít. Sau khi kiểm tra pH xong cho vào ống nghiệm. Để nguội, làm nút bông quấn giấy bao nút lại. Hấp khử trùng ở áp suất 0,8 – 1 atm trong 1 giờ.

b/ Phân lập giống nấm: Giống thuần có thể thu nhận từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu từ bào tử hoặc từ mô thịt nấm.
Nấm rơm: Chọn tai nấm ở dạng hình trứng, gọt sạch gốc,lau nấm và tay người cấy bằng Alcool, khử trùng dao cấy, xẻ đôi tay nấm, dùng dao cắt 1 miếng ở phần thân gần mũ nấm cho vào ống nghiệm tiến hành ở điều kiện vô trùng với đèn cồn.

c/ Ủ tơ: ủ tơ nơi ấm, 4-5 ngày đầy ống nghiệm; tơ nấm thuần phát triển, đầy ống thì nhân nhiều ra bằng cách cấy truyền. Không được cấy truyền giống quá 3 lần.
Làm meo nấm rơm - Tơ nấm rơm trong môi trường cấp 1
Tơ nấm trên môi trường cấp 1 ( Ảnh: Xuân Đông)
2/ Meo giống cấp 2:
Thường gọi là meo bó là dạng giống chuyển tiếp sang meo thành phẩm cấp 3. Mục đích của meo bó: cây meo bó dài được đặt thẳng trong bịch meo cấp cấp III giúp meo phát triển đồng đều, sợi meo trong bịch có cùng tuổi.

a/ Nguyên liệu: Chọn rơm lúa mùa có cọng dài, thích hợp để tơ phát triển, tuốt bỏ bớt lá, cắt khúc khoảng 12cm, lấy 8-10 cọng dùng dây nylon tước nhỏ cột quấn chung quanh thành 1 bó nhỏ. Hoặc thân cây mì: Lựa thân cây mì già róc hết vỏ xanh, chặt khúc khoảng 12cm chẻ thành thanh nhỏ, róc bỏ ruột, phơi nắng cho thật khô. Bảo quản 1 thời gian ngắn không để lâu quá dễ bị mọt. Hoặc có thể dùng lúa.

b/ Môi trường: 1kg rơm bó (thân mì) (lúa) ngâm trong nước vôi 1%, bột bắp 150g và cám 50g nấu đặc trộn vào rơm bó (thân mì) (lúa).
c/ Ấp khử trùng: 1,5 atm/giờ.
d/ Cấy meo: Từ ống nghiệm meo cấp I, dùng dao cấy cắt 1 phần thạch có meo chuyển vào chai meo bó trong điều kiện vô trùng.
e/ Ủ meo: 15-25 ngày to 30-35oC
f/ Chọn giống: Chọn chai phát triển nhanh không bịch; loại bỏ chai xấu, bịch.
Làm meo nấm rơm - Tơ nấm rơm trong môi trường cấp 2
Tơ nấm trên môi trường cấp 2 (Ảnh: Xuân Đông)
3/ Meo giống cấp 3
a/ Bao bì: Để làm meo dùng chai thủy tinh trong suốt hay bao túi PP kích thước nhỏ, chịu được to và áp xuất cao. Để làm bịch tưới trồng dùng túi P.E kích thước 22x 36cm.

b/ Nguyên liệu: dùng 1 trong số các nguyên liệu rơm, rạ, trấu, mạt cưa, cùi bắp. Bắp, cám, tốt , mới ,khô, không ẩm, không mốc.

c/ Môi trường: Rơm, rạ 1kg, cám 50g, bắp 150g, nước vôi 1%. Rơm rạ cắt ngắn 2-3cm phơi thật khô, trước khi làm meo ngâm nước vôi 1%, khoảng 2 giờ vớt ra để ráo nước đến khi đủ độ ẩm. Bắp,cám trộn nước vôi đủ độ ẩm trước khoảng 2 giờ. Trộn đều các nguyên liệu, dậm đạp cho mềm, xong cho vào chai hay bịch.

d/ Khử trùng: Hấp khử trùng chai meo và meo bịch PP ở 1,5 atm/1 giờ. Hấp khử trùng bịch trồng PE 90 – 100 oC trong 4 – 6 giờ.
e/Cấy meo: Trong điều kiện vô trùng, lấy 1 cây meo bó cho vào bịch môi trường hay chai môi trường đã hấp.
f/Ủ meo: Nấm rơm, 30 – 350C, 6 ngày đầy và sử dụng 6 – 10 ngày.
g/Chọn meo: Chăm sóc meo thường xuyên để loại bỏ meo nhiễm ngay.
Làm meo nấm rơm - Tơ nấm rơm trong môi trường cấp 3
Tơ nấm trên môi trường cấp 3 ( Ảnh: Xuân Đông)

Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

Những Sự Kết Hợp Của Thưc Phẩm Và Thuốc Có Hại Cho Sức Khỏe

Dưới đây là những sự kết hợp nguy hiểm giữa thuốc và thực phẩm nên bạn cần tránh

1. Chanh và thuốc  ho

Những loại thực phẩm và thuốc kỵ nhauChanh, bưởi và cam có thể phá vỡ một loại enzyme phân hủy statin và một số loại  thuốc khác, bao gồm thuốc ho dextromethorphan. Thuốc sau đó sẽ tích tụ trong máu bệnh nhân nên nguy cơ bị ảnh hưởng tác dụng phụ tăng lên, Mary Ellen Gullickson – dược sĩ ở Phòng khám Marshfield, tiểu bang Wisconsin, Mỹ – cho biết. Với dextromethorphan, tác dụng phụ sẽ là ảo giác và buồn ngủ còn với nhóm statin, bạn có thể bị tổn thương cơ nghiêm trọng.

2. Các sản phẩm sữa và thuốc kháng sinh

Một số kháng sinh, bao gồm Cipro tác dụng với canxi, sắt và các khoáng chất khác trong các thực phẩm làm từ sữa. “Điều này ngăn cản sự hấp thu của kháng sinh làm giảm khả năng chống nhiễm trùng”, Tiến sĩ Gullickson nói. Vì vậy, bệnh nhân tránh dùng sữa, pho mát, sữa chua 2 giờ trước và sau khi uống thuốc. Ngoài ra, sữa cũng có những tác dụng không mong muốn tương tự đối với vitamin và khoáng chất.

3. Thịt xông khói và thuốc chống trầm cảm


Hãy kiểm tra kỹ nhãn hiệu loại thuốc chống trầm cảm của bạn trước khi dùng. Nếu thuốc bạn đang dùng thuộc loại thuốc ức chế enzyme monoamine oxidase (MAOIs ) – dưới các nhãn hiệu Marplan, Nardil, Emsam hoặc Parnate…, khi kết hợp với những thực phẩm giàu axit amin tyramine có thể khiến huyết áp thay đổi đột ngột, đe dọa tính mạng. Danh sách này không chỉ có thịt xông khói mà còn xúc xích, rượu vang, dưa cải, pho mát để lâu năm, nước tương, bia hơi….

4. Chocolate và Ritalin

Bên cạnh caffeine, chocolate cũng chứa một chất kích thích gọi là theobromine, Tom Wheeler – chuyên gia về thuốc lại Trung tâm Y tế Chicago (Mỹ) – cho biết. Vì vậy, kết hợp nhiều chất kích thích như chocolate và thuốc chống tâm thần Ritalin vào cơ thể người có thể dẫn đến những hành vi bất thường, co giật.

5. Nước ép táo và thuốc chống dị ứng

Hãy tránh nước ép táo, cam, bưởi trong vòng 4 giờ trước và sau khi bạn đã uống thuốc Allegra (fexofenadine) khi sốt mùa hè, chuyên gia Gullickson khuyên. Các loại nước này chứa một axit amin vận chuyển thuốc từ ruột vào máu. Kết quả, việc hấp thụ Allegra giảm tới 70%, giảm tác dụng chảy mũi và ngăn hắt hơi, Tiến sĩ Tom Wheeler nói.

6. Quế và thuốc chống đông máu warfarin

Quế chứa hàm lượng cao chất có tên coumarin có thể khiến máu loãng, nếu dùng nhiều có khả năng gây tổn thương gan, bác sĩ Eric Newman từ Trung tâm Y tế TP Mercy ở TP Baltimore (Mỹ), nói. Vì vậy, không nên dùng quế trong thời gian dùng thuốc chống đông máu.

7. Rượu và acetaminophen (Paracetamol)

Rượu sẽ làm tăng tác dụng của các men chuyển chất thuốc thành chất chuyển hóa Acetylbenzoguinoneimin, gây độc hại cho gan, thận. Nói chung, không nên sử dụng bất cứ loại thuốc nào trong vòng 6 tiếng trước và sau khi uống rượu.

Những Cách Chế Biến Với Rau Quả Cần Tránh

Nấu ăn ngon, trình bày đẹp đẽ chưa đủ mà các món ăn còn cần phải được kết hợp đúng cách. Vì có những loại thực phẩm không thể ăn cùng một lúc đươc vì tương khắc với nhau, có thể gây những phản ứng không tốt cho sức khỏe đôi khi còn nguy hại đến tính mạng

1. Cà rốt với củ cải

Củ cải và cà rốt nấu cùng nhau không tốtHàm lượng lượng vitamin C có trong củ cải sẽ bị các enzyme trong carrot phá hủy. Bởi thế, chúng ta sẽ không thể hấp thụ hết lượng vitamin C, có thể ảnh hưởng đến làn da

2. Cải bó xôi và tôm

Trong cải bó xôi có chứa rất nhiều axit Phytic. Axit này sẽ liên kết với canxi tạo thành muối. Kết quả là canxi chẳng được hấp thụ vào cơ thể mà thậm chí vì lý do sức khỏe, cơ thể trẻ sẽ còn “trục xuất” các hợp chất muối mới này dưới hình thức chất thải.

3. Đậu phụ với rau chân vịt ( bó xôi)

Acid oxalic và sắt, mangie xung khắc với nhau: Đậu phụ kỵ ăn cùng với rau chân vịt vì trong đậu phụ có chứa magnesium chloride, calcium sulfate, còn trong rau chân vịt lại chứa acid oxalic, hai chất này gặp nhau sẽ tạo thành magnesium oxalate và calcium oxalate. Hai chất lắng đọng màu trắng này không được cơ thể hoan nghênh, không những ảnh hưởng tới sự hấp thụ canxi của cơ thể mà còn dễ bị kết sỏi

4. Khoai tây – khoai lang kị cà chua

Trong cà chua có chứa nhiều chất toan, khoai lang và khoai tây là những thực phẩm no lâu, khi ăn các thực phẩm này cùng với nhau sẽ khiến dạ dày khó tiêu hóa.

5. Khoai lang với trái hồng

Trong trái hồng có chứa vị chát (tanin) và pectin. Khi ăn khoai lang cùng với hồng, tinh bột trong khoai lang sẽ tiết ra nhiều vị toan lẫn với chất tanin và pectin trong hồng, hình thành sỏi dạ dày.
Nếu tình trạng nặng sẽ gây loét và chảy máu dạ dày. Những người bị đau dạ dày phải chú ý hơn để tránh ăn cùng lúc những món này

6. Rau kinh giới với thịt gà

Rau kinh giới dùng chung với thịt gà sẽ gây ra chứng đầy bụng, khó tiêu. Nếu ăn thường xuyên có thể khiến bạn khó đi ngoài

7. Giá đậu với gan lợn

Có đến 2,5mg đồng trong khoảng 100gr gan lợn. Bên cạnh đó, giá lại chứa nhiều vitamin C. Nếu bạn xào giá cùng với gan lợn, trong thời gian tiêu hóa, vitamin C sẽ bị ô-xy hoá. Giá sẽ biến thành chất bã, không còn giá trị dinh dưỡng nữa.

8. Tỏi với trứng vịt

Tỏi có thể biến thành chất độc gây hại cho cơ thể khi kết hợp chung với trứng, đặc biệt là khi tỏi dùng để khử quá cháy sém

9. Dưa chuột vớicác món chứa nhiều vitamin C


Trong dưa chuột chứa một loại men làm phân giải vitamin C. Khi ăn dưa chuột với các món có vị chua như cam, quít, sơ-ri, bưởi.., chất men này sẽ làm mất lượng vitamin C vừa nạp vào cơ thể

10. Củ cải trắng vớicác loại lê, táo, nho


Ceton đồng có trong những loại trái này phản ứng với acid cianogen lưu huỳnh có trong củ cải khiến người ăn bị suy tuyến giáp trạng và bướu cổ

11.  Cà rốt, rau cần với gan động vật

Tuyệt đối không dùng cà rốt, rau cần xào nấu chung với gan động vật hoặc ăn loại rau, củ này sau khi đã ăn gan động vật. Lý do là trong gan động vật, hàm lượng đồng, sắt và một số nguyên tố kim loại khác khá cao. Các ion kim loại rất dễ làm cho vitamin C có trong loại rau, củ, quả này bị ôxy hóa và mất hết công hiệu. Ngoài ra loại rau, củ, quả này chứa nhiều chất cellulose và acid oxalic ảnh hưởng tới sự hấp thụ sắt  trong cơ thể của trẻ.

12. Thịt cùng đậu nành

Trong thịt và đậu nành đều chứa rất nhiều đạm, hàm lượng đạm sẽ tăng lên nên nếu nấu chung trong một bát cháo. Không tốt cho hệ tiêu hóa

13. Đỗ đen với thịt bò

Khi nấu cùng đỗ đen, chất sắt có trong thịt bò sẽ bị mất đi. Vì vậy, sẽ khó mà hấp thu được lượng sắt có trong thịt bò.

14.  Nước hoa quả chua kị sữa bò

Trong sữa bò chứa nhiều protein, trong đó 80% là các chất cazeine. Khi sữa bò pha lẫn hoặc uống cùng với nước trái cây chua sẽ làm cho chất cazeine kết dính, lắng đọng lại làm cho khó tiêu và rối loạn tiêu hóa .

15. Thịt dê với nước trà

Thịt dê rất gìau protein. Sau khi ăn thịt này, nếu bạn dùng ngay một tách nước chè, chất a-xit tanin từ chè sẽ kết hợp với protein trong thịt, tạo thành chất tanalbit.
Chất này làm se niêm mạc ruột, giảm nhu động ruột, khiến ruột tích tụ nhiều chất có hại, dẫn đến táo bón, gây nguy cơ ung thư.

Cây Ráy Gai Chữa Ho Do Hen Suyễn

Đông y cho rằng, thân rễ cây ráy gai có vị cay, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi niệu, tán ứ, được coi là vị thuốc hay. Ráy gai có thể chữa nhiều bệnh.

Cây ráy gaiCây ráy gai còn gọi là chóc gai, dã vu, hải vu, sơn thục gai hay cây cừa, cây móp (Nam bộ), rau mác gai, rau chân vịt, tên khoa học Lasia spinosa Thwaites thuộc họ Ráy (Araceae), là loại cây mọc hoang khắp nơi ở những vùng ẩm ướt, trên có tán che như ruộng nước, bờ ao, ven suối.

1. Mô tả cây ráy gai

Cây nhỏ, thân rễ nằm ngang. Cuống lá dài, có nhiều gai, lá mọc thẳng từ thân rễ. Lá non hình mũi tên, lá già xẻ lông chim, mép nguyên. Mùa hoa quả vào tháng 3 – 4 hằng năm; cụm hoa là một bông hoa nang, hoa cái ở gốc, hoa đực ở trên. Quả mọng.

Thân rễ cây ráy gai được thu hái vào mùa đông, dùng làm thuốc sau khi đã rửa sạch phơi khô, cũng có thể thái thành lát mỏng rồi phơi khô. Nhân dân thường dùng chữa ho, đau họng, phù thũng, tê thấp, suy gan hay di chứng do sốt rét… Theo kinh nghiệm dùng các vị còn tươi tốt hơn đã phơi khô.

2. Những bài thuốc vị thuốc có dùng cây ráy gai

Cây ráy gai chữa bệnh* Chữa lở ngứa ngoài da: Dùng cả cây ráy gai hoặc phần thân rễ nấu nước tắm rửa rất hiệu quả. Ngày 1 lần.

* Chữa trẻ nhỏ da lở loét do thai độc:
 Dùng cả cây ráy gai hoặc phần thân rễ nấu nước tắm rửa chữa lở ngứa, sau rắc bột thân rễ lên chỗ da bị bệnh, rất hiệu quả.

* Chữa viêm gan, xơ gan: Dùng 30g thân rễ ráy gai khô (tươi khoảng 100g); trái dứa dại khô 30g (tươi 100g); chó đẻ răng cưa khô 10g (tươi 30g). Cho các vị vào nấu với 2.000ml nước, đun nhỏ lửa khi nước còn 300ml thì chắt ra. Chia 3 lần uống trong ngày rất hiệu quả (theo dân gian dùng tươi tốt hơn hẳn khô).

* Chữa viêm gan: Ráy gai 12g, chó đẻ răng cưa 20g, nhân trần 12g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 – 3 lần.

* Chữa tê thấp, lưng, gối cẳng chân tê buốt rất hiệu quả: Dùng thân rễ ráy gai 12g, cẩu tích 12g, kê huyết đằng 12g, kim cang 12g, ngưu tất 12g, tỳ giải 12g, sắc nước uống trong ngày. Cần dùng 5 – 7 thang liền.

* Chữa ho do hen suyễn: Lấy ráy gai 12g, lá dâu 20g, hạt cải củ 12g; sắc uống ngày một thang, chia 2 – 3 lần.

* Chữa phù thũng: Ráy gai 12g, tỳ giải 20g, râu ngô 20g, mã đề 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 – 3 lần.

* Chữa đau quặn thận: Rễ ráy gai, kim tiền thảo, mã đề mỗi thứ 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 – 3 lần.

* Phương thuốc này chữa mụn nhọt hiệu quả (mụn mới mọc sẽ tan. Mụn đã mưng mủ thì dùng loại cao dán này có tác dụng hút mủ): Dùng một củ ráy dại tươi khoảng 80 – 100g, một củ nghệ khoảng 60g. Gọt sạch vỏ củ ráy, giã nát cùng với nghệ. Sau đó cho dầu vừng vào nấu nhừ rồi thêm dầu thông và sáp ong vào khuấy cho tan. Để nguội bôi lên giấy, dán vào nơi mọc mụn.

Trái Đậu Bắp Trong Trị Bệnh Tiểu Đường

Người mắc bệnh tiểu đường hàng ngày sử dụng nhiều trái đậu bắp trong thức ăn hay dùng thân, lá hoặc chính trái trái đậu bắp phơi khô, rồi sắc uống để chữa bệnh tiểu đường.

Trái đậu bắp trị được bệnh tiểu đường ?

Trái đậu bắp hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đườngChữa Bệnh Tiểu đường không thể dùng  độc vị thuốc là có thể chữa khỏi được, mà phải xem nguyên nhân của bệnh thuộc về thượng tiêu,hay trung tiêu bị ảnh hưởng, hoặc có khi cả thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu đều bị ảnh hưởng hết, có người bị dương suy, có người bị âm suy, không giống nhau, thì cách điều trị khác nhau.

Theo các nhà Đông Nam dược, từ lâu trong dân gian nhiều người đã có kinh nghiệm dùng trái đậu bắp hoặc phối hợp đậu bắp với một số thảo dược khác trong việc điều trị ổn định đường huyết, kết quả cho hiệu quả rất tốt. Người mắc bệnh tiểu đường hàng ngày sử dụng nhiều  trái đậu bắp trong thức ăn hay dùng thân, lá hoặc chính trái trái đậu bắp phơi khô, rồi sắc uống để chữa bệnh tiểu đường. Cũng có thể dùng phối hợp với một số thảo dược như khổ qua, lá ổi, lá sakê…. trong việc điều trị bệnh này.

Chất nhầy trong trái đậu bắp có thành phần chất xơ hòa tan và những hoạt chất giúp ổn định đường huyết. Chất này tiết ra ngoài thông qua những mặt cắt ngang, dọc thân quả và dễ hòa tan vào môi trường nước, kể cả nước ở nhiệt độ thường. Qua nhiều giờ ngâm, chất nhầy hòa tan vào nước thể hiện rõ qua độ sánh trong nước tăng lên, bằng cách cắt và để tiết ra nước ngâm qua đêm, cũng đủ tác dụng ổn định đường huyết thay vì phải sắc uống hoặc ăn đến vài trăm gam như trước đây, và nếu dùng 2 hoặc 3, 4, 5 trái đậu bắp là tùy thuộc vào trái lớn nhỏ và cơ địa mỗi người.

Khi uống hàng ngày như vậy nên theo dõi lượng đường huyết để đối chiếu kết quả và tìm ra liều lượng tối thiểu phù hợp với bản thân. Vì trái đậu bắp là loại rau quả bổ dưỡng, nên nếu dùng nhiều hơn số cần thiết vẫn không gây độc hại. Ngoài ra, người sử dụng cần tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị trong việc phối hợp và gia giảm liều lượng với các loại thuốc tây đang dùng.

Hạt đậu bắp cũng là nguồn cung cấp chất đạm và chất béo tốt. Từ xưa trong dân gian nhiều nơi đã biết sử dụng rễ, thân, lá, và quả non của đậu bắp để trị một số bệnh trong đó có chứng tiểu khó, ho khan, viêm họng, giúp tiêu hoá tốt chữa trị loét dạ dầy, giúp cơ thể bài trừ độc tố bảo vệ gan.

Hiệu nghiệm nhất thời

Tuy nhiên, Lương Y Võ Hà cũng rất dè đặt đưa ra kết luận về công dụng chữa trị bệnh tiểu đường của tất cả các loại thuốc dù thuốc Bắc, thuốc Tây, hay thảo dược đều chỉ có tác dụng giúp ổn định đường huyết trong nhất thời, mà không thể chữa dứt căn bệnh ngay tức khắc. Nhưng chúng khác nhau ở chỗ, có gây ra những phản ứng phụ hay không, hoặc có đem lại tác dụng giúp cải thiện chức năng của các cơ quan, hoặc tăng cường sức đề kháng của cơ thể hay không. Việc chữa trị bệnh tiểu đường về lâu về dài cần phối hợp với việc thường xuyên vận động, sử dụng các thực phẩm tự nhiên có nhiều chất xơ, hạn chế đồ ngọt và các loại thực phẩm chế biến sẵn.

Công Dụng Của Hạt Vải

Có tác dụng hành khí tán kết, tán hàn chỉ thống. Chủ yếu dùng chữa sán khí thống thoát vị, đau do hàn ngưng khí trệ, tinh hoàn sưng đau, đau dạ dày do Can Vị bất hòa, thống kinh và sản hậu đau bụng do Can uất khí trệ huyết ứ.

Công dụng của hạt vảiKhi nói đến dược tính của quả vải, người ta thường chỉ đề cập đến tác dụng của cùi vải, rất ít khi nói đến, hoặc nói rất sơ sài về tác dụng chữa bệnh của hạt vải. Thực ra, hạt vải là một vị thuốc có khả năng chữa nhiều chứng bệnh, nhất là những bệnh thường gặp trong cuộc sống hiện đại, như tiểu đường, sỏi mật, viêm bao tử, …Hạt vải đã được sử dụng trong dân gian từ hàng ngàn năm trước. Tính năng và tác dụng chữa bệnh của hạt vải được ghi chép đầu tiên trong sách “Bản thảo diễn nghĩa”, do danh y Khấu Tông Thích, biên soạn từ năm 1116.

Trong Đông y, hạt vải có tên “lệ chi hạch”, còn gọi là “lệ nhân”, “đại lệ hạch”, “sao lệ hạch”, “lệ chi”, … Lệ chi hạch (hạt vải) có vị cam sáp (ngọt chát) tính ôn (ấm), vô độc (không độc); quy kinh vào Can, Vị và Thận. Có tác dụng hành khí tán kết, tán hàn chỉ thống. Chủ yếu dùng chữa “sán khí thống” (thoát vị, đau) do hàn ngưng khí trệ, tinh hoàn sưng đau, đau dạ dày do Can Vị bất hòa, thống kinh và sản hậu đau bụng do Can uất khí trệ huyết ứ. Hiện nay trên lâm sàng, hạt vải thường được dùng trong các trường hợp viêm gan mạn tính (thể Can uất khí trệ hoặc Can Vị bất hòa); viêm phần phụ mạn tính, u nang buồng trứng, u xơ tử cung, tăng sinh tuyến vú, hành kinh đau bụng (thể Can khí uất trệ).

Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy: Thành phần chủ yếu của hạt vải bao gồm saponin, tanin và anpha – methylenecycyclopropyl glycine. Từ những năm 60 của thế kỷ trước, kết quả nghiên cứu trên động vật đã cho thấy, tiêm hoạt chất chiết từ hạt vải cho chuột nhắt, có tác dụng giảm đường huyết và làm cho lượng glycogen ở gan giảm rõ ràng.

Kết quả nghiên cứu lâm sàng những năm gần đây đã chứng thực: Hạt vải có tác dụng cải thiện quá trình chuyển hóa đường, phòng trị đái tháo đường và phòng ngừa các biến chứng thận ở những người tiểu đường. Cơ chế tác động đối với đường huyết của hạt vải tương tự như tác dụng của biguanide. Theo một số thông báo, thuốc chiết xuất bằng nước từ hạt vải có tác dụng ức chế rõ ràng đối với kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B. Ngoài ra, hạt vải còn có tác dụng phòng ngừa hình thành sỏi mật, chữa trị một số thể bệnh đau dạ dày, …

Về độc tính: Kết quả nghiên cứu hiện đại cũng cho thấy, độc tính cấp tính của hạt vải rất thấp. Thử nghiệm đưa thuốc vào theo đường dạ dày, với liều 20g/kg, theo dõi 3 ngày liên tục, không có trường hợp nào bị tử vong.

Như vậy, ngoài công dụng chữa các bệnh do hàn ngưng khí trệ gây nên, theo như kinh nghiệm trong Đông y truyền thống, hạt vải còn có thể sử dụng để phòng ngừa và chữa trị một số bệnh thường gặp trong xã hội hiện đại, nhất là tiểu đường.

Từ xưa trong dân gian, sau khi ăn vải, hay dùng cùi vải chế biến thực phẩm, người ta thường gom hạt lại, rửa sạch, phơi hay sấy khô, để dùng làm thuốc trong gia đình hay để bán cho các thầy lang. Tiếc rằng hiện nay trong sinh hoạt, sau khi ăn cùi vải, hạt còn lại thường bị bỏ đi.Làm như vậy trên thực tế đã bỏ phí một vị thuốc quý. Vì trong các cẩm nang về Đông dược sử dụng trên lâm sàng hiện đại, hạt vải – thứ bị bỏ phí đó, luôn luôn hiện diện và được xếp vào loại “thuốc lý khí” (“lý” = chỉnh lý, “lý khí” = chữa trị các chứng bệnh liên quan đến chức năng của “khí”), cùng với những vị thuốc quen thuộc như “hương phụ” (củ gấu), “trần bì” (vỏ quít chín để lâu ngày), “thanh bì” (vỏ quít xanh), “chỉ thực”, “mộc hương”, “ô dược”, …

Hạt vải khi dùng để chữa bệnh, nói chung không cần sao chế gì đặc biệt (gọi là dùng sống). Một số trường hợp, cần bào chế theo yêu cầu của từng loại bệnh. Thí dụ như khi chữa tinh hoàn sưng đau, âm nang sưng đỏ, phụ nữ khí trệ huyết ứ, đau bụng trước khi hành kinh hoặc đau bụng sau khi sinh con, Can khí uất trệ, đau dạ dày, … thì thường dùng sống. Còn khi chữa sán thống (thoát vị đau nhức) do hàn ngưng khí trệ ở kinh quyết âm, thường đem tẩm muối rồi nướng lên (gọi là “diên chích lệ chi hạch”), …

Một số bài thuốc có sử dụng hạt vải:

Phòng trị tiểu đường type 2:

Hạt vải thường được sử dụng hạt 2 cách.

– Cách thứ nhất: Hạt vải phơi khô, thái nhỏ, sắc lấy nước, cô lại thành cao rồi chế thành viên; mỗi viên 0,3g; uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 4-6 viên; liên tục 3 tháng (1 liệu trình).

– Cách thứ hai: Hạt vải đem sấy khô, tán mịn, cho vào lọ nút kín dùng dần; mỗi ngày uống 3 lần, trước bữa ăn nửa tiếng, mỗi lần uống 10g, liệu trình 3 tháng.

Theo những thông báo, đăng trên các tạp chí y học có uy tín ở Trung Quốc như “Trung y tạp chí”, “Bắc Kinh trung y”, “Trung thành dược”, … cả hai phương pháp trên đều mang lại kết quả mỹ mãn; tỷ lệ khỏi bệnh đạt trung bình 83%; trong quá trình điều trị hầu như không thấy phát sinh tác dụng phụ.

Chữa viêm, đau dạ dày mạn tính: Hạt vải sấy khô, tán mịn, cất vào lọ nút kín để dùng dần; ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g; chiêu bằng rượu trắng pha loãng hoặc nước ấm.

Phòng sỏi mật: Thường ngày nên uống “Quất hạch lệ hạch ẩm – Dùng hạt quít 20g, hạt vải 20g, trần bì 10g, hồng táo 2 trái, nước 3 bát, đun sôi, uống thay trà trong ngày.

Chữa tinh hoàn sưng đau: Hạt vải thiêu tồn tính, nghiền mịn; ngày uống 3 lần, mỗi lần 4-6g; chiêu thuốc bằng rượu trắng hoặc nước ấm. Hoặc dùng hạt vải, trần bì, hồi hương – 3 vị liều lượng bằng nhau; tất cả tán thành bột mịn, trộn đều; ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 4-6g, dùng rượu hoặc nước ấm chiêu thuốc.

Chữa phụ nữ thống kinh, sản hậu đau bụng: Dùng hạt vải 15g (thiêu tồn tính), hương phụ (củ gấu) 30g; 2 thứ nghiền mịn, trộn đều; ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 6g, chiêu bằng nước muối nhạt hoặc nước đun sôi.

Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2014

Hoa Vườn Nhà Phòng Trị Bệnh Hữu Dụng

Một khu vườn nho nhỏ nơi thôn quê có thật nhiều những loài cây dân dã, quen thuộc. Từ bao đời nay, những loài cây ấy không chỉ cho hoa thơm, quả ngọt mà còn cho nhiều bài thuốc quý.

Hoa cau trị hoHoa cau: cau (tên khoa học Areca catechu), còn gọi là tân lang hay binh lang, là một loài cây trong họ Cau (Arecaceae). Có vị hơi ngọt, tính mát, có tác dụng bổ tim, gan, dạ dày, trị ho, thanh nhiệt, thông khí, tán ứ trệ khí ở dạ dày… Trong hoa cau còn có vitamin A, vitamin C và có nhiều chất xơ.

Trị ho, đau tức ngực, tê đau các khớp, chướng khí ở bụng: lấy 0,5 lạng hoa cau hầm với thịt lợn để ăn.

Hoa chuối: chuối là tên gọi các loài cây thuộc chi Musa. Họ Chuối (tên khoa học: Musaceae) là một họ thực vật một lá mầm bao gồm các loài chuối và chuối lá.

Chữa sa tử cung: lấy hoa chuối tiêu (nhặt những hoa đã rụng xuống đất) sao tồn tính, tán nhỏ, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 thìa canh thứ bột đó, dùng nước sôi để chiêu thuốc. Cũng có thể dùng 60 g củ chuối tươi sắc uống làm nhiều lần mỗi ngày.

Chữa đau tim, hồi hộp, mất ngủ: 
hoa chuối 30g, tim lợn 1 quả. Hoa chuối rửa sạch, thái nhỏ; tim lợn rửa sạch bổ tư; hai thứ cho vào nồi đun trong 30 phút, sau đó bỏ bã hoa chuối, ăn tim lợn và uống nước. Công dụng: bình can giáng nghịch, ích khí an thần, trấn tĩnh.

Lợi sữa: hoa chuối hầm chân giò: móng giò:1 cái (500g); hoa chuối: 1 cái; hành khô, tỏi, me; hành, ngò rí, hạt nêm, hạt tiêu, dầu hào, bột canh, mắm, muối, mẻ.

Móng giò làm sạch,ướp hạt nêm, dầu hào, hạt tiêu. Hoa chuối bóc lớp vỏ già bên ngoài, thái mỏng theo khoanh tròn ngâm nước có vắt thêm ít chanh để hoa chuối không bị thâm hoặc ngâm hoa chuối vào nước muối pha lẫn với mẻ, cách này làm hoa chuối vừa trắng lại vừa mềm hơn khi ăn, vớt ra rửa lại với nước. Phi thơm hành và tỏi, cho móng giò vào xào qua cùng chút nước mắm, sau đó đổ lượng nước vừa ăn vào, đun sôi. Khi nước sôi thì cho me vào rồi hạ bớt lửa. Ninh móng giò cho đến khi móng giò gần nhừ thì vớt me ra dằm nát, lọc bỏ bã lấy nước me. Cho nước lọc me trở lại nồi rồi cho tiếp hoa chuối vào. Nêm thêm chút hạt nêm cho vừa miệng. Đun tiếp cho đến khi hoa chuối chín mềm thì rắc hành ngò thái nhỏ vào.

Hoa bưởi: cây bưởi có tên khoa học Citrus grandis (L.) Osbeck, thuộc họ cam (Rutaceae).

Trị ho, tiêu đờm: hoa bưởi 4g, hoa đậu một bát, nước gừng nửa thìa, đường phèn một thìa. Hoa bưởi rửa sạch cho vào nồi đun khoảng 10 phút sau đó bỏ bã lấy nước. Cho tiếp nước gừng, đường, hoa đậu vào rồi đun tiếp sau đó lấy ra ăn. Có tác dụng tiêu đờm, thông đại tiện.

Tiêu thực: hoa bưởi 12g, chưng với trà uống tiêu thực (thức ăn ứ đọng), nấc, khí trệ, hay rên rỉ và ngáp vặt.

Hoa khế: thường sử dụng cây khế chua làm thuốc. Khế chua tên khoa học Averrhoa carambolaL., thuộc họ chua me đất (Oxalidaceae).

Trị ho trẻ em: hoa đu đủ đực, hoa khế, lá tía tô mỗi thứ 10g, đường phèn 5g.

Tất cả cho vào bát sứ, cho một ít nước lọc, đun cách thủy, để sôi nhỏ lửa càng lâu càng tốt. Để nguội hoặc cho vào chai thủy tinh không cho vào chai nhựa, không để vào tủ lạnh.

Hằng ngày, cho bé uống 1/2 thìa cà phê, uống bằng cách thấm dần ở đầu lưỡi, từ ít đến nhiều. Khi cho trẻ uống thuốc, bế trẻ sao cho đầu và cổ hơi cao so với bụng để tránh sặc, trớ, nôn.

Viêm phế quản cấp tính: dùng hoa khế tươi 30g, gừng (sao) 10g, nấu với 200ml nước sôi 5 phút, để uống lúc còn ấm.

Hoa đu đủ: đu đủ còn có tên phan qua thụ, lô hong phlê (Campuchia), mắc hung (Lào), cà lào, phiên mộc. Tên khoa học: carica papaya L. Họ đu đủ papayaceae.

Viêm phế quản cấp: dùng hoa đu đủ đực phơi khô 20g, hấp với đường phèn 50g, ăn lúc còn ấm.

Chữa ho do viêm họng: hoa đu đủ đực 15g, xạ can 10g, củ mạch môn 10g, lá húng chanh 10g. Tất cả cho vào một bát nhỏ, thêm ít muối, hấp cơm rồi nghiền nát. Ngày ngậm 2 – 3 lần, nuốt nước dần dần, dùng từ 3 – 5 ngày.

Chữa ho kèm theo mất tiếng: 
hoa đu đủ đực 15g, lá hẹ 15g, hạt chanh 10g. Tất cả để tươi, nghiền nát rồi hòa với 20ml nước, thêm ít mật ong hoặc đường kính trộn đều, uống làm 3 lần trong ngày. Dùng trong 3 – 5 ngày.

Ho gà: hoa đu đủ đực 20g (sao vàng), vỏ quýt lâu năm 20g, vỏ rễ dâu 20g (tẩm mật sao lên), củ bách bộ 12g (phơi khô), phèn phi 12g. Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 3 lần. Trẻ em 1 – 5 tuổi mỗi lần uống 1- 4g; trẻ 6 – 10 tuổi mỗi lần uống 5 – 8g. Hoặc Hoa đu đủ đực, nghệ vàng mỗi thứ 15; trần bì 20g (tẩm nước gừng sao lên), vỏ rễ dâu (tẩm mật rồi sao), vỏ cây khế (sao vàng), chua me đất hoa vàng, cam thảo đất, lá chanh non mỗi thứ 30g; rau má, lá lốt mỗi thứ 40g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày. Dùng trong 5 – 7 ngày.

Hoa bí đỏ: bí đỏ còn gọi là bí ngô, bí rợ, tên khoa học là Cucurbita pepo, họ Bầu bí. Dây bí đỏ mọc lan trên mặt đất.

Trong 100g bông bí đỏ có chứa một nửa số lượng vitamin C và khoảng 40% vitamin cần thiết mỗi ngày, 5% mức tiêu thụ Fe, K, Ca và Mg, nhiều vitamin nhóm B và folat, đây là những chất rất tốt cho phụ nữ đang mang thai và giúp cho thai nhi phát triển hệ thần kinh tốt.

Đông y xem bông bí là loại dược liệu có tính mát, vị ngọt, tác dụng thanh nhiệt giải độc, làm mát cơ thể, nhuận tràng…

Hoa bí thanh nhiệt nhuận tràng nhưng hơi chát nên có tính thu sáp nhẹ. Thu sáp nên cầm mồ hôi, cố tinh.

Trợ dương: nhuyễn thể (nghêu, sò, ốc, hến) có khả năng cường dương, ăn với hoa bí để cố tinh, chống hoạt tinh. Cuốn nhuyễn thể vào trong hoa bí rồi xào nấu sẽ có một món ăn ngon lại tăng khả năng tình dục.

Giảm Đau Nhức Do Sâu Răng Với Cây Men Sứa

Theo kinh nghiệm dân gian bà con thường lấy rễ cây men sứa làm thuốc, thu hái quanh năm. Đào về, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô. Khi dùng thái miếng mỏng, để sống hoặc sao qua.

Cây men sứa giảm đau nhức do sâu răngDược liệu có vị đắng, tính mát, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, khu phong trừ thấp, sinh cơ. Lá  để làm thuốc thì chỉ dùng lá bánh tẻ để tươi hoặc phơi, sấy khô. Dược liệu có vị đắng chát, tính bình, không độc, có tác dụng thu sáp, chỉ tả, tiêu độc cầm máu.

Cây men sứa còn có tên gọi là cây chạo, lá tản, lấu đỏ, bầu giác, bồ giác,… là loại cây nhỡ hay cây gỗ nhỏ 1 – 9m, hoàn toàn nhẵn. Lá hình bầu dục thuôn, rộng nhiều hay ít, thon hẹp dài về phía gốc, nhọn mũi, màu lục hay nâu lục, có khi nâu đỏ ở mặt trên, sáng màu hơn ở dưới, dạng màng. Hoa màu trắng nhạt, phân nhánh ở ngọn. Quả hạch bầu dục, có khi gần hình cầu, mang đài hoa tồn tại, màu đỏ có 2 hạch với 5 cạnh và rãnh lưng. Hạt 1 trong mỗi ô, màu đen. Mùa ra hoa vào tháng 5 – 7.

Một số bài thuốc thường dùng

Bài 1: Chữa rối loạn tiêu hóa do ăn thức ăn sống lạnh: Rễ men sứa 15g, sắc với 250ml nước còn 100ml nước, uống làm một lần trong ngày. Dùng 3 – 5 ngày.

Bài 2: Phụ nữ băng huyết sau sinh, bạch đới: Lá men sứa để tươi 20g, lá tiết dê 16g, lá huyết dụ 16g. Tất cả rửa sạch, để ráo nước giã nát, thêm nước, gạn uống. Ngày uống 2 lần, dùng liền 3 ngày.

Bài 3: Chữa tiêu chảy (do lạnh bụng): Lá men sứa  20g, lá sim 30g , sắc với 350ml nước còn 150ml nước, uống làm một lần trong ngày. Dùng 3 – 5 ngày.

Bài 4: Chữa tiểu sẻn đỏ do nóng: Lá men sứa 16g, rễ cây ráng 12g, lá huyết dụ 12g, lá tiết dê 10g, ngũ bội tử 4g. Tất cả dùng tươi, rửa sạch, giã nát, thêm nước gạn uống, chia 2 lần uống trong ngày.

Bài 5: Hỗ trợ cắt cơn sốt rét: Lá men sứa  40g, lá na 40g, vỏ cây gòn 30g, lá thường sơn 20g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sao vàng, hạ thổ. Sắc với 550ml nước còn 200ml nước, chia 3 lần trong ngày.

Bài 6: Giảm đau nhức do sâu răng: Lá men sứa  50g sắc với 350ml nước còn 100ml nước, chia 3 uống lần uống trong ngày.

Ngoài ra, một số địa phương bà con thường lấy lá men sứa để chữa mẩn ngứa, vết thương chảy máu nhanh lành miệng. Cách dùng là lấy lá men sứa thái nhỏ, rửa sạch sắc đặc tắm hoặc rửa vết thương ngày nhiều lần.

Hạt Đậu Rồng Chữa Đau Dạ Dày

Những lợi ích cho sức khỏe con người của đậu rồng có thể thấy rất rõ. Nhưng ít người biết, đậu rồng chữa đau dạ dày cực kỳ hiệu nghiệm.

Hạt đậu rồng chữa đau dạ dàyThực ra toàn cây đều sử dụng được chứ không riêng gì quả. Lá làm rau ăn, hoa dùng trong các món bánh, rễ giống như khoai tây nhưng giàu chất dinh dưỡng hơn, hạt có mùi giống măng tây nên khi phơi khô đem rang sẽ chế biến được loại thức uống có hương vị rất ngon.

Những lợi ích cho sức khỏe con người của đậu rồng có thể thấy rất rõ vì nó có hàm lượng canxi cao nhất trong số tất cả các loại đậu, rất có lợi cho khung xương của con người, nhất là trong việc phòng chống loãng xương.

Hạt đậu rồng chữa đau dạ dày

Nếu răng bạn còn khỏe, hãy lấy hạt đậu rồng già, rang với muối cho vàng thơm hong để cháy.Sáng sớm bụng đói, nhai khoảng 10 – 12 hạt.Nếu răng yếu, thì xay nhuyễn, vẫn phải nhai 1 muổng cafe bột đó, mà nhai 20 lần rồi mới nuốt từ từ…Liên tục trong khoảng 15 buổi sáng là khỏi bệnh, nếu người bị nặng thì cần dùng trong thời gian lâu hơn.

Tác Dụng Thần Kì Của Đu Đủ

Đu đủ ăn ngọt thơm, thấm vào đến tim phổi, tươi ngon vô cùng. Đu đủ hương vị độc đáo, ăn bổ, được người Trung Quốc mệnh danh là vua quả Lĩnh Nam. Quả đu đủ chín vàng, có hình dáng đẹp, ăn tươi hoặc chế biến để dùng điều trị bệnh dạ dày đều tốt.

Công dụng thần kỳ của trái đu đủTương truyền, có một viên quan huyện triều Minh sinh hạ được ba cô con gái; mãi đến năm 42 tuổi, ông này mới có một cậu con trai, đặt tên là Đức Lâm. Cậu ấm được cả phủ quý như viên ngọc sáng. Ai ngờ Đức Lâm từ nhỏ đã gầy yếu, lắm bệnh, người như que củi, quặt quẹo luôn. Đến năm 13-14 tuổi, cậu ấm còn đi chưa vững, hay buồn nôn, kém ăn, uống nhiều thứ thuốc mà sức khỏe vẫn không khá lên được.

Mùa xuân năm ấy xảy ra chiến tranh, viên quan đánh không nổi thiên binh vạn mã của địch, chết nơi chiến trường. Cậu bé Đức Lâm theo mẹ lang bạt xuống vùng Lĩnh Nam, người mệt, bụng đói, bệnh tình ngày càng nặng hơn. Đêm đến, mẹ con tựa vào nhau ngủ thiếp đi. Về khuya, trăng lên cao, một cơn gió lạnh làm cho phu nhân tỉnh giấc. Bà thấy trên sườn đồi trước mặt có ánh vàng lấp lánh. Một ông tiên râu tóc bạc phơ cầm gậy, lúc chỉ sang phía đông, lúc chỉ sang phía tây. Mấy chục con hạc tiên tỏa ánh bạc bay lượn trên không trung, biến hóa đội hình theo cây gậy của tiên ông, nửa giờ sau thì biến mất. Phu nhân lấy làm lạ, phải căng thần linh đang thương tình mách bảo mẹ con bà?

Sáng sớm hôm sau, phu nhân cố sức cõng con trai đi về phía quả đồi. Lên đến sườn đồi, bà ngạc nhiên sững sờ khi thấy ở thung lũng mấy chục cây lạ chi chít những quả to bằng quả bầu, màu vàng óng. Một dòng suối trong chảy từ trên cao xuống, xung quanh cỏ hoa tươi tốt um tùm, mùi thơm ngào ngạt, chẳng khác nào nơi bồng lai tiên cảnh. Đang đói mệt, bà bèn đặt Đức Lâm xuống, hái lấy một quả chín vàng ăn. Hương vị ngọt thơm, lần đầu tiên trong đời được nếm làm cho phu nhân tỉnh táo hẳn. Bà đưa một miếng vào miệng con và hai mẹ con cứ thế ăn no nê. Ngày hôm sau, bà dựng lều tại đó, hết ăn tươi lại nấu chín thứ quả đó. Sau hơn 10 ngày, bệnh tình con bà đã lui hẳn. Sau vài tháng ăn đu đủ, Đức Lâm đã leo được lên núi đốn củi, giúp mẹ làm lụng, cơ thể cậu rắn chắc khỏe mạnh, cao lớn hẳn lên. Phu nhân kể lại sự việc này cho dân chúng. Một đồn mười, mười đồn trăm... Truyền thuyết trên chứng tỏ đu đủ đúng là thứ quả có giá trị, ăn ngon và chữa được nhiều bệnh.

Theo "Trung dược đại từ điển", đu đủ chứa một loại kiềm có tác dụng phòng chống ung thư và sát trùng, diệt khuẩn. Men protein trong đu đủ giúp tiêu hóa protein, chữa rối loạn tiêu hóa và viêm dạ dày mạn tính, chân gối mỏi... Nhựa đu đủ xanh làm tiêu tan các tổ chức mô bị hoại thư. Ngoài ra, lá đu đủ giã nát đắp vào mụn nhọt, vết loét có tác dụng điều trị nhất định.

Người Quảng Đông đặc biệt thích ăn món đu đủ hầm với đường phèn. Cách làm đơn giản: chỉ cần 1 quả đu đủ chín, gọt vỏ, thái miếng, đựng trong bát to, tra đường phèn, hầm cách thủy. Món này ăn rất ngon, có hương vị đặc trưng, già trẻ ăn quanh năm đều được. Việc ăn nó thường xuyên trong mùa xuân, hè có tác dụng thanh tâm, nhuận phế, giải nhiệt, giải độc. Ăn vào mùa thu, đông có tác dụng nhuận táo, ấm dạ dày, bổ tỳ vị, dưỡng gan, giảm ho, nhuận phổi, tan đờm.

Một số bài thuốc chữa bệnh bằng đu đủ:

- Viêm dạ dày: Đu đủ 30 gam, táo tây 30 gam, mía 30 gam, sắc uống.

- Tỳ vị hư nhược: Đu đủ 30 gam, củ mài 15 gam, sơn tra 6 gam, gạo nếp 100 gam, nấu cháo ăn ngày 2 lần (sáng - chiều).

- Đau lưng mỏi gối: Đu đủ 30 gam, ngưu tất 15 gam, hoàng kỳ 10 gam, đỗ tương 15 gam, câu kỳ tử 10 gam, cam thảo 3 gam, sắc uống.

- Ho do phế hư: Đu đủ 100 gam, đường phèn 20-30 gam, hầm ăn.

- Mụn nhọt: Lá đu đủ giã nát, đắp.

Trồng Cây Đậu Rồng

Cây đậu rồng ưa trồng nơi đất tốt, giàu mùn, đất thịt nhẹ hoặc đất thịt pha cát, có điều kiện tưới tiêu tốt. Là cây có nguồn gốc nhiệt đới nên nhiệt độ thích hợp để sinh trưởng và phát triển từ 18 - 30 độ C

Trồng cây đậu rồngCây đậu rồng có tên khoa học là Psophocarpus tetragonolobus. Ngoài ra, đậu rồng còn có các tên khác như: đậu khế, đậu xương rồng (vì có 4 cạnh giống như quả khế hoặc thân cây xương rồng). Đậu rồng thuộc họ đậu (Fabaceae), là loại cây dây leo nên cần làm giàn mới ra nhiều hoa, cho nhiều quả. Nếu chăm sóc tốt, đậu rồng sinh trưởng và cho quả liên tục hầu như quanh năm. Quả đậu rồng thường dài 7 - 10 cm, có 4 cạnh, trên cạnh có răng cưa, thắt lại ở 2 đầu quả. Thường thu hái non để làm rau ăn dưới dạng các món xào rất có giá trị. Kết quả phân tích của các nhà dinh dưỡng thì trong hạt đậu rồng có 30 - 37% prôtit, 28 - 31% gluxit; trong quả non có từ 1,9 - 2,9% prôtit, 3,1 - 3,9% gluxit. Hạt đậu rồng màu nâu, hình trái xoan hoặc dẹt 2 đầu có nhiều chất dinh dưỡng rất tốt cho con người, đặc biệt là trẻ em và người già như các axit amin (lysin, menthionin, cystin), canxi…do đó có thể sử dụng hạt đậu rồng để làm nguyên liệu chế biến bột dinh dưỡng, có thể thay thế sữa mẹ để điều trị bệnh suy dinh dưỡng trẻ em. Lá đậu rồng cũng có thể sử dụng làm thức ăn chăn nuôi gia súc rất tốt vì giàu đạm và chất dinh dưỡng.

Cây đậu rồng ưa trồng nơi đất tốt, giàu mùn, đất thịt nhẹ hoặc đất thịt pha cát, có điều kiện tưới tiêu tốt. Là cây có nguồn gốc nhiệt đới nên nhiệt độ thích hợp để sinh trưởng và phát triển từ 18 - 30°C.

Hiện nay nhiều nơi đã trồng đậu rồng quanh nhà, trước sân vừa làm giàn che bóng mát cho mảnh sân vừa lấy rau ăn hàng ngày. Những nơi trồng nhiều đậu rồng thành hàng hóa tập trung để cung cấp rau sạch cho bà con phố phường như ở các vùng ven đô Nha Trang, Qui Nhơn, Bình Định, Củ Chi… đem lại lợi nhuận lớn.

Cây đậu rồng dễ trồng, dễ chăm sóc, hầu như rất ít sâu bệnh nên không phải phun thuốc trừ sâu, chi phí đầu tư ít mà giá trị dinh dưỡng lại cao. Nếu chỉ làm rau ăn thì mỗi nhà chỉ cần trồng vài 3 gốc quanh sân vừa làm giàn che bóng mát vừa lấy rau ăn quanh năm.

Đậu rồng gieo bằng hạt sau khi đã cuốc lật kỹ đất, xới cho tơi xốp, bón nhiều phân hữu cơ và một ít Supe lân. Tháng 8, tháng 9 gieo hạt sau khi đã ngâm ủ cho hạt nứt nanh. Chỉ khoảng 1 tuần đến 10 ngày là cây bắt đầu leo giàn. Nếu là trồng trước sân thì làm giàn cao 2,5 - 3 m, có thể dùng các cây tre, cây hóp bắc giàn hoặc dùng dây thép để căng giàn. Nếu trồng thành hàng hóa ngoài đồng thì trồng theo luống rộng 1 - 1,2 m, trên trồng 2 hàng và bắc giàn chữ A như giàn dưa leo, giàn đậu đũa. Thường xuyên pha nước phân chuồng đã ngâm ủ hoai mục trộn với 5% đạm Urê để tưới. Khi cây bắt đầu ra hoa, đậu quả cần bón thêm Kali thì quả mới chắc, hạt mới giàu dinh dưỡng, chất lượng mới tốt. Sau mỗi lứa thu hái lại bón phân và tưới nước, vun xới cho cây bền gốc, ra nhiều hoa, đậu nhiều trái.

Thu quả khi quả đã đầy cạnh, màu xanh sáng, hạt còn non để xào hoặc nấu canh. Đậu rồng xào với thịt heo hoặc thịt bò vừa bổ, vừa ngon.